TS. Trần Long
Học viện Biên phòng
Email: [email protected]
Tóm tắt: Những năm qua, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) triển khai nhiều mô hình, chương trình thiết thực, góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng nông thôn mới và củng cố quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới. Nhiều mô hình, chương trình có tính thiết thực, sức lan tỏa, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Bài viết phân tích những kết quả chủ yếu, chỉ ra một số hạn chế và đề xuất năm giải pháp nhằm phát huy hiệu quả các mô hình, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của BĐBP ở khu vực biên giới hiện nay. Qua đó, góp phần xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Từ khóa: Mô hình, chương trình; phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh; Bộ đội Biên phòng; khu vực biên giới.
1. Mở đầu
Biên giới quốc gia là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, đồng thời là không gian sinh tồn, lao động và gắn bó lâu đời của hàng triệu người dân. Vì vậy, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh phải gắn chặt với chăm lo đời sống, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng niềm tin của nhân dân. Với phương châm “ba bám, bốn cùng”, BĐBP đã chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai nhiều mô hình, chương trình thiết thực, hướng vào những vấn đề cụ thể của đời sống nhân dân như giáo dục, y tế, giảm nghèo, hỗ trợ sinh kế, nhà ở, xây dựng nông thôn mới, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và tham gia xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh. Qua thực tiễn, nhiều mô hình, chương trình đã tạo được sức lan tỏa, huy động nguồn lực xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và củng cố mối quan hệ đoàn kết quân - dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hiệu quả của các mô hình, chương trình chưa đồng đều; một số hoạt động còn thiên về hỗ trợ trước mắt, tính bền vững và khả năng nhân rộng chưa cao; việc ứng dụng chuyển đổi số, đánh giá tác động và quản lý nguồn lực còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy hiệu quả các mô hình, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của BĐBP có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thực trạng phát huy hiệu quả các mô hình, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của Bộ đội Biên phòng ở khu vực biên giới hiện nay
Trong hơn một thập niên qua, công tác tham gia xây dựng khu vực biên giới của BĐBP có bước phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Nếu trước đây nhiều hoạt động chủ yếu tập trung vào tuyên truyền, vận động quần chúng, giúp dân khắc phục khó khăn trong những thời điểm nhất định, thì hiện nay phương thức hoạt động đã từng bước chuyển sang hướng chủ động hỗ trợ giải quyết những vấn đề phát triển lâu dài của cộng đồng dân cư biên giới. Giai đoạn 2015 - 2025 có thể xem là giai đoạn phát triển mạnh của phương thức “mô hình hóa” công tác vận động quần chúng và tham gia xây dựng địa bàn của BĐBP. Các mô hình, chương trình được triển khai trên nhiều lĩnh vực, từ giáo dục, y tế, an sinh xã hội, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới đến hỗ trợ sinh kế, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và tăng cường quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới. Năm 2026, BĐBP tiếp tục công bố mô hình “Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới”, cho thấy nội dung tham gia xây dựng địa bàn tiếp tục được mở rộng, thích ứng với yêu cầu phát triển mới. Có thể khái quát một số kết quả chủ yếu như sau:
Một là, các mô hình, chương trình cơ bản bám sát nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thực tiễn của nhân dân khu vực biên giới.
Các mô hình, chương trình của BĐBP cơ bản xuất phát từ những vấn đề thực tiễn của địa bàn, hướng vào những nhóm đối tượng cụ thể và giải quyết những nhu cầu thiết yếu của người dân. Từ học sinh có nguy cơ bỏ học, hộ nghèo thiếu sinh kế, gia đình chưa có nhà ở kiên cố, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, người dân chưa được tiếp cận đầy đủ dịch vụ y tế đến cộng đồng dân cư còn hạn chế về điều kiện tiếp cận công nghệ số, BĐBP đã nghiên cứu, lựa chọn những hình thức hỗ trợ tương đối phù hợp.
