Một số yếu tố chi phối và đặc tính của đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử

16:30 | 24/04/2023
Xét trong lịch sử sinh tồn và phát triển của các quốc gia - dân tộc cũng như trong phần lớn lịch sử loài người, trí thức đều có vai trò rất quan trọng. Đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử được quy định và chi phối bởi 4 yếu tố: có bệ đỡ là nông nghiệp - nông thôn - nông dân, nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền theo mô hình trọng dụng nhân tài, cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chỉ số cao của di động xã hội theo chiều dọc. Bốn yếu tố này đã quy định nên những đặc điểm chính (cả ưu điểm

Xét trong lịch sử sinh tồn và phát triển của các quốc gia - dân tộc cũng như trong phần lớn lịch sử loài người, trí thức đều có vai trò rất quan trọng. Đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử được quy định và chi phối bởi 4 yếu tố: có bệ đỡ là nông nghiệp - nông thôn - nông dân, nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền theo mô hình trọng dụng nhân tài, cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chỉ số cao của di động xã hội theo chiều dọc. Bốn yếu tố này đã quy định nên những đặc điểm chính (cả ưu điểm và nhược điểm) của đội ngũ trí thức Việt Nam và định vị vai trò, vị thế lịch sử của đội ngũ này. Nhận diện những yếu tố nêu trên và đặc biệt là hiểu rõ những đặc điểm của đội ngũ trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống chính là rút ra những bài học cho chính sách phát triển đội ngũ trí thức hiện nay.

Một số yếu tố chi phối và đặc tính của đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử

Hội nghị toàn quốc “Đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng’’

1. Các yếu tố quy định, chi phối đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử

1.1. Có bệ đỡ là nông nghiệp - nông thôn - nông dân

Trí thức Việt Nam, dù là trí thức Phật học, trí thức Nho học hay sau này là trí thức Tây học đều sinh ra và phát triển trong lòng một quốc gia - dân tộc mà nền tảng, bệ đỡ là nông nghiệp - nông thôn - nông dân. Trong thời tiền cận đại, tất cả các quốc gia và các xã hội trên thế giới đều là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp. Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh ở đây là nền nông nghiệp Việt Nam (và nông nghiệp ở các khu vực Đông Á và Đông Nam Á) cơ bản là nền nông nghiệp lúa nước, tương ứng với nó chính là xã hội và mô hình tổ chức nhà nước “thủy tính” (hydrolic states) như Karl August Wittfogel đã từng khái quát [1]. Xã hội, quốc gia dựa trên nền tảng nông nghiệp lúa nước như vậy luôn hướng tới sự ổn định, hài hòa, không khuyến khích, không có nhu cầu đối với sự thay đổi, nhất là những thay đổi lớn, có tính cấu trúc và thực tế cũng không có những sự thay đổi như vậy. Hai nhà trí thức Việt Nam thời cận đại đã nhận xét khá xác đáng như sau: “Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần (…). Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định. Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống trong không gian” [2].

Một nền kinh tế “dĩ nông vi bản” và nền nông nghiệp lúa nước lại được tổ chức theo kiểu công xã, được bảo hộ bởi nhà nước quân chủ, thì khả năng tạo ra của cải thặng dư và tích lũy của cải thặng dư rất thấp. Không có của cải thặng dư thì không thể có một đội ngũ trí thức chuyên nghiệp, chỉ chuyên tâm vào lao động trí óc - lao động sáng tạo. Và do đó, mức độ sáng tạo, tầm vóc sáng tạo của đội ngũ trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống là rất thấp - thấp vì xã hội không đặt ra nhu cầu cao, cấp bách đối với sự sáng tạo, vì xã hội không cần thay đổi. Vì xã hội không thay đổi, suốt cả nghìn năm tự giam hãm trong khuôn khổ của nền nông nghiệp lúa nước nên không thể tạo điều kiện cho sự thay đổi đáng kể nào về khoa học, kỹ thuật. Đây là yếu tố nền tảng nhất, quy định sự phát triển cũng như những đặc trưng khác của đội ngũ trí thức Việt Nam trong xã hội truyền thống và cả trong thời kỳ cận đại.

