TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NĂM 1945 MỞ RA KỶ NGUYÊN MỚI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

07:57 | 31/08/2024
TCGCVN - Kỷ niệm 79 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (1945-2024)

Cách đây 79 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã hội tụ và tỏa sáng truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới, vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NĂM 1945 MỞ RA KỶ NGUYÊN MỚI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc

Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,

mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Ảnh tư liệu

Thực tiễn không phải quốc gia nào trên thế giới sau khi tiến hành cách mạng lật đổ chế độ xã hội cũ và lập nên chính quyền nhà nước mới cũng có được bản Tuyên ngôn độc lập. Tiếp theo Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, thì bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo, trở thành một áng hùng văn lập quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX; đóng góp xứng đáng vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Ngay phần mở đầu Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn nội dung tinh túy của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người còn trân trọng viện dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của nước Pháp, đó là: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Việc trân trọng viện dẫn những tinh hoa cuộc cách mạng tiêu biểu của nước Pháp và nước Mỹ để mở đầu cho Tuyên ngôn lập quốc của nước mình, vừa thể hiện nét độc đáo, sáng tạo, đầy tính nhân văn cao cả và cử chỉ ngoại giao rất tinh tế, sắc bén của chủ nhân một quốc gia độc lập, nhưng cũng vừa mang tính chủ động tiến công cách mạng của một lãnh tụ có tầm nhìn chiến lược trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa, quân sự...

Với tầm nhìn chiến lược về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam tuyên bố mong muốn làm bạn với các quốc gia, dân tộc, các tổ chức quốc tế, trong đó có nước Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Điều đó càng sáng ngời tư tưởng đại nghĩa, lòng khoan dung cao cả của chủ nhân một quốc gia có truyền thống hàng nghìn năm văn hiến vừa mới giành được độc lập

Thực tiễn trong hơn 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Người đã thấu hiểu tận tim gan bản chất bóc lột dã man, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Ngay cả khi đã vạch rõ tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ Việt Nam, chúng “bóc lột dân ta đến tận xương tủy”; rồi trong vòng 5 năm chúng lại “bán” nước ta cho phát xít Nhật, gây cho nhân dân ta thảm cảnh “một cổ hai tròng” với hơn hai triệu người dân bị chết đói. Song đến khi thực dân Pháp thất thế và rút chạy, nhân dân Việt Nam vẫn độ lượng khoan hồng, giang tay cứu giúp cho nhiều người Pháp và tài sản của họ thoát khỏi bàn tay tàn bạo, đê hèn của phát xít Nhật lúc đó.

Nhân dân nước Mỹ rất tự hào về Tô-mát Giép-phơ-xơn, người đã khởi thảo bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Niềm tự hào đó càng được đề cao khi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới lại được mở đầu bằng chính những nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, đúng vào thời điểm quân Đồng minh vừa chiến thắng phe phát xít. Sự thật lịch sử đó không có cớ gì mà Chính phủ Mỹ đương thời lại bỏ qua cử chỉ đặc biệt thân thiện của nhân dân Việt Nam. Nhưng điều còn thú vị hơn là trực tiếp vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam đã cho L.A Pát-ti, đại diện của quân đội Mỹ ở Hà Nội khi đó được xem trước bản Tuyên ngôn độc lập mà Người sẽ đọc tại cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội, khiến cho chính viên thiếu tá tình báo này thú thực rằng “không còn tin ở tai mình nữa”. Sau hơn ba thập kỷ với biết bao chính biến thăng trầm của lịch sử, ngài L.A Pat-ti đã tự thuật lại sự kiện trên rất sinh động, hấp dẫn và nghiêm túc trong tác phẩm Why Viet Nam? (Tại sao Việt Nam?). Rõ ràng, ngay trong thời kỳ đầu lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đặt nền móng mối quan hệ ngoại giao thân thiện giữa Việt Nam với Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, trong đó có nước Mỹ và nước Pháp. Thế nhưng, cơ hội lịch sử đó đã bị chính phủ đương thời ở nước Mỹ và nước Pháp bỏ qua, đúng vào thời điểm nhân dân Việt Nam sát cánh cùng phe Đồng minh để đấu tranh loại trừ chủ nghĩa phát xít tàn bạo trên thế giới.