Điều này tạo nên sự khác biệt quan trọng của các mô hình, chương trình BĐBP so với những hoạt động hỗ trợ mang tính thời điểm. Cán bộ, chiến sĩ BĐBP thường xuyên bám địa bàn, nắm từng hộ, từng người, hiểu hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình nên có điều kiện phát hiện đúng vấn đề, lựa chọn đúng đối tượng và theo dõi kết quả sau hỗ trợ. Trong giai đoạn 2015 - 2025, có 9.661 đảng viên đồn Biên phòng được phân công phụ trách 42.247 hộ gia đình ở khu vực biên giới; qua đó góp phần hỗ trợ người dân phát triển kinh tế hộ gia đình, giảm nghèo và nâng cao đời sống. Các đơn vị BĐBP đã phối hợp, hỗ trợ thực hiện một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại 189 xã, trong đó 71 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Những kết quả trên cho thấy các mô hình, chương trình của BĐBP không chỉ dừng ở việc “trao tặng” mà đã chuyển dần sang “đồng hành”, trong đó cán bộ, chiến sĩ tham gia cùng người dân giải quyết những khó khăn ngay tại cơ sở, từng bước tạo điều kiện để người dân phát huy nội lực và chủ động vươn lên.
Hai là, các mô hình, chương trình góp phần thiết thực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực biên giới.
Một trong những giá trị nổi bật của các mô hình, chương trình BĐBP là hướng trực tiếp vào con người và những nhu cầu thiết yếu của đời sống. Đối với địa bàn mà điều kiện phát triển còn không đồng đều, việc giúp một hộ dân có thêm sinh kế, một gia đình có căn nhà an toàn, một em nhỏ được tiếp tục đến trường hay một người dân được khám, chữa bệnh không chỉ có ý nghĩa về vật chất mà còn tạo ra những giá trị xã hội và tinh thần lâu dài.
Tiêu biểu là Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”. Chương trình được BĐBP triển khai từ năm 2016, tập trung giúp học sinh mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn, con gia đình chính sách và học sinh dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới. Theo tổng kết giai đoạn 2015 - 2025, mỗi năm BĐBP nhận đỡ đầu gần 3.000 học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trong đó gần 200 em là học sinh Lào và Campuchia; mức hỗ trợ phổ biến là 500.000 đồng/học sinh/tháng cho đến khi học hết lớp 12; đồng thời nhận nuôi hơn 300 em tại các đồn Biên phòng. Tổng kinh phí cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng đóng góp thực hiện chương trình gần 184 tỷ đồng.
Đằng sau những con số đó là một cách tiếp cận phát triển con người có chiều sâu. Cán bộ, chiến sĩ không chỉ hỗ trợ tiền, sách vở hay đồ dùng học tập mà còn trực tiếp kèm cặp, động viên, hướng dẫn các em học tập, rèn luyện, hình thành ý thức trách nhiệm với gia đình, quê hương và đất nước. Vì vậy, giá trị của chương trình không chỉ nằm ở việc duy trì số lượng học sinh đến trường mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ, tạo niềm tin và vun đắp tình cảm gắn bó giữa thế hệ trẻ với quê hương biên giới.
Ba là, các mô hình, chương trình ngày càng gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng nền biên phòng toàn dân.
Một điểm nổi bật trong quá trình triển khai các mô hình, chương trình của BĐBP là không tách rời nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, chăm lo giáo dục, y tế, xây dựng đời sống văn hóa, củng cố hệ thống chính trị cơ sở đều góp phần xây dựng địa bàn biên giới ổn định, nhân dân tin tưởng, tích cực tham gia giữ gìn an ninh, trật tự và quản lý, bảo vệ biên giới.
Trong giai đoạn 2015 - 2025, BĐBP đã tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở bằng nhiều hình thức. Đến năm 2026, toàn lực lượng có 10 cán bộ tham gia cấp ủy cấp tỉnh, thành phố; 435 cán bộ tham gia cấp ủy cấp xã; 2.626 đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt tại 2.375 chi bộ thôn, bản biên giới; 9 cán bộ chuyển giữ các chức danh chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã biên giới.
Việc cán bộ, đảng viên BĐBP trực tiếp tham gia đời sống chính trị ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng. Họ không chỉ tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối mà còn cùng cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết những vấn đề cụ thể; đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân đến cấp có thẩm quyền. Qua đó, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương, chính sách với đời sống thực tiễn.
