ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRẦN QUỐC TUẤN HIỆN NAY

20:14 | 01/08/2026

Trần Trọng Lượng

Khoa CTĐ, CTCT; Trường Đại học Trần Quốc Tuấn

Email: [email protected]

Tóm tắt: Đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn. Trên cơ sở làm rõ thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các môn KHXH&NV, đáp ứng yêu cầu đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu lục quân cấp phân đội trong tình hình mới.

Từ khóa: Phương pháp dạy học, khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Trần Quốc Tuấn, chất lượng giáo dục, đào tạo, năng lực người học.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới phương pháp dạy học các môn KHXH&NV ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn là yêu cầu khách quan, cấp thiết, xuất phát từ quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội. Mục tiêu đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu lục quân cấp phân đội không chỉ đòi hỏi người học nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tư duy khoa học, năng lực tổ chức thực tiễn và khả năng thích ứng với những biến đổi của tình hình.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn

Thời gian qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp, cơ quan chức năng, khoa, bộ môn và đội ngũ giảng viên của Nhà trường đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các môn KHXH&NV. Nhận thức về vị trí, ý nghĩa của đổi mới phương pháp dạy học từng bước được nâng lên; nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu, vận dụng tương đối linh hoạt. Việc kết hợp thuyết trình với nêu vấn đề, trao đổi, thảo luận, thực hành và hướng dẫn tự học ngày càng đi vào nền nếp. Giảng viên đã chú trọng hơn việc liên hệ kiến thức lý luận với thực tiễn xây dựng Quân đội, hoạt động của đơn vị cơ sở và chức trách, nhiệm vụ của người sĩ quan chỉ huy - tham mưu lục quân cấp phân đội tương lai.

Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa thật đồng đều. Ở một số nội dung, cách thức tổ chức dạy học vẫn thiên về truyền thụ kiến thức một chiều, chưa dành nhiều thời gian và không gian để học viên trao đổi, phản biện, khám phá vấn đề và vận dụng lý luận vào giải quyết các tình huống thực tiễn. Việc lựa chọn, phối hợp phương pháp ở một số bài giảng chưa thật sự xuất phát từ mục tiêu, tính chất nội dung và đặc điểm đối tượng; có trường hợp sử dụng nhiều hình thức nhưng hiệu quả phát triển tư duy và năng lực hành động của người học chưa rõ nét. Ứng dụng công nghệ số ở một số giảng viên còn dừng ở trình chiếu hoặc cung cấp tài liệu điện tử, chưa tạo được sự tương tác và hỗ trợ hiệu quả cho quá trình tự học, tự nghiên cứu.

Những hạn chế trên bắt nguồn từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Các môn KHXH&NV có nội dung rộng, tính lý luận và khái quát cao, trong khi thực tiễn xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu thực hiện chức trách của sĩ quan cấp phân đội thường xuyên vận động, phát triển, đặt ra nhiều vấn đề mới cần được cập nhật, luận giải. Cơ sở vật chất, hạ tầng số, nguồn học liệu và môi trường phục vụ thực hành, trải nghiệm ở một số mặt chưa thật đồng bộ. Mặt khác, nhận thức, năng lực sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn và trình độ ứng dụng công nghệ của đội ngũ giảng viên chưa đồng đều; việc đầu tư nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm các hoạt động học tập trong một số bài giảng chưa tương xứng.

Thực tiễn trên đòi hỏi quá trình đổi mới phương pháp dạy học các môn KHXH&NV phải được tiến hành đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm và đi vào thực chất; lấy sự tiến bộ của học viên và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra làm tiêu chí chủ yếu. Đổi mới không chỉ là thay đổi cách truyền đạt của giảng viên mà phải tạo ra sự chuyển biến thống nhất trong tổ chức hoạt động dạy, hoạt động học, sử dụng phương tiện và kiểm tra, đánh giá kết quả.

2.2. Một số giải pháp tăng cường đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn hiện nay

Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự thống nhất về nhận thức và trách nhiệm trong đổi mới phương pháp dạy học các môn KHXH&NV.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất là cơ sở bảo đảm quá trình đổi mới được triển khai đúng định hướng, đồng bộ và phù hợp với mục tiêu đào tạo của Nhà trường. Đây không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn riêng của giảng viên mà là trách nhiệm chung của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng, khoa, bộ môn và các đơn vị quản lý học viên. Vì vậy, cần thống nhất nhận thức rằng, đổi mới phương pháp dạy học không đồng nhất với việc gia tăng sử dụng phương tiện hiện đại hoặc thay đổi đơn thuần cách thức trình bày bài giảng, mà là quá trình tổ chức lại hoạt động nhận thức của người học, hướng tới nâng cao chất lượng tiếp thu, khả năng tư duy độc lập và năng lực vận dụng tri thức. Sự thống nhất về nhận thức sẽ tạo cơ sở để xác định đúng trách nhiệm, khắc phục biểu hiện khoán trắng cho giảng viên hoặc tiến hành theo phong trào, thiếu chiều sâu và tính bền vững.

Cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì các cấp cần thường xuyên quán triệt sâu sắc chủ trương đổi mới giáo dục, đào tạo; cụ thể hóa thành nghị quyết, kế hoạch, chương trình và chỉ tiêu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Trong tổ chức thực hiện, cần xác định rõ nội dung trọng tâm, lộ trình, trách nhiệm của từng lực lượng và tiêu chí đánh giá kết quả; coi trọng lựa chọn một số môn học, bài học để tổ chức thí điểm, rút kinh nghiệm trước khi triển khai rộng. Các cơ quan chức năng cần tăng cường phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra, dự giờ, khảo sát ý kiến người học và kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh. Kết quả đổi mới cần được xem xét trong đánh giá chất lượng giảng dạy và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân. Cùng với đó, duy trì nền nếp hội thi, hội giảng, sơ kết, tổng kết; chú trọng phát hiện, biểu dương, phổ biến những mô hình và cách làm có giá trị thực tiễn.

Hai là, chú trọng bồi dưỡng, phát huy năng lực đổi mới phương pháp dạy học của đội ngũ giảng viên KHXH&NV.

Giảng viên là lực lượng trực tiếp chuyển hóa mục tiêu, nội dung đào tạo thành hoạt động nhận thức, rèn luyện và kết quả phát triển của học viên, do đó giữ vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học. Năng lực đổi mới của giảng viên không chỉ thể hiện ở việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật hiện đại mà còn bao gồm khả năng nghiên cứu lý luận, cập nhật thực tiễn, xác định trọng tâm kiến thức, thiết kế nhiệm vụ học tập, tổ chức tương tác, xử lý tình huống sư phạm và đánh giá sự tiến bộ của người học. Đối với giảng viên KHXH&NV, yêu cầu này còn gắn chặt với bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, tính chiến đấu, tính thuyết phục và khả năng định hướng nhận thức cho học viên. Vì vậy, cần xây dựng đội ngũ giảng viên có cơ cấu hợp lý, kiến thức chuyên ngành sâu, vốn sống thực tiễn phong phú, phương pháp sư phạm khoa học và năng lực số phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

Quảng cáo

Trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và nhiệm vụ giảng dạy, Nhà trường cần thường xuyên rà soát, đánh giá đúng năng lực của từng giảng viên để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sát đối tượng. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực; xây dựng hệ thống câu hỏi, tình huống và nhiệm vụ học tập; tổ chức seminar, thảo luận, tranh luận học thuật; hướng dẫn tự học; xây dựng học liệu và ứng dụng công nghệ số. Cần duy trì có chất lượng các hoạt động tập huấn, sinh hoạt chuyên môn, giảng thử, giảng mẫu, dự giờ và bình giảng; phát huy vai trò hướng dẫn, hỗ trợ của giảng viên có kinh nghiệm đối với giảng viên trẻ. Đồng thời, tạo điều kiện để giảng viên đi nghiên cứu thực tế tại đơn vị, tham gia hội thảo, thực hiện đề tài khoa học và trao đổi kinh nghiệm với các cơ sở đào tạo trong và ngoài Quân đội. Mỗi giảng viên phải đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu, chủ động thử nghiệm, thường xuyên tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh phương pháp trên cơ sở hiệu quả thực tế của từng bài giảng.

Ba là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng gắn lý luận với thực tiễn.

Đây là giải pháp trung tâm, trực tiếp tạo ra sự chuyển biến về chất lượng giảng dạy các môn KHXH&NV. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận phương pháp truyền thống hoặc chạy theo những hình thức mới, mà là kế thừa có chọn lọc, lựa chọn và phối hợp phương pháp phù hợp với mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể. Mỗi phương pháp đều có ưu thế và giới hạn nhất định; hiệu quả dạy học phụ thuộc vào năng lực sử dụng của giảng viên và mức độ phù hợp với nhiệm vụ nhận thức của người học. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ việc chủ yếu cung cấp tri thức sang định hướng, gợi mở và tổ chức cho học viên chủ động chiếm lĩnh kiến thức; kết hợp hài hòa giữa thuyết trình, nêu vấn đề, đàm thoại, thảo luận, nghiên cứu tình huống và tự học. Quá trình đó phải bảo đảm sự thống nhất giữa trang bị tri thức với hình thành phương pháp tư duy; giữa nhận thức lý luận với khả năng phân tích, đánh giá và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn quân sự.