1.2. Nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền theo mô hình trọng dụng nhân tài

Trên thế giới, thường thì dưới các chế độ chuyên chế, nhân tài, trí thức rất hiếm khi được trọng dụng, bởi ở đó người cầm quyền có xu hướng cai trị bằng bạo lực, dùng vũ lực để áp đặt ý chí của mình cho toàn xã hội, bất chấp luật pháp và sự đồng thuận của dân chúng. Trái lại, ở phương Đông, nhất là ở Việt Nam, nhà nước quân chủ chuyên chế luôn phải dựa vào sự đồng thuận và ủng hộ của dân chúng để cai trị giang sơn.

Một số yếu tố chi phối và đặc tính của đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử

Văn miếu Quốc tử giám - Biểu tượng của truyền thống trọng dụng nhân tài của các bậc minh quân thời phong kiến.

Trong mỗi triều đại quân chủ, để tập trung quyền lực vào tay nhà vua và hoàng tộc, nhà vua một mặt không chia sẻ thực quyền với các thành viên khác trong hoàng tộc (để tránh bị tranh giành ngôi báu), nhưng mặt khác lại muốn tạo ra một đội ngũ quan cai trị chuyên nghiệp, thế tục mà không thế tập, giúp vua cai trị, lãnh đạo đất nước. Đó chính là đội ngũ nhân tài, trí thức được đào tạo và tuyển chọn một cách rất bài bản, kỹ lưỡng. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” là vì vậy, vừa giúp vua trị nước, vừa giúp vua an dân, tức là mang lại cuộc sống bình an, no ấm cho dân, để dân ủng hộ và đồng thuận với triều đình. Cho nên, sứ mệnh hàng đầu của đội ngũ trí thức Việt Nam là phò vua, giúp nước. Do đó, đối tượng của hoạt động “lao động trí óc” của họ là nghiên cứu mối quan hệ xã hội, giữa người với người, để “tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”, chứ không phải là nghiên cứu để phát triển khoa học, kỹ thuật để phục vụ sản xuất và tạo ra những biến đổi lớn lao về kinh tế, xã hội.

1.3. Cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Bất kỳ ai nghiên cứu lịch sử Việt Nam đều thừa nhận rằng, chống giặc ngoại xâm là một trong những nội dung chính của đời sống dân tộc Việt Nam, xuyên suốt chiều dài lịch sử. Vì vậy, một trong những yêu cầu thường trực, to lớn luôn đặt ra cấp bách đối với toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung, nhưng trước hết là đối với đội ngũ trí thức, nhân tài là tìm tòi, sáng tạo và thực thi tất cả những phương sách để bảo vệ sự tồn tại độc lập, tự chủ của quốc gia - dân tộc. Trước hết là phương thức cầm quân, chỉ huy chiến trận trong các cuộc kháng chiến hoặc khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng dân tộc. Bên cạnh đó là những phương sách quy tụ nhân tâm, “mưu phạt công tâm” để đoàn kết dân tộc, đồng thời để làm nhụt chí, làm thất bại các âm mưu của kẻ thù. Đây chính là nguyên nhân sâu xa, cũng là nguyên nhân chính khiến cho phần lớn những nhân tài, trí thức xuất sắc nhất trong lịch sử Việt Nam truyền thống đều là các nhân tài xuất hiện trong các lĩnh vực quân sự, chính trị và ngoại giao.

1.4. Chỉ số cao của di động xã hội theo chiều dọc

Có một sự khác biệt rất căn bản giữa lịch sử xã hội Việt Nam trong so sánh với lịch sử xã hội các nước phương Tây, Ấn Độ và một số nước khác là: trong xã hội Việt Nam, sự phân tầng, phân chia giai cấp là rất tương đối, không triệt để, tuy rằng sự phân hóa giàu nghèo, phân chia đẳng cấp và phân biệt thân phận (sang/hèn; tôn chủ/thần thuộc) là có tồn tại. Trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống cũng như trong xã hội hiện đại, vì vậy, có thể xuất thân từ tất cả các tầng lớp trong xã hội, cho dù đó là trí thức Phật học, Nho học hay Tây học sau này. Vì vậy, họ không gắn bó riêng với một giai cấp hay giai tầng nào, trái lại họ tiêu biểu cho cơ hội thăng tiến xã hội, cho “di động xã hội theo chiều dọc” của toàn thể xã hội Việt Nam truyền thống.

2. Một số đặc tính của đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử

Bốn yếu tố nói trên quy định nên những đặc điểm chính (cả ưu điểm và nhược điểm) của đội ngũ trí thức Việt Nam và định vị vai trò, vị thế lịch sử của đội ngũ này.

2.1. Yêu nước

Yêu nước chính là đặc điểm bao trùm của các thế hệ trí thức Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tuy nhiên, yêu nước lại là một phạm trù rất không chặt chẽ về nội hàm. Yêu nước trong quan niệm của Phật giáo gắn liền với quan niệm từ bi, hỉ xả, vị tha, nhân ái, khoan hòa, khuyến thiện, trừng ác. Còn khi gắn với Nho giáo, thì yêu nước lại gắn bó với các phạm trù “trung quân” (trung quân ái quốc) và nhân nghĩa (việc nhân nghĩa cốt ở yên dân). Đến thời cận đại, yêu nước lại gắn với chủ nghĩa dân tộc (dân tộc độc lập), với tinh thần quốc gia, với yêu tự do, dân chủ. Nhưng dù khác biệt đến đâu thì yêu nước cũng gắn với ý chí, tinh thần tự tôn dân tộc, với ý thức về độc lập dân tộc, đoàn kết dân tộc, thống nhất đất nước.

Quảng cáo

Một số yếu tố chi phối và đặc tính của đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các nhân sỹ, trí thức yêu nước năm 1946.

Yêu nước, đối với dân tộc Việt Nam và trí thức Việt Nam luôn luôn được nhận thức là giá trị gốc, cốt lõi, tích cực của con người, quốc gia, dân tộc Việt Nam, nhưng không phải không có những mặt trái, hạn chế, khi nó gắn với những tôn giáo, học thuyết và ở trong những thời đại lịch sử cụ thể. Vì vậy, chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam và ở nhiều nơi khác trên thế giới cũng vậy, bao giờ cũng tiềm ẩn những nguy cơ phát sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa địa phương cục bộ và những kỳ thị tôn giáo hoặc kỳ thị xã hội. Người ta có thể yêu nước theo những quan niệm và cách thức khác nhau, nhưng điều căn cốt nhất là không được làm tổn hại đến chủ quyền, danh dự, sự thống nhất dân tộc và không được trái với lợi ích của quốc gia.

2.2. Có tinh thần trách nhiệm cao đối với nước, với dân

Người trí thức xưa thường tự dặn dò nhau “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, nghĩa là đối với sự hưng thịnh hay suy vong của đất nước thì ngay cả những kẻ “thất phu” cũng có phần trách nhiệm, huống hồ là những bậc trượng phu, quân tử. Trí thức Phật giáo thì tự dặn mình: tu luyện là để cứu đời, giúp người, phổ độ chúng sinh, chứ đâu phải chỉ để cầu mong sự giải thoát cho riêng mình. Cho nên, Phật giáo và trí thức Phật giáo Việt Nam, dù theo tông phái nào, cũng đều là Phật giáo nhập thế. Trí thức Nho học phần lớn cũng là trí thức dấn thân, “dùi mài kinh sử” không phải chỉ mong “sáng đạo Thánh hiền” mà “tu thân, tề gia”, là để “trị quốc, bình thiên hạ”, phò vua, giúp nước, an dân. Những kẻ sỹ “giá áo, túi cơm”, “mũ ni che tai” hay “sinh đồ ba quan”, “dài lưng tốn vải” không phải không có, nhưng là những kẻ đời nào cũng bị lên án. Đến thời cận đại, các lớp trí thức Tây học cũng đều là những lớp trí thức dấn thân. Họ chính là những người dấn thân tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo những cách khác nhau. Họ cũng dấn thân để tìm tòi, khám phá những tư tưởng mới, văn chương, nghệ thuật mới, dấn thân vào vận động người dân học chữ quốc ngữ, bài trừ hủ tục, hướng từng bước tới cuộc vận động giải phóng con người, giải phóng xã hội. Những kẻ rắp tâm làm tay sai cho giặc, vong bản, lạc loài cũng bị phê phán, đả kích bằng nhiều hình thức khác nhau.

2.3. Không có “trí thức chuyên nghiệp”

Trí thức chuyên nghiệp là những cá nhân hay nhóm trí thức dành toàn bộ thời gian, trí tuệ, sức lực vào “lao động trí óc”, tìm tòi, sáng tạo, không làm hay không theo đuổi bất cứ nghề nghiệp nào khác. Xét trong lịch sử Việt Nam, phần lớn trí thức kiêm nhiệm thêm vai trò của tu sĩ, quan lại hoặc đồng thời phải làm những nghề nghiệp khác để kiếm sống hoặc làm giàu. Chỉ có rất ít người hoặc làm “môn hạ” của những nhà giàu, nhà quyền quý, hoặc là những Nho sinh, những ông đồ dạy Nho học, hoặc những hưu quan khi đã trí sĩ về quê. Những người này có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu, sáng tác, dạy học, nhưng cũng chỉ trong một khoảng thời gian nào đó trong cuộc đời, hoặc cũng chỉ nhằm hướng tới giải thoát chính họ khỏi vai trò “trí thức chuyên nghiệp” đó, để rồi lại được tham chính hoặc kiêm giữ những vai trò khác.

2.4. Thành tựu sáng tạo tri thức còn khiêm tốn, hầu như không có thành tựu to lớn nào được ghi nhận

Ngoài một vài bộ sử kí, địa chí của Lê Văn Hưu, Nguyễn Trãi, Ngô Sỹ Liên, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú..., thì sản phẩm “sáng tạo” của đội ngũ trí thức Việt Nam chủ yếu và đồ sộ nhất là hàng vạn bài thơ, chủ yếu là thơ thế sự và thơ ngâm vịnh. Đến thời cận đại đã bắt đầu xuất hiện một số công trình khoa học có giá trị, nhưng cũng chỉ ở tầm mức ảnh hưởng học thuật khá hạn hẹp, như các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Huyên, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn... Đáng chú ý là trong thời kỳ này đã xuất hiện những sản phẩm hội họa ghi được dấu ấn trên trường quốc tế, như các tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái... Họ chính là những “trí thức chuyên nghiệp” hiếm hoi trong lịch sử Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

2.5. Mất cân đối nghiêm trọng về cấu trúc

Tuyệt đại đa số trí thức đều tập trung vào các lĩnh vực thuộc đạo học và một số ngành có thể gọi là “khoa học xã hội và nhân văn”, như sử kí, văn chương, địa dư, tư tưởng, trong khi hầu như không có trí thức khoa học tự nhiên và công nghệ. Mối quan tâm lớn nhất của đội ngũ trí thức Việt Nam thời tiền cận đại là mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với thần linh chứ không phải là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Mọi sự tập trung tìm tòi của họ là làm sao xây dựng được xã hội hài hòa, ổn định chứ không phải là làm sao để thay đổi nó, làm cho nó vận động và phát triển. Vì vậy, đội ngũ trí thức Việt Nam đã tự cầm tù mình trong sự lạc hậu nghiêm trọng trong nhận thức về thế giới, về giới tự nhiên. Do vậy mà họ tự hài lòng với sự giải thích một cách thần bí về các mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và các quan hệ của giới tự nhiên.

Sang đến thời cận đại, với sự xuất hiện của đội ngũ trí thức Tây học, tình hình trên đã được cải thiện ít nhiều. Bên cạnh đội ngũ trí thức thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn các trí thức thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, kỹ nghệ và cả nghệ thuật, mỹ thuật... Tuy nhiên, nền giáo dục và khoa học - kỹ thuật còn lạc hậu lại bị nô dịch bởi chế độ thực dân cũng không cho phép đội ngũ trí thức Việt Nam vươn lên, phát triển lành mạnh như ở các nước phương Tây.

2.6. Nặng tính hướng thượng, thiếu tinh thần phê phán, phản biện xã hội

Trở thành trí thức, tham gia khoa cử là con đường thăng tiến xã hội chủ đạo nhất trong xã hội Việt Nam truyền thống. Đấy cũng là con đường thuận lợi nhất để đội ngũ trí thức Việt Nam trong truyền thống tham dự vào quá trình chính trị và đem tài năng, đức hạnh của mình đóng góp cho nước, cho dân. “Tiến vi quan, thoái vi sư” - đó chính là phương châm “xuất xử” (tiến - lui) của đội ngũ trí thức Nho học, cũng là lựa chọn chung cho các thế hệ trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống. “Chúa thánh - tôi hiền” là lý tưởng chung của nhà nước quân chủ cũng như của đội ngũ trí thức Việt Nam. Cho nên, xu hướng “hướng thượng”, “phò chính thống” luôn luôn là xu hướng chính.