Như vậy, xét trên nhiều phương diện, có thể khẳng định bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 là sự kết tinh tâm huyết của dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; thể hiện truyền thống, khí phách quật cường, bản lĩnh và ý chí quyết tâm sắt đá trong đấu tranh để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc. Nhưng ngay tại thời điểm có tính chất bước ngoặt của dân tộc Việt Nam, các thế lực thực dân, đế quốc lại đang có những toan tính mới hòng xóa bỏ mọi thành quả cách mạng của nước ta mới giành được. Chúng núp dưới danh nghĩa phe Đồng minh chiến thắng phát xít để âm mưu áp đặt các nước thuộc địa ở Á châu dưới chế độ “Uỷ trị quốc tế”, trực thuộc vào nước Mỹ hay nước Pháp. Tổng thống Cộng hòa Pháp De Gaulle lấy tư cách một nước thuộc phe Đồng minh, mưu toan tiếp tục nắm giữ toàn vẹn đất đai ở hải ngoại đã từng thuộc Pháp trước chiến tranh. Thực dân Pháp vẫn không chịu từ bỏ âm mưu biến nước ta thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng. Lúc này, đế quốc Mỹ cũng đang thừa cơ lăm le tìm mọi thủ đoạn để nhẩy vào độc chiếm Đông Dương, xâm chiếm đất nước ta. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ đối tượng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của cách mạng Việt Nam, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

Quảng cáo

Nếu như trong hơn 30 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lên án đối tượng kẻ thù chủ yếu của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp, với bản “Yêu sách 8 điểm” nổi tiếng, gửi Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919; hay “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925..., thì nay, trước tình hình thế giới và trong nước phát triển rất mau lẹ, bằng sự nhạy cảm về chính trị và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, Người đã phân tích và nhận rõ nguy cơ nền độc lập của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước sự đe dọa từ đối tượng kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Người đã tìm mọi cách để phân hóa hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ từng đối tượng, kể cả long trọng khởi đầu bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam bằng sự viện dẫn nội dung bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ.

Trên cơ sở pháp lý và chính nghĩa, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã trở thành một văn kiện mẫu mực về nghệ thuật phân hóa, cô lập kẻ thù để nhằm loại bỏ từng kẻ thù nguy hiểm của cách mạng. Đứng trước dã tâm xâm lược trở lại nước ta của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lột rõ bộ mặt “bảo hộ” giả nhân, giả nghĩa, núp dưới bóng cờ quân Đồng minh của thực dân Pháp. Bằng những lập luận đanh thép và vững chắc, Người đã chỉ cho toàn thế giới thấy rõ một thực tế lịch sử là: Từ mùa thu năm 1940, thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng, dâng nước ta cho phát xít Nhật. Cho nên, sự thật cũng từ đó Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Nhật. Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo toàn dân đứng lên đấu tranh để giành lại đất nước từ phát xít Nhật. Do đó, cơ sở pháp lý về sự tồn tại quyền lợi của thực dân Pháp ở Việt Nam cũng như trên toàn Đông Dương không còn nữa. Theo các Hiệp nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn nêu rõ: Nếu các nước Đồng minh đã công nhận quyền dân tộc tự quyết của các nước bị phát xít chiếm đóng, thì “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Những lập luận dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và rất đanh thép đã đặt cả chủ nghĩa thực dân cũ và mới vào tư thế của những kẻ can thiệp và xâm lược, nếu chúng dã tâm núp dưới bóng cờ của quân Đồng minh để quyết thôn tính nước ta. Vì vậy, bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xác định rõ đối tượng cần tranh thủ, cần phân hóa; đồng thời thể hiện tính chủ động, linh hoạt, cần kíp trong tiến công cách mạng của Đảng ta ở thời điểm lịch sử có tính bước ngoặt.

Như vậy, sau khi đất nước giành được độc lập, cách mạng Việt Nam phải liên tục đương đầu với đủ loại thù trong, giặc ngoài, có những thời điểm vận mệnh cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”. Nếu chỉ cần một nước cờ sai thì mọi thành quả của Cách mạng Tháng Tám 1945 có thể bị chôn vùi. Nhưng với tinh thần và ý chí của toàn dân tộc được hội tụ trong lời tuyên bố đanh thép của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”, Đảng ta đã sáng suốt, mưu lược, bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Trong hành trình 79 năm, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, nước ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm (1945-1954) chống thực dân Pháp xâm lược mới làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Sau hơn 20 năm thực hiện phương châm chiến lược của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” (1954-1975), nhân dân ta đã làm nên Đại thắng mùa xuân 1975, thu giang sơn về một mối, mở ra kỷ nguyên mới đưa cả nước tiến lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trải qua gần 40 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo và kém phát triển sau chiến tranh, đến nay nền kinh tế nước ta đã có sự tăng trưởng khá nhanh và bền vững. Nếu như trước thời kỳ đổi mới, nước ta hằng năm phải nhập hàng chục tấn lương thực, thì nay đã trở thành một trong những quốc gia đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo; một số loại hàng hóa nông sản cũng chiếm vị trí đầu về xuất khẩu. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được những kết quả tích cực. An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.

Trong tiến trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế, Đảng ta chủ trương đổi mới tư duy, thực hiện phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 nước; đồng thời, tham gia tích cực vào Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... Đến nay, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ và tạo ra mạng lưới đối tác chiến lược/đối tác toàn diện với 33 nước, trong đó có tất cả các nước lớn; tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (6/2014), qua đó khẳng định là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Cùng với đó, khung khổ quan hệ với nhiều đối tác quan trọng đã được nâng lên tầm cao mới, tin cậy chính trị với các nước được củng cố vững chắc, hợp tác ngày càng mở rộng, thực chất và hiệu quả; vị thế, uy tín, tiếng nói của Việt Nam được khẳng định nổi bật tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, tiểu vùng Mekong, APEC, AIPA, IPU, UNESCO, Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP), Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường…

Những thành tựu của đất nước đạt được trong gần 40 năm đổi mới đã tạo thế và lực cho cách mạng nước ta mạnh lên rất nhiều. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay”. Thực tiễn sinh động đó của đất nước là biểu hiện sự kết tinh và tỏa sáng truyền thống và sức mạnh Việt Nam được hội tụ trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, truyền thống văn hóa dựng nước và giữ nước Việt Nam trong thời đại mới.

Đã 79 năm trôi qua, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử hôm nay vẫn như còn âm vang lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lời hiệu triệu của Người vẫn đang thôi thúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, với tất cả những đồng bào Việt Nam đang làm ăn sinh sống, công tác và học tập ở nước ngoài, không phân biệt người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào, ở miền ngược cũng như miền xuôi, hãy luôn đồng lòng, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, quyết tâm thực hiện khát vọng vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững lòng tin vào thắng lợi công cuộc đổi mới trên đất nước Việt Nam thân yêu./.

Thạc sĩ Nguyễn Đức Thắng

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển Giáo dục

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

TCGCVN - Trong mắt đồng nghiệp và học sinh, Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình là một giáo viên mẫu mực: tận tụy với học trò, hết lòng với nghề, quản lý nhà trường minh bạch, được đánh giá hội tụ đầy đủ cả tài và đức. Nhiều năm liền chất lượng dạy và học đi lên, tuyển sinh tăng lên hằng năm rõ rệt, phong trào giáo dục được địa phương ghi nhận.

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.