Từ góc độ quốc phòng, an ninh, hiệu quả của các mô hình, chương trình còn thể hiện ở việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ biên giới. Khi người dân nhận thức rõ lợi ích của một địa bàn ổn định, an toàn, biên giới hòa bình, hữu nghị, họ sẽ tích cực tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ đường biên, mốc giới. Như vậy, người dân từng bước chuyển từ vị trí “đối tượng được hỗ trợ” sang “chủ thể tham gia” xây dựng và bảo vệ địa bàn.
Bốn là, các mô hình, chương trình đã tạo được cơ chế huy động và kết nối nguồn lực xã hội tham gia xây dựng khu vực biên giới.
Một mô hình, chương trình muốn duy trì lâu dài không thể chỉ dựa vào nguồn lực của BĐBP. Thực tiễn cho thấy nhiều mô hình đã trở thành cầu nối giữa BĐBP với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, nhà trường, cơ sở y tế, các nhà hảo tâm và nhân dân.
Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” là một ví dụ tiêu biểu. Năm 2025, chương trình được tổ chức ở cả ba cấp: Bộ Tư lệnh BĐBP, Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh, thành phố và đồn Biên phòng. Nội dung không chỉ có tặng quà mà còn kết hợp khám, chữa bệnh, cấp thuốc, hỗ trợ sinh kế, tặng học bổng, tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao, gian hàng “0 đồng” và giao lưu với nhân dân. Qua đó, BĐBP đã phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, cầu nối, tạo điều kiện để các nguồn lực xã hội cùng hướng về những địa bàn khó khăn.
Việc huy động nguồn lực xã hội không chỉ góp phần tăng thêm nguồn lực vật chất cho các mô hình, chương trình mà còn mở rộng chủ thể tham gia xây dựng khu vực biên giới, tạo sự gắn kết giữa quân đội, chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và nhân dân trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.
Năm là, nội dung và phương thức triển khai các mô hình, chương trình từng bước đổi mới, thích ứng với yêu cầu phát triển mới.
Điểm đáng chú ý trong giai đoạn gần đây là sự xuất hiện của các mô hình gắn với chuyển đổi số. Tháng 4/2026, Bộ Tư lệnh BĐBP công bố mô hình “Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới”. Mô hình được triển khai nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho nhân dân, hỗ trợ sử dụng điện thoại thông minh, dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, học tập trên nền tảng số, thương mại điện tử và nhận diện thông tin xấu độc trên không gian mạng. Mỗi đồn Biên phòng thành lập tổ “Đồng hành chuyển đổi số” từ 3 đến 5 cán bộ, chiến sĩ để trực tiếp xuống cơ sở hướng dẫn nhân dân.
Đây là bước phát triển mới của phương thức tham gia xây dựng địa bàn. Nếu trước đây BĐBP giúp người dân tiếp cận giống cây, giống con, sách vở, thuốc chữa bệnh thì hiện nay có thêm nhiệm vụ hỗ trợ người dân tiếp cận tri thức số, dịch vụ số và thị trường số. Phương thức “gần dân, sát dân” truyền thống tiếp tục được kế thừa nhưng được bổ sung nội dung mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy hiệu quả các mô hình, chương trình của BĐBP vẫn còn một số hạn chế cần quan tâm như: Hiệu quả giữa các mô hình, chương trình chưa đồng đều; một số mô hình còn thiên về hỗ trợ trước mắt, chưa chuyển mạnh sang tạo năng lực tự chủ cho người dân. Việc đánh giá hiệu quả chưa thật sự thống nhất, chủ yếu còn chú trọng số lượng hoạt động, nguồn lực và đối tượng được hỗ trợ hơn là kết quả tác động lâu dài. Sự liên kết giữa các mô hình, chương trình ở một số địa bàn còn hạn chế, chưa hình thành được chuỗi hỗ trợ thống nhất. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, theo dõi, đánh giá và nhân rộng mô hình còn mới, cơ sở dữ liệu chưa đồng bộ. Những hạn chế trên đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới cách thức tổ chức và nâng cao chất lượng các mô hình, chương trình trong thời gian tới.
2.2. Một số giải pháp phát huy hiệu quả các mô hình, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của Bộ đội Biên phòng ở khu vực biên giới hiện nay
Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới đang đặt ra những yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Điều đó đòi hỏi BĐBP không chỉ tiếp tục duy trì những mô hình, chương trình đã phát huy hiệu quả mà quan trọng hơn là phải đổi mới nội dung, phương thức tổ chức, nâng cao tính thiết thực, bền vững và sức lan tỏa của từng mô hình. Mỗi mô hình cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nhân dân, hướng đến nâng cao năng lực tự chủ, khơi dậy ý chí vươn lên, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa chăm lo đời sống với xây dựng địa bàn, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Trên cơ sở kế thừa những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế, bất cập, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đổi mới tư duy xây dựng và triển khai mô hình, chương trình theo hướng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, lấy người dân làm trung tâm.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng. Một mô hình, chương trình quy mô nhỏ nhưng giải quyết đúng vấn đề của cộng đồng dân cư, được người dân chủ động tham gia và duy trì lâu dài có thể có giá trị hơn một mô hình quy mô lớn nhưng chủ yếu diễn ra trong thời gian ngắn. Vì vậy, trong thiết kế mô hình, chương trình cần quán triệt phương châm “hỗ trợ có điều kiện, đồng hành có trách nhiệm, trao cơ hội để người dân tự vươn lên”.
Đối với hộ nghèo được hỗ trợ sinh kế, BĐBP cần phối hợp với cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật, lựa chọn giống phù hợp, xây dựng kế hoạch chăm sóc, kết nối đầu ra và định kỳ đánh giá kết quả. Người dân phải được xác định là chủ thể thực hiện; BĐBP giữ vai trò đồng hành, kết nối và hỗ trợ. Đối với học sinh, ngoài hỗ trợ vật chất cần chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phương pháp học tập, định hướng nghề nghiệp và xây dựng ý thức trở về đóng góp cho quê hương.
Giá trị sâu xa của Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng” không chỉ là giúp học sinh tiếp tục đến trường mà còn tạo cơ hội để các em phát triển thành những công dân có tri thức, có trách nhiệm với cộng đồng và Tổ quốc. Từ đó cho thấy, muốn khu vực biên giới phát triển bền vững phải quan tâm đầu tư cho con người, nhất là thế hệ trẻ.
Hai là, nâng cao tính bền vững của mô hình, chương trình, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ trực tiếp sang nâng cao năng lực tự chủ của người dân.
Hiệu quả lâu dài của mô hình không thể chỉ đo bằng số tiền đã trao, số lượng đối tượng được hỗ trợ hay số công trình được xây dựng mà phải được đánh giá bằng những thay đổi thực tế sau hỗ trợ. Vì vậy, mỗi mô hình cần được tổ chức theo một chu trình tương đối rõ: khảo sát - thiết kế - triển khai - theo dõi - đánh giá - điều chỉnh - chuyển giao hoặc nhân rộng.
Đối với mô hình sinh kế, cần chuyển từ tư duy “trao con giống” sang “xây dựng chuỗi sinh kế”. Một hộ được hỗ trợ bò giống cần được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng dịch, tạo nguồn thức ăn, sinh sản, tiêu thụ và tái đầu tư. Một hộ được hỗ trợ cây giống cần được hỗ trợ kỹ thuật, quy trình sản xuất và liên kết tiêu thụ. Đối với các chương trình giáo dục, cần xây dựng hồ sơ theo dõi quá trình phát triển của từng học sinh, không chỉ ghi nhận việc trao hỗ trợ mà còn quan tâm đến kết quả học tập, rèn luyện, hoàn cảnh gia đình, nguy cơ bỏ học, định hướng nghề nghiệp và kết quả sau khi hoàn thành chương trình.
Đối với các hoạt động y tế, cần tăng cường giáo dục sức khỏe, phòng bệnh, vệ sinh môi trường, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe ban đầu, thay vì chỉ tập trung vào khám bệnh, cấp thuốc. Cách tiếp cận này giúp các mô hình, chương trình chuyển từ “hỗ trợ” sang “trao năng lực”, qua đó nâng cao khả năng tự chủ và tính bền vững.
Ba là, tăng cường phối hợp và huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng trong thực hiện mô hình, chương trình.
Thực tiễn cho thấy các vấn đề ở khu vực biên giới thường có nhiều nguyên nhân và cần sự tham gia của nhiều chủ thể. Vì vậy, không nên tổ chức các mô hình, chương trình theo cách hoàn toàn độc lập mà cần hướng tới phương thức “một địa bàn - nhiều lực lượng - một mục tiêu chung”.