Chỉ trong những tình huống cụ thể, gặp phải vua chúa bạo ngược, hoặc khi triều đình bị gian thần lộng hành, khống chế thì những trí thức, kẻ sỹ can trường, trung thực, sau khi khẳng khái can vua, nếu không thành thì đành “treo ấn, treo mũ từ quan” lui về ở ẩn. Đó là trường hợp như Chu An, Trương Đỗ thời Trần hay Nguyễn Trãi triều Lê Sơ.

Tuy nhiên, những trường hợp khẳng khái, can trường dám can ngăn vua, thể hiện bản lĩnh ở chốn quan trường thực là rất hiếm hoi. Sử gia Ngô Sỹ Liên đã bình luận về thực tế này như sau: “Những nhà Nho nước Việt ta được dùng ở đời không phải không nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì chuyên lo về phú quý, kẻ lại a dua với đời, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ thân, chưa có ai chịu để tâm đến đạo đức, suy nghĩ tới việc giúp vua nêu đức tốt, cho dân được nhờ ơn” [3] Lời bàn của Ngô Sỹ Liên được ghi trong chính sử của triều Lê Sơ hẳn phải là lời nghiêm cẩn. Dẫu ông chỉ nói đến giới trí thức Nho quan, nhưng chắc cũng nghiệm đúng cho toàn bộ quan giới Việt Nam ta thuở trước. Trong thời cận đại, trong khi chúng ta ghi nhận có hàng trăm, hàng nghìn trí thức Tây học, tiêu biểu như Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Trần Huy Liệu, Trần Phú, Hà Huy Tập, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh… dũng cảm dấn thân cứu nước, giải phóng dân tộc thì cũng phải thừa nhận rằng bộ phận lớn hơn trong đội ngũ đó là những phần tử hợp tác với chính quyền thuộc địa, hoặc là những kẻ “mũ ni che tai”, “để tâm hồn treo ngược ở cành cây” cho tới trước khi họ được thức tỉnh và gia nhập vào dòng thác tranh đấu của nhân dân.

Thái độ thụ động, tinh thần phản biện yếu cũng thể hiện năng lực phê phán, phản biện của đội ngũ trí thức Việt Nam truyền thống không cao. Điều này là do tảng nền trí thức thiếu hụt, thiếu tính khoa học và thiếu tính thực tiễn. Dẫu sao, đội ngũ trí thức vẫn được coi là bộ phận tinh túy, ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, “sĩ” là những người đứng đầu tứ dân (sĩ, nông, công, thương), họ tiêu biểu cho những gì là tinh hoa, cốt cách của dân tộc và ngay cả những hạn chế, yếu kém của đội ngũ này cũng phản ánh tập trung nhất những khiếm khuyết, hạn chế của dân tộc Việt Nam.

Có thể khẳng định, nhận diện những yếu tố quy định, chi phối và đặc biệt là hiểu rõ những đặc điểm của đội ngũ trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống chính là rút ra những bài học cho chính sách phát triển đội ngũ trí thức hiện nay, bởi lẽ những yếu tố nói trên và những đặc điểm đó vẫn còn tác động, chi phối đối với đội ngũ trí thức Việt Nam hiện đại.

Tài liệu tham khảo

[1] Wittfogel, Karl August (1957), Oriental Despotism: a Comparative Study of Total Power, Yale University Press.

[2] Hoài Thanh, Hoài Chân (2015), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, tr10.

[3] Đại Việt sử ký toàn thư (1998), tập II, NXB Khoa học Xã hội, tr.152.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Ba chương trình đào tạo bằng tiếng Anh tại Trường Cơ khí - Ô tô, HaUI: Lợi thế cho kỹ sư thời đại công nghệ cao

Ba chương trình đào tạo bằng tiếng Anh tại Trường Cơ khí - Ô tô, HaUI: Lợi thế cho kỹ sư thời đại công nghệ cao

TCGCVN - Trước làn sóng phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, xe điện và robot công nghiệp, yêu cầu đối với nguồn nhân lực kỹ thuật đang thay đổi nhanh chóng. Bên cạnh nền tảng chuyên môn vững chắc, khả năng sử dụng tiếng Anh để tiếp cận tri thức, công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế đã trở thành lợi thế cạnh tranh của kỹ sư trong kỷ nguyên số. Đón đầu xu thế đó, Trường Cơ khí - Ô tô, Đại học Công nghiệp Hà Nội triển khai ba chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, góp phần đào tạo đội ngũ kỹ sư có nă

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.