Các khoa, bộ môn và giảng viên cần căn cứ chuẩn đầu ra, mục tiêu môn học và yêu cầu của từng bài để xác định phương án tổ chức dạy học phù hợp. Hoạt động học tập cần được thiết kế theo trình tự chặt chẽ trước, trong và sau giờ học, trong đó xác định rõ nhiệm vụ của giảng viên, học viên và sản phẩm cần đạt ở từng giai đoạn. Chú trọng xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, chủ đề seminar, bài tập thực hành và ngân hàng tình huống sát với thực tiễn xây dựng Quân đội, hoạt động CTĐ, CTCT, quản lý, chỉ huy, huấn luyện và rèn luyện bộ đội ở đơn vị cơ sở. Có thể tăng cường tổ chức học tập theo nhóm, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lý tình huống, trình bày chuyên đề và tranh luận học thuật phù hợp với từng nội dung. Việc áp dụng phương pháp mới cần được thử nghiệm, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh thường xuyên; tránh vận dụng máy móc, dàn trải, làm phức tạp hóa hoạt động dạy học hoặc chú trọng hình thức mà xem nhẹ chiều sâu kiến thức và tính định hướng chính trị, tư tưởng.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của học viên gắn với đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.

Học viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể trực tiếp của quá trình dạy học; mức độ tự giác, tích cực và sáng tạo của học viên là điều kiện quan trọng, đồng thời là thước đo hiệu quả của phương pháp được vận dụng. Bởi vậy, đổi mới phải hướng vào hình thành động cơ học tập đúng đắn, nhu cầu khám phá tri thức, phương pháp tư duy khoa học và năng lực tự học, tự nghiên cứu. Học viên không chỉ ghi nhớ, tái hiện kiến thức mà phải biết phân tích, so sánh, khái quát, lập luận, bảo vệ chính kiến có căn cứ và vận dụng lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Để thúc đẩy quá trình đó, kiểm tra, đánh giá phải chuyển từ chú trọng xác định lượng kiến thức ghi nhớ sang đánh giá toàn diện mức độ hiểu, khả năng vận dụng, năng lực giải quyết vấn đề và sự tiến bộ của người học. Sự thống nhất giữa cách dạy, cách học và cách đánh giá sẽ tạo động lực để học viên chuyển từ tiếp nhận thụ động sang chủ động chiếm lĩnh và sử dụng tri thức.

Giảng viên cần giao nhiệm vụ học tập cụ thể trước mỗi bài học; hướng dẫn học viên xác định mục tiêu, khai thác tài liệu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu và chuẩn bị sản phẩm. Trong giờ học, cần xây dựng môi trường trao đổi dân chủ, cởi mở, tôn trọng những ý kiến có căn cứ, đồng thời giữ vững tính định hướng, tính tổ chức và kỷ luật; khuyến khích học viên đặt câu hỏi, trình bày quan điểm, tham gia phản biện và tự đánh giá kết quả. Hoạt động kiểm tra, đánh giá cần kết hợp giữa thường xuyên và định kỳ, cá nhân và nhóm, tự luận và vấn đáp, bài viết với sản phẩm nghiên cứu, thuyết trình và xử lý tình huống. Tiêu chí đánh giá phải cụ thể, công khai, bám sát chuẩn đầu ra và phản ánh đúng yêu cầu của từng môn học; hạn chế những câu hỏi thiên về tái hiện máy móc. Kết quả đánh giá cần được phản hồi kịp thời, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và biện pháp khắc phục, giúp học viên chủ động điều chỉnh phương pháp học tập, đồng thời cung cấp thông tin để giảng viên hoàn thiện hoạt động giảng dạy.

Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, đồng thời hoàn thiện các điều kiện bảo đảm cho đổi mới phương pháp dạy học.

Công nghệ số và các điều kiện bảo đảm có vai trò hỗ trợ quan trọng trong mở rộng không gian học tập, đa dạng hóa nguồn học liệu, tăng khả năng tương tác và nâng cao hiệu quả quản lý quá trình dạy học. Việc ứng dụng công nghệ cần hướng vào hỗ trợ giảng viên thiết kế, tổ chức, theo dõi và đánh giá hoạt động học tập; tạo điều kiện để học viên tiếp cận tài liệu, trao đổi học thuật và tự nghiên cứu thuận lợi hơn. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là phương tiện, không thay thế vai trò định hướng, tổ chức của giảng viên và hoạt động nhận thức tích cực của học viên. Vì vậy, việc lựa chọn, khai thác các nền tảng, phần mềm và công cụ số phải xuất phát từ yêu cầu sư phạm, phù hợp với nội dung môn học, đặc điểm người học và điều kiện thực tế của Nhà trường; khắc phục tình trạng đồng nhất chuyển đổi số với số hóa tài liệu hoặc trình chiếu bài giảng.