Đối với một thôn đặc biệt khó khăn, BĐBP có thể phối hợp với cấp ủy, chính quyền, nhà trường, ngành y tế, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và doanh nghiệp xây dựng chương trình tổng hợp gồm hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hỗ trợ sinh kế, chăm sóc học sinh, tuyên truyền pháp luật, khám chữa bệnh, hướng dẫn kỹ năng số, xây dựng đời sống văn hóa và tổ tự quản.
Trong quá trình đó, cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo, giáo viên, cán bộ y tế và những người có ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng. Đây là những chủ thể có khả năng chuyển tải chủ trương, chính sách đến nhân dân bằng ngôn ngữ, phương thức phù hợp với đặc điểm văn hóa của từng địa bàn.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp lâu dài giữa BĐBP với các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức xã hội. Các cơ sở giáo dục có thể tham gia hỗ trợ chuyên môn về giáo dục, kỹ năng và công nghệ; cơ sở y tế hỗ trợ chuyên môn y tế; doanh nghiệp hỗ trợ sinh kế và thị trường; các tổ chức xã hội hỗ trợ nguồn lực và truyền thông. Qua đó, BĐBP thực sự phát huy vai trò lực lượng nòng cốt, cầu nối và xúc tác để các nguồn lực xã hội cùng hướng về khu vực biên giới.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, tổ chức và đánh giá các mô hình, chương trình.
Chuyển đổi số cần trở thành phương thức mới nhằm nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các mô hình, chương trình ở khu vực biên giới. Mỗi mô hình có thể xây dựng hồ sơ điện tử gồm mục tiêu, đối tượng, địa bàn, nguồn lực, thời gian thực hiện, cán bộ phụ trách, kết quả đầu ra, kết quả tác động và hình ảnh minh chứng.
Ở cấp phù hợp, cần xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để theo dõi hộ gia đình, học sinh, mô hình sinh kế, công trình dân sinh và các đối tượng thụ hưởng. Việc số hóa không nhằm tạo thêm thủ tục hành chính mà giúp cán bộ nắm chắc tình hình, hạn chế trùng lặp hỗ trợ và đánh giá được kết quả theo thời gian.
Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ để kết nối người dân với chính quyền và BĐBP; hướng dẫn người dân quảng bá sản phẩm địa phương trên các nền tảng thương mại điện tử; xây dựng sản phẩm tuyên truyền trực quan, ngắn gọn, đa ngôn ngữ phù hợp với từng cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, chuyển đổi số phải gắn với bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và nâng cao khả năng nhận diện thông tin giả, thông tin xấu độc.
Đặc biệt, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, phương pháp “cầm tay chỉ việc” vẫn có ý nghĩa quan trọng. Chuyển đổi số không nên được hiểu đơn thuần là đưa thiết bị cho người dân mà phải hướng đến giúp người dân thực sự sử dụng công nghệ để giải quyết những nhu cầu thiết thực trong đời sống, sản xuất, học tập và tiếp cận các dịch vụ xã hội.
Năm là, xây dựng cơ chế đánh giá, tổng kết và nhân rộng mô hình, chương trình theo hướng khoa học, thực chất.
Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thống nhất nhưng linh hoạt, phù hợp với từng nhóm mô hình, chương trình. Có thể tập trung vào năm nhóm tiêu chí cơ bản: mức độ phù hợp với nhu cầu thực tiễn; mức độ tham gia của người dân; hiệu quả kinh tế - xã hội; khả năng duy trì sau hỗ trợ; khả năng nhân rộng.
Trong đó, tiêu chí quan trọng nhất phải là tác động thực tế đối với người dân và địa bàn. Đối với “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”, cần đánh giá tỷ lệ học sinh duy trì học tập, kết quả học tập, tỷ lệ hoàn thành cấp học, số học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng, học nghề và những đóng góp của các em cho địa phương sau này. Đối với “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, ngoài số lượng quà tặng cần đánh giá khả năng kết nối nguồn lực, mức độ hỗ trợ đúng đối tượng, mức độ hài lòng của người dân và tác động sau chương trình. Đối với các mô hình sinh kế, cần quan tâm đến mức tăng thu nhập, tỷ lệ hộ duy trì mô hình và khả năng nhân rộng trong cộng đồng.
Đồng thời, cần tổ chức tổng kết theo hướng lựa chọn những mô hình tiêu biểu để phân tích sâu cơ chế tạo ra hiệu quả. Không nên chỉ tổng kết theo số lượng hoạt động hoặc kinh phí huy động mà cần làm rõ mô hình đã giải quyết vấn đề gì, bằng phương thức nào, nguồn lực nào, điều kiện nào bảo đảm thành công và khả năng áp dụng ở địa bàn khác ra sao.
Kết quả tổng kết cần được chuyển hóa thành tài liệu hướng dẫn thực hành. Những mô hình có hiệu quả cần được chuẩn hóa thành “bộ công cụ triển khai” gồm mục tiêu, quy trình, nguồn lực, phương thức thực hiện, tiêu chí đánh giá và những điều kiện cần tránh. Khi đó, nhân rộng mô hình sẽ không phải là sao chép hình thức mà là chuyển giao phương pháp, kinh nghiệm và những điều kiện tạo nên hiệu quả.
3. Kết luận
Các mô hình, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của BĐBP ở khu vực biên giới thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần chăm lo đời sống nhân dân, hỗ trợ giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Từ giáo dục, y tế, an sinh xã hội, hỗ trợ sinh kế đến chuyển đổi số, các mô hình, chương trình ngày càng hướng vào những nhu cầu thiết thực của nhân dân và gắn chặt hơn với nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới. Giá trị của các mô hình, chương trình không chỉ được thể hiện ở nguồn lực vật chất đã hỗ trợ mà quan trọng hơn là tạo dựng niềm tin, khơi dậy ý chí vươn lên, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân và tăng cường sự gắn bó quân - dân. Trong giai đoạn mới, cần tiếp tục đổi mới cách thức xây dựng và tổ chức thực hiện, lấy nhu cầu và sự phát triển của người dân làm trung tâm, chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang trao năng lực, nâng cao tính bền vững và khả năng tự chủ. Đồng thời, đẩy mạnh phối hợp, huy động nguồn lực xã hội, ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng cơ chế đánh giá thực chất để lựa chọn, hoàn thiện và nhân rộng những mô hình, chương trình có hiệu quả. Phát huy hiệu quả các mô hình, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh cũng chính là góp phần phát huy sức mạnh nhân dân, củng cố “thế trận lòng dân”, xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, phát triển và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới./.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ đội Biên phòng (2026), Báo cáo tổng kết, tôn vinh các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng khu vực biên giới vững mạnh giai đoạn 2015 - 2025, Hà Nội.
[2]. Bộ đội Biên phòng (2026), Báo cáo công bố mô hình Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới, Hà Nội.
[3]. Bộ đội Biên phòng (2025), Báo cáo tổng kết công tác vận động quần chúng và tuyên truyền đặc biệt năm 2025, Hà Nội.
[4]. Bộ đội Biên phòng (2025), Báo cáo tổng kết công tác biên phòng năm 2025, Hà Nội.
PROMOTING THE EFFECTIVENESS OF MODELS AND PROGRAMS SUPPORTING SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT AND STRENGTHENING NATIONAL DEFENSE AND SECURITY BY THE BORDER GUARD FORCE IN BORDER AREAS TODAY
Dr Tran Long
Border Guard Academy
Email: [email protected]
Abstract: In recent years, the Border Guard Force has implemented numerous practical models and programs to support socio-economic development, poverty reduction, improvement of people's living conditions, new rural development, and the strengthening of national defense and security in border areas. Many of these models and programs have generated tangible results, gained broad support from local authorities and residents, and contributed to strengthening public trust in border areas. This article analyzes the major achievements and limitations in implementing such models and programs and proposes five solutions to enhance their effectiveness. The proposed solutions focus on needs-based approaches, sustainability and self-reliance, coordination and resource mobilization, digital transformation, and scientific evaluation and replication. These measures contribute to building strong border areas, consolidating the “people's support posture,” and firmly protecting national sovereignty and border security.
Keywords: Models and programs; socio-economic development; national defense and security; Border Guard Force; border areas.
Ý kiến bạn đọc