Nhà trường cần từng bước hoàn thiện hạ tầng số, phòng học chuyên dùng, thiết bị dạy học và hệ thống quản lý học tập theo hướng đồng bộ, thiết thực, thuận tiện trong khai thác và sử dụng. Các khoa, bộ môn cần xây dựng kho học liệu số dùng chung; tổ chức số hóa có chọn lọc giáo trình, tài liệu tham khảo, hệ thống câu hỏi, tình huống, bài giảng mẫu và những sản phẩm nghiên cứu có giá trị; đồng thời xác định rõ trách nhiệm thẩm định, cập nhật và quản lý học liệu. Cùng với bồi dưỡng kỹ năng số cho giảng viên và học viên, cần duy trì lực lượng hỗ trợ kỹ thuật, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật quân sự. Việc khai thác trí tuệ nhân tạo phải được hướng dẫn, kiểm soát phù hợp; gắn sử dụng công nghệ với kiểm chứng thông tin, tôn trọng bản quyền, trích dẫn nguồn và thực hiện nghiêm liêm chính học thuật. Hiệu quả đầu tư, ứng dụng công nghệ cần được đánh giá thông qua chất lượng bài giảng, sự tiến bộ của học viên và mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo, làm cơ sở tiếp tục điều chỉnh nội dung, phương thức tổ chức thực hiện.

3. Kết luận

Đổi mới phương pháp dạy học các môn KHXH&NV ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn là quá trình lâu dài, có tính hệ thống, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của các tổ chức, lực lượng và sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiều giải pháp. Trong đó, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo là tiền đề; nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên là khâu then chốt; vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học là nội dung trung tâm; phát huy vai trò chủ thể của học viên là động lực; ứng dụng công nghệ số và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm là yếu tố hỗ trợ quan trọng. Thực hiện tốt những nội dung trên sẽ tạo chuyển biến vững chắc từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức phát triển phẩm chất, tư duy và năng lực hành động; góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các môn KHXH&NV và chất lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng bộ Quân đội (2025), Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Hà Nội.

[2]. Đảng ủy Trường Sĩ quan Lục quân 1 (2025), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Khóa XVII tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1i lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025-2030, Hà Nội.

INNOVATING TEACHING METHODS FOR SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES SUBJECTS AT TRAN QUOC TUAN UNIVERSITY TODAY

Abstract: Innovating teaching methods for social sciences and humanities subjects is an urgent requirement to improve the quality of education and training at Tran Quoc Tuan University. Based on a clarification of the current situation, this article proposes several solutions to further innovate teaching methods in a way that promotes the active, proactive, and creative participation of students, contributing to improving the quality of teaching in social sciences and humanities subjects, and meeting the requirements for training army command and staff officers at the platoon level in the new situation.

Key words: Teaching methods; social sciences and humanities; Tran Quoc Tuan University; quality of education and training; learner competence.

Ý kiến bạn đọc

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ KHOA HỌC, VIỆN SĨ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN PHẠM MINH HẠC: CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Bài viết được hoàn thành trong những ngày cả nước và đội ngũ nhà giáo Việt Nam tưởng niệm Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026), như một lời tri ân đối với những cống hiến to lớn của ông cho nền giáo dục và khoa học giáo dục nước nhà.

Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai (nhiệm kỳ 2025-2030)

TCGCVN - Ngày 29/7/2026, tại Hội trường Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa (Cơ sở 2), Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa đã long trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai, nhiệm kỳ 2025-2030. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của Thầy Trần Đạo Nghĩa (Chủ tịch Tỉnh hội), Cô Nguyễn Thị Thúy Hường và Thầy Nguyễn Cảnh Thái (Phó Chủ tịch Tỉnh hội).

GS.VS. NGND PHẠM MINH HẠC (1935–2026) – NHÀ GIÁO DỤC LỚN CỦA VIỆT NAM

TCGCVN- Trong những ngày đầu tháng Tám năm 2026, ngành Giáo dục Việt Nam và giới khoa học cả nước bàng hoàng đón nhận tin buồn: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần vào ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông không chỉ là mất mát to lớn đối với gia đình, đồng nghiệp và các thế hệ học trò, mà còn để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong toàn ngành giáo dục Việt Nam. Hơn bảy thập kỷ cống hiến không mệt mỏi, Giáo sư Phạm Minh Hạc

GS.VS.NGND PHẠM MINH HẠC TỪ TRẦN Ở TUỔI 91

TCGCVN - GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc – nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII, Chủ tịch Danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam, đã từ trần vào hồi 1 giờ 10 phút ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tómm tắt: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nói chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung