PGS.TS. Tô Bá Trượng
Viện Nghiên cứu Hợp tác Phát triển Giáo dục
Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết khái quát cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp nổi bật của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đối với sự phát triển của khoa học giáo dục, khoa học tâm lý và nền giáo dục Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống hóa các chặng đường học tập, nghiên cứu khoa học, quản lý giáo dục và hoạt động xã hội của Giáo sư, bài viết phân tích những đóng góp của ông trong xây dựng lý luận giáo dục, phát triển khoa học nghiên cứu con người, đổi mới tư duy giáo dục, chỉ đạo công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo. Đồng thời, bài viết khẳng định giá trị lâu bền của tư tưởng phát triển con người, giáo dục toàn diện và học tập suốt đời mà Giáo sư Phạm Minh Hạc đã theo đuổi, coi đó là một di sản khoa học có ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Phạm Minh Hạc; khoa học giáo dục; tâm lý học; phát triển con người; đổi mới giáo dục; học tập suốt đời; nhà giáo; giáo dục Việt Nam.
Lời dẫn
Trong lịch sử phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam, có những nhà khoa học không chỉ để lại dấu ấn bằng các công trình nghiên cứu mà còn bằng những tư tưởng giáo dục, những quyết sách chiến lược và tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều thế hệ nhà giáo. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc là một trong những nhân vật tiêu biểu như vậy.
Hơn sáu thập niên hoạt động khoa học và quản lý giáo dục, Giáo sư đã có những đóng góp quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của khoa học tâm lý, khoa học giáo dục, nghiên cứu con người, xây dựng chính sách giáo dục và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học giáo dục ở Việt Nam. Tên tuổi của ông gắn liền với nhiều chủ trương lớn về đổi mới giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng xã hội học tập và phát huy giá trị con người trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Sự ra đi của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đội ngũ nhà giáo, các nhà khoa học và những người làm công tác giáo dục trong cả nước. Bài viết này được thực hiện như một lời tri ân chân thành đối với một nhà khoa học lớn, đồng thời góp phần khái quát cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp tiêu biểu của Giáo sư đối với nền giáo dục Việt Nam, qua đó khẳng định giá trị bền vững của những tư tưởng và di sản khoa học mà ông để lại cho hôm nay và các thế hệ mai sau.
1.Vài nét về thời niên thiếu của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc
Giáo sư-Viện sĩ-Tiến sĩ khoa học-Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc (GS.TSKH.VS.NGND) sinh ngày 07/5/1935 tại thôn Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học. Ông nội là Cụ Đồ Duy, tên thật là Phạm Thượng Chí, là một trong sáu Đảng viên đầu tiên đứng ra thành lập chi bộ Đảng Cộng sản năm 1930 ở làng Đông Phù. (Làng Đông Phù tên Nôm là Kẻ Nhót, vốn là làng (xã) Đông Phù được sử sách ghi tên gắn liền với sự kiện 12 sứ quân cuối thế kỷ X). Trong kháng chiến chống Pháp, xã Đông Phù đổi tên thành xã Đông Mỹ thuộc huyện Liên Nam. Hòa bình lập lại xã Đông Mỹ thuộc huyện Thanh Trì tỉnh Hà Đông. Năm 1951, xã được cắt về Hà Nội). Cha ông là Cụ Phạm Phượng, tham gia cách mạng từ năm 1938, lúc này Cụ Phượng vừa là một doanh nhân vừa tham gia hoạt động cách mạng, công tác bí mật cùng với cụ Nguyễn Lương Bằng, sau này cụ Nguyễn Lương Bằng là Phó Chủ tịch nước.
Tuổi thơ của GS.VS. Phạm Minh Hạc đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Khi còn nhỏ ông học vỡ lòng và đồng ấu, sau đấy ông vào học trường tiểu học huyện Thanh Trì. Sau tốt nghiệp sơ học ông được đi học tiếp, nhưng chưa học hết năm thứ hai tiểu học, ông phải bỏ học, theo bố xuống Hà nam, lo giặc Pháp sẽ đánh ra ngoại thành.
Xuống Hà nam, lúc ông mới 12 tuổi, ông vào làm thư ký đánh máy ở văn phòng Huyện uỷ và Uỷ ban hành chính, kháng chiến huyện Kim Bảng, Hà Nam. Ông làm văn phòng khoảng gần 2 năm, rồi được điều động làm công tác phụ trách thiếu nhi được một thời gian, rồi có lệnh điều ông về Đội tuyên truyền tỉnh Hà Nam. Nhiệm vụ của Đội là đi tuyên truyền nhân dân về trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Đi khắp các xã trong tỉnh Hà nam, mỗi xã nói chuyện một tối. Bài nói chuyện đã viết sẵn, học thuộc lòng và lên diễn thuyết. Với trí thông minh vốn có, năng động, sáng tạo, ông đã nhanh chóng trở thành đội viên đội tuyên truyền có uy tín. Năng lực diễn đạt trước nhiều người của ông cũng được hình thành và phát triển từ đấy. Sau thời gian công tác tại Đội tuyên truyền, ông tiếp tục được đi học. Ông học trường Nguyễn Huệ ở Hà đông tản cư vào Thanh hóa.
Học hết lớp 7, ông được tuyển thẳng không phải thi vào lớp 8 trường Nguyễn Thượng Hiền. Lớp học chỉ có bảng và bàn thầy giáo, còn học sinh mỗi người một bàn, một ghế thấp lè tè, tự thuê người đóng, như hồi học cấp 2. Nhưng giáo dục vẫn phát triển, tuy cả Liên khu 3 chỉ có một trường cấp 3, đào tạo lớp trí thức phục vụ đất nước. Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, một chủ trương thật sáng suốt! ông nghĩ, mình thật may mắn trực tiếp được hưởng ân huệ đó.
Năm học kết thúc, ông được về hà Nội. Ông nộp đơn thi vào Đại học Văn khoa. Kết quả trúng tuyển, thế là cuộc đời sinh viên của ông bắt đầu từ đây. Ông đã học ở đây từ tháng 10 năm 1954 đến tháng 5 năm 1955. Khoảng tháng 5 năm 1955, Ông nhận quyết định đi tập trung, chuẩn bị đi Liên xô học tập. Đoàn từ Đại học Văn khoa gồm 4 người (ông Dật, ông Hạnh, ông Ảnh và ông), trong 4 người chỉ có ông là học sinh phổ thông vào đại học, còn 3 ông kia đều là cán bộ về học, trong đó có người đã công tác gần 10 năm và có Huân chưong kháng chiến hạng 2, các ông đều là đảng viên. Lúc này ông mới có 20 tuổi.
Có thể thấy, tuổi thơ và những năm tháng trưởng thành trong hoàn cảnh chiến tranh đã góp phần hình thành ở Phạm Minh Hạc ý chí vượt khó, tinh thần tự học và khát vọng cống hiến cho đất nước. Những trải nghiệm từ lao động thực tiễn, hoạt động tuyên truyền, học tập trong điều kiện gian khó đã rèn luyện ở ông tư duy độc lập, bản lĩnh chính trị và năng lực diễn đạt, những phẩm chất tiếp tục được phát triển trong quá trình nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục sau này. Đây cũng là nền tảng quan trọng tạo nên một nhà khoa học luôn gắn nghiên cứu với thực tiễn và luôn đặt sự phát triển con người vào vị trí trung tâm của giáo dục.
2. Ba lần đi học tại Liên Xô (cũ)Top of Form
Lần thứ nhất, theo sự phân công ngành học trước khi sang Liên Xô của Bộ giáo dục, ông về trường Đại học sư phạm Lênin, khoa giáo dục học. Một cảm nhận mới là ở đây bài giảng nào cũng như các buổi xêmina đều có yêu cầu phải đọc một số tài liệu. Trong các tài liệu học tổ môn tâm lý học ông thấy hầu như bài nào cũng có nói về GS. Lêônchiép và GS. Luria, ông hỏi các bạn, hai giáo sư này dạy ở đâu? họ đều nói, hai giáo sư này nổi tiếng nhất trong làng Tâm lý học Liên Xô, đều dạy ở Đại học tổng hợp Lômônôxốp. Ông nghĩ, sang tới đây phải học từ nguồn cội, từ những người thầy giỏi nhất. Ông đã viết đơn gửi về Bộ giáo dục xin được học tại trường Đại học tổng hợp Lômônôxốp. Thế là cuối năm thứ 2, ông được chuyển về trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Lômônôxốp Mátscơva (Moscow State University) học Tâm lý học.
Được chuyển sang học chuyên tâm lý học là một mong ước lớn và mong ước ấy đã trở thành hiện thực, lại được học ở trường nổi tiếng ở Liên Xô (nay là nước Nga) và trên thế giới là một niềm vui không thế tả nổi đối với ông. Theo thời gian với tinh thần ham học, mọi việc đều suôn sẻ, có lẽ tinh thần vượt khó, đam mê và có cả lòng tự trọng đã giúp ông vượt qua tất cả. Bốn năm học trôi qua rất vất vả, khó khăn, ông đã khắc phục dần và đạt kết quả có thể coi là mỹ mãn. Các kì thi cuối học kì, cuối năm đều đạt điểm 5. Năm thứ 4 phải làm một bài tập lớn, ông chọn một bài về sử dụng máy não điện đồ dưới sự hướng dẫn của GS. Sakalôp E. N. Bài này cũng đạt điểm 5. Sang năm thứ 5 phải viết luận văn tốt nghiệp, ông chọn tâm lý học thần kinh dưới sự hướng dẫn của PGS. Khômskaia E. D. Bài này cũng đạt điểm 5. Hai bài tập này có ý nghĩa đối với việc hình thành kỹ năng và thói quen nghiên cứu khoa học của ông. Ông nhận bằng tốt nghiệp đại học hạng ưu. Sau khi nhận được bằng tốt nghiệp, ông thu xếp, lên đường về nước, lòng vui vô hạn!
Lần thứ 2, Nghiên cứu sinh tâm lý học thần kinh tại Liên Xô
Tháng 9 năm 1968 ông lên đường đi Liên xô làm nghiên cứu sinh, trong đầu ông rối bời: vừa vui vừa buồn.Vui vì được đi nghiên cứu sinh là một điều kiện phát triển để công tác tốt hơn, song vẫn cảm thấy buồn, vì phải xa gia đình, xa bạn bè đồng nghiệp.
Bắt đầu ba năm học tập và nghiên cứu dưới sự lãnh đạo của GS. Luria, một người có tình cảm sâu đậm với nhân dân Việt Nam.
Vừa chuẩn bị thi “tối thiểu”, vừa tiến hành thực nghiệm tại bệnh Viện giải phẫu thần kinh mang tên Thượng Tướng Buốcđencô. Người bình thường, thực tập phải qua một thời gian quy định 6 tháng mới được làm việc như một bác sĩ, nhưng với ông chỉ mất ba tháng là đã làm việc như một bác sĩ thực thụ, được ghi kết quả buổi thực nghiệm với bệnh nhân, có nhận xét về bệnh tình và triển vọng, vào bệnh án của bệnh nhân.
Vừa làm thực nghiệm vừa viết, xong một nhóm thực nghiệm nào, xử lý, tính toán nhóm đó, được chương nào viết chương ấy. Cuối cùng, luận án dày gần 300 trang, ông đã viết xong vào cuối năm 1970. Theo nhiệm vụ được giao chỉ phải nghiên cứu nửa trái vỏ não, nhưng Ông đã nghiên cứu cả nửa bên phải vỏ não, viết thành một phần chương cuối trong luận án. Thực nghiệm rất công phu, mô tả hết sức tỉ mỉ, hai trường hợp có cả ảnh khối u, trình bày mạnh lạc, rõ ràng, các kết luận có tính thuyết phục cao. Hội đồng bảo vệ luận án đánh giá cao và đề nghị nghiên cứu sinh phát triển thành luận án Tiến sĩ khoa học. Ông nhận được bằng Phó tiến sĩ khoa học số 000111, ngày 11/6/1971, Matscơva của Hội đồng khoa tâm lý học trường Đại học Matscơva mang tên Lômônôxốp.
Lần thứ 3, làm luận án Tiến sĩ khoa học (1972-1977)
Cuối năm 1972, ông nhận được quyết định đi thực tập sinh cao cấp để làm luận án Tiến sĩ khoa học.
Nếu phát triển luận án Tiến sĩ thành luận án Tiến sĩ khoa học trong lĩnh vực tâm lý học thần kinh thì không khó khăn gì đối với ông. Nhưng ông phải chuyển đề tài sang một lĩnh vực khác để đáp ứng yêu cầu của Nhà nước Việt nam. Tới Mátcơva ông vội đến báo cáo với GS. Lêônchiép: “Chính phủ Việt nam cho tôi sang làm luận án Tiến sĩ khoa học, nhưng không tiếp tục đề tài tâm lý học thần kinh mà phải làm đề tài gì có thể phục vụ trực tiếp đối với việc xây dựng ngành tâm lý học Việt nam”. Ông cũng nói ý kiến này với GS. Luria. Hai ông đều nói với ông yên tâm và vấn đề này có thể giải quyết được.
Giáo sư Lêônchiép gợi ý cho Ông có thể lấy chủ đề so sánh tâm lý học Liên Xô và tâm lý học Mỹ làm đề tài nghiên cứu. Theo gợi ý của giáo sư, hàng ngày ông đi thư Viện Lênin để sưu tầm tài liệu và tìm hiểu nội dung mà giáo sư Lêônchiép đã gới ý cho ông. Hai năm chắc không xong, không hiểu với 4 năm là thời hạn có thể xin được, như bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã nói, có thể viết xong không? Điều lo lắng đó đã thôi thúc ông làm việc cả ngày, cả đêm. Ông nghĩ có chí, làm nên! Đó là phương châm sống của ông. Phương châm sống “Có chí, làm nên” đã nảy nở từ bao giờ ông không xác định được, nhưng vang vọng trong lòng nổi bật từ những ngày ấy!
Viết xong luận án, Ông xem lại lần cuối cùng bản đánh máy, chuẩn bị đưa các phản biện đọc luận án và cho ý kiến. Giáo sư Lêônchiép đọc toàn văn luận án của ông, chữa ít chỗ và quyết định cho bảo vệ. Các phản biện đều đánh giá cao và nhất trí cho bảo vệ. Hội đồng khoa học của khoa nhất trí cho bảo vệ tại Hội đồng Nhà nước. Buổi bảo vệ thành công rất tốt đẹp. Hơn 4 năm rưỡi lao động vất vả. Cảm động rơi nước mắt, tay ông run run nhận tấm bằng Tiến sĩ khoa học Tâm lý, số 000029 ngày 15 tháng 7 năm 1977 của Hội đồng chấm thi cao nhất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.
Ba lần học tập và nghiên cứu tại Liên Xô không chỉ đem lại cho Phạm Minh Hạc nền tảng học thuật vững chắc mà còn giúp ông tiếp cận trực tiếp với các trường phái tâm lý học và giáo dục học tiên tiến của thế giới, đặc biệt là trường phái tâm lý học hoạt động. Từ nền tảng đó, ông đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho sự phát triển của tâm lý học hiện đại và khoa học giáo dục nước ta. Đây cũng là cơ sở hình thành phong cách nghiên cứu luôn kết hợp giữa lý luận, thực nghiệm và yêu cầu thực tiễn của giáo dục Việt Nam.
3. Giảng dạy và nghiên cứu ở trường đại học Sư phạm Hà Nội
Tâm lý học là một khoa học thực nghiệm, vì vậy ngay từ đầu, sau khi ông tốt nghiệp đại học, ông trở lại trường và bắt tay vào dạy học. Ông đã cùng với các cán bộ Tổ tâm lý học-Giáo dục học trường đại học Sư phạm Hà Nội, tiến hành nghiên cứu trí nhớ của học sinh cấp 1 và cấp 2 ở trường phổ thông Yên hoà, Từ Liêm và trường cấp 2 Lý Thường Kiệt, Ba đình, Hà nội. Hồi đó, tâm lý học thực nghiệm ở nước ta còn mới mẻ. Tổ đã tổ chức thực nghiệm về trí nhớ và tư duy, ông phụ trách nhóm nghiên cứu trí nhớ. Kết quả viết thành một báo cáo, năm 1965 trình bày tại một hội nghị khoa học Viện khoa học giáo dục. Trong bài viết, ông đã đưa ra các con số chứng minh về trí nhớ máy móc ở các em học sinh Việt Nam cũng giống như ở các nước khác, nói chung cũng đạt “con số thần kỳ 7 ± 2”, tức là nhớ máy móc thường nhớ được từ 5 đến 9 đơn vị.
Trong thời gian này, một vinh dự lớn đối với ông, ngày 4 tháng 9 năm 1963 ông được kết nạp Đảng Cộng sản Việt nam. Đấy là “chính thức hoá” sự công nhận của Đảng, của nhà nước, của xã hội đối với ông.
Giai đoạn công tác tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có ý nghĩa đặc biệt đối với sự trưởng thành của Phạm Minh Hạc với tư cách là một nhà khoa học. Đây là thời kỳ ông từng bước khẳng định năng lực nghiên cứu thực nghiệm trong tâm lý học, đồng thời hình thành quan điểm xuyên suốt về mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học với hoạt động đào tạo giáo viên. Những công trình nghiên cứu ban đầu về trí nhớ, tư duy và sự phát triển tâm lý học sinh đã đặt nền tảng cho các hướng nghiên cứu lớn hơn của ông trong các giai đoạn sau.
4. Vài nét về gia đình GS. Phạm Minh Hạc.
Khi nói về cuộc đời và sự nghiệp của ông, không thể không nói đến việc xây dựng gia đình của ông và gia đình nhỏ của ông.
Ở lớp Đoàn, trường đại học Sư phạm Hà Nội, lớp ông dạy tâm lý học, ông cảm tình với một cô sinh viên vừa đẹp người, vừa đẹp nết, có tên là Hoàng Anh. Dần dà tình yêu chớm nở, cô sinh viên Hoàng Anh hình như cũng cảm thấy thật may mắn gặp được ông. Thế là ông báo cáo với bố mẹ ông và chờ cô sinh viên Hoàng Anh tốt nghiệp, ông xin phép bố mẹ hai bên cho làm lễ cưới.
Sau lễ thành hôn, ông lại trở về nơi công tác. Ông tiếp tục công tác giảng dạy và nghiên cứu còn cô vợ trẻ Hoàng Anh được điều động về trường làm công tác Đoàn. Ít lâu sau, Hoàng Anh được điều về khoa làm công tác giảng dạy tâm lý học, năm 1984 được đi theo chế độ thực tập sinh 1 năm ở Mátscơva, về tiếp tục công tác giảng dạy. Năm 1991 bảo vệ thành công học vị Tiến sĩ tâm lý học, đến năm 2001 được phong Phó giáo sư Tâm lý học. PGS.TS. Hoàng Anh đã hướng dẫn nhiều thạc sĩ và tiến sĩ. Bà là tác giả và đồng tác giả một số sách như: Giao tiếp sư phạm (1995), dùng cho sinh viên sư phạm); Giao tiếp sư phạm (2001), dùng cho giáo viên; Giáo trình tâm lý học giao tiếp (2004), dùng cho sinh viên ngành quản lý giáo dục; 300 tình huống giao tiếp sư phạm (2005), v.v., Sách của Bà rất nhiều giáo viên và học sinh sử dụng trong công tác giảng dạy và học tập. PGS.TS. Hoàng Anh thực sự là người vợ chu đáo, đảm đang lo toan mọi công việc gia đình, chăm sóc cha mẹ già. Gia đình là chỗ dựa tinh thần vững chắc để Giáo sư Phạm Minh Hạc yên tâm cống hiến cho sự nghiệp khoa học và giáo dục. Phu nhân của ông, PGS.TS. Hoàng Anh, cũng là một nhà khoa học tâm lý có nhiều đóng góp trong lĩnh vực tâm lý học sư phạm và đào tạo giáo viên. Sự đồng hành của hai nhà khoa học đã tạo nên một gia đình tiêu biểu về truyền thống hiếu học, nghiên cứu khoa học và cống hiến cho nền giáo dục Việt Nam
Hai Ông Bà có 02 hai con trai là Phạm Hoàng Minh Long, Phạm Hoàng Minh Ly đều đã trưởng thành.
5. GS. Phạm Minh Hạc làm việc tại Viện khoa học giáo dục
Nhận bằng xong, phấn khởi lắm, ông vội vã chuẩn bị về nước. Ông lại được về Viện khoa học giáo dục, nhận nhiệm vụ trưởng Ban tâm lý học. Về Viện ông đã bắt tay ngay vào công việc nghiên cứu của viện. Đề tài đầu tiên ông đề xuất là nghiên cứu trẻ em phạm pháp. Công trình tiến hành trong 3 năm 1978-1980. Ông cùng một nhóm cán bộ trực tiếp thực hiện đề tài này tại Trường phổ thông công nông nghiệp đóng tại Thuỷ nguyên, Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu cho hay phần lớn trẻ em phạm pháp thuộc lứa tuổi 12-14, liên quan nhiều đến hoạt động giao tiếp. Nguyên nhân dẫn trẻ đến các hành vi phạm pháp có tới 83% trường hợp phạm pháp do quan hệ với các bạn xấu.
Với cương vị trưởng Ban, ông chỉ đạo Ban hàng tuần sinh hoạt chuyên môn đều đặn, có các buổi bồi dưỡng, các nhóm thảo luận kết quả nghiên cứu. Ngoài sinh hoạt ở Ban, một số buổi báo cáo chuyên đề, người nghe gồm một số cán bộ trong Viện, một số cán bộ nghiên cứu tâm lý học ở một số trường Đại học và Viện nghiên cứu. Hoạt động của Ban rất sôi nổi! Một số kết quả nghiên cứu được in và phát hành sau năm 2000. Ngoài ra, Ban còn tổ chức đi thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh; chuẩn bị cho Hội thảo khoa học vào tháng 8 năm 1978 tại Nha trang do Viện khoa học giáo dục tổ chức. Đây là hội thảo toàn quốc lần thứ nhất (sau ngày Đại thắng mùa xuân 1975) của giới tâm lý học và giáo dục Việt Nam.
Đầu năm 1980 ông được đề bạt làm phó Viện trưởng Viện khoa học giáo dục. Thời gian này ông giành nhiều thời giờ xuống các trường phổ thông và tiếp tục nghiên cứu khoa học. Ông có cơ hội tìm hiểu công việc chung của Viện, hàng tuần tham gia giao ban Viện, cũng như biết các việc của bộ giao cho Viện. Việc chủ yếu của ông vẫn tập trung vào hoạt động của Ban tâm lý học. Ngoài ra, ông giành nhiều thời giờ xuống trường phổ thông công nông nghiệp ở Thuỷ nguyên, Hải Phòng. Ở cương vị mới này ông thấy, tình hình nghiên cứu khoa học của Viện rất tản mạn. Ngoài Viện khoa học giáo dục còn có vài ban nghiên cứu trực thuộc bộ. Ông đã phát biểu với lãnh đạo Bộ và đề xuất hướng giải quyết. Trong thời gian này ông đã tập trung nghiên cứu về khoa học giáo dục: đối tượng của khoa học giáo dục; nguyên lý giáo dục; nội dung giáo dục...ông đã đăng đàn bài viết “ Đối tượng của khoa học giáo dục và việc nghiên cứu giáo dục” (tạp chí Giáo dục số 2 năm 1980), Bài viết đã khẳng định vai trò của khoa học giáo dục đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng, với sự phát triển đất nước nói chung. Qua đó, góp phần khẳng định vai trò của Viện khoa học giáo dục. Ông nghĩ nghiên cứu gì thì nghiên cứu, nhưng phải có ích cho đất nước - đó là đường hướng hoạt động của ông.
Với tư cách là Phó Viện trưởng Viện khoa học giáo dục, ông được bầu, trúng cử đại biểu quốc hội, thành viên của đoàn đại biểu Vĩnh Phú.
Đến nhiệm kỳ thứ hai ông được bầu là đại biểu Quốc hội ở Hà Nam Ninh. Thu hoạch đáng kể là hiểu thêm thực tế đời sống của nhân dân địa phương, góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương của Bộ và chỉ đạo công việc. Ông nghĩ làm lãnh đạo và làm khoa học phải gắn bó với thực tế đất nước. Và tất nhiên, phải theo đường lối phát triển của đất nước nữa.
Quý 2 năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện khoa học giáo dục. Lúc này các Ban nghiên cứu trực thuộc Bộ đưa về Viện, số cán bộ của Viện lên tới khoảng hơn 500. Với cương vị là Viện trưởng, ông bắt tay ngay vào công việc. Trước hết là củng cố Hội đồng khoa học, động viên các cán bộ toàn Viện, có yêu cầu riêng với cán bộ chủ chốt, bắt tay cùng thực hiện các đề tài. Tình hình của Viện có sự chuyển biến rõ rệt, hoạt động trong Viện sôi động hơn. Viện trưởng gặp riêng các Tiến sĩ và các vị lão thành, giao nhiệm vụ và kêu gọi mọi người cùng tiến hành các công trình nghiên cứu. Bên cạnh công tác quản lý, ông vẫn trực tiếp tham gia nghiên cứu. Trong khoảng thời gian này ông đã công bố 19 bài báo với 19 nội dung nghiên cứu và đã được đưa vào sách “Luận bàn về giáo dục, quản lý giáo dục, khoa học giáo dục” và 7 công trình được được in trong sách “Luận bàn về tâm lý học và nghiên cứu con ngươì”.
Ông chủ động cùng một số cán bộ chủ chốt của Viện xây dựng chương trình nghiên cứu 5 năm 1981 - 1985, gồm 17 vấn đề: Khoa học giáo dục trong bảng phân loại khoa học hiện đại; Tổng kết kinh nghiệm phát triển giáo dục nước nhà; Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục; Phát triển giáo dục vùng đồng bằng sông Cửu Long; Giáo dục lao động và công tác hướng nghiệp; Điều tra cơ bản về chỉ số sinh lý và phát triển thể chất của học sinh; Quy luật hoạt động chủ đạo của học sinh; Tìm hiểu nguyên nhân trẻ em phạm pháp; Xây dựng và phát triển tâm lý học Việt nam.
Giai đoạn công tác tại Viện Khoa học Giáo dục đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của GS. Phạm Minh Hạc với tư cách là nhà lãnh đạo khoa học. Dưới sự chỉ đạo của ông, hoạt động nghiên cứu giáo dục từng bước chuyển từ những nghiên cứu riêng lẻ sang định hướng chiến lược, gắn với yêu cầu phát triển đất nước và đổi mới giáo dục. Việc xây dựng các chương trình nghiên cứu dài hạn, mở rộng hợp tác quốc tế và chú trọng đào tạo đội ngũ nghiên cứu đã góp phần nâng cao vị thế của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học giáo dục nước ta trong những thập niên tiếp theo.
Trong những năm làm Viện trưởng, ông đã mở rộng hợp tác với nhiều nước như Liên xô và Cộng hòa dân chủ Đức; Lãnh đạo vài tổ chức của UNESCO Bangkok. Với tư cách là Viện trưởng, ông tham dự Hội nghị các Viện Khoa học giáo dục các nước XHCN ở Bungari và Tiệp khắc. Tìm hiểu, học tập kinh nghiệm phát triển giáo dục ở các nước rất cần thiết và rất có ích cho công tác nghiên cứu. Phải chú ý tác dụng thực tiễn của công tác nghiên cứu khoa học với đất nước. Sự trưởng thành và phát triển và uy tín trong nước và trên trường quốc tế của Viện khoa học giáo dục không thể không kể đến sự đóng góp to lớn của Ông.
Năm 1984 Ông nhận được quyết định phong hàm Giáo sư do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký, không qua hàm Phó giáo sư. Từ đó, ông càng có ý thức hơn về trách nhiệm mới: đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, xây dựng các chương trình nghiên cứu, đào tạo nghiên cứu sinh và củng cố, phát triển đội ngũ nghiên cứu khoa học giáo dục mạnh cho Viện. Điểm lại các hoạt động đã và đang chỉ đạo của Ông, có thể nói công lao lớn của Ông đối với Viện khoa học giáo dục trên các công việc nổi bật sau: Kiệm toàn cơ cấu tổ chức của Viện một cách khoa học và hiệu quả; Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học một cách bài bản cả về lý thuyết và cả về thực nghiệm; cả nghiên cứu chiến lược lẫn nghiên cứu đáp ứng theo yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội; Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Viện cũng như như cho toàn ngành giáo dục;
Vị thế, uy tín của Viện khoa học giáo dục càng ngày càng cao ở trong nước và trên thế giới.
6. Tham gia lãnh đạo Bộ giáo dục và đào tạo
GS.Phạm Minh Hạc được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ giáo dục từ nửa đầu năm 1985, kiêm Viện trưởng Viện KHGD. Vừa mới nhận chức, GS Phạm Minh Hạc đã bắt tay ngay vào củng cố, sắp xếp bộ máy Văn phòng bộ. Tình hình khi đó khó khăn lắm, đang trong tình trạng khủng hoảng, lạm phát lên hơn 800%, nhiều nơi học sinh bỏ học, giáo viên bỏ trường. Ông chỉ đạo Hội nghị giám đốc các sở giáo dục họp ở Vũng tàu và thống nhất đưa ra khẩu hiệu “Giữ vững, củng cố, phát triển” và nhất trí cùng nhau hợp tác thực hiện chương trình công tác gồm 10 điểm để duy trì, củng cố giữ vững hệ thông giáo dục trong cả nước.
Trong công tác Lãnh đạo Bộ, Giáo sư đã tiếp thu tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “giáo dục không chỉ là bộ phận của cuộc cách mạng tư tưởng-văn hoá, mà gắn với cả cuộc cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật. Cần chấm dứt ngay “cách nhìn giáo dục như một ngành phúc lợi”. Từ quan điểm này, Bộ Giáo dục đã cụ thể hoá thành 92 chỉ tiêu cho cấp 1 và 120 chỉ tiêu cho cấp 2.
Lúc này “Đổi mới tư duy giáo dục” mà Đại hội VI của Đảng coi là bức thiết, là vấn đề sống còn của sự nghiệp phát triển đất nước. Cụm từ “Đổi mới tư duy giáo dục” nghe sao mà vừa quen vừa lạ. Đổi mới tư duy giáo dục là đổi mới cái gì? đổi mới như thế nào? và đổi mới bằng cách nào? Tất cả đều phải bắt tay từ đầu. Nhận thức được tầm quan quan trong đó, Giáo sư có lẽ là một trong những người đầu tiên đã có những suy tâm mới về cách làm giáo dục nghĩa là làm thế nào cho sự nghiệp phát triển giáo dục đáp ứng được với nhu cầu phát triển xã hội. Giáo sư đã có nhiều bài viết với tư tưởng chỉ đạo: Muốn tiến nhanh, phải giải quyết đúng vấn đề giáo dục: Giáo dục là nhân tố hết sức cơ bản để có con người mới, có lực lượng sản xuất tương thích, phát triển đất nước. Nói chung lại, đó là vấn đề con người có năng lực và phẩm chất đóng góp thúc đẩy tiến bộ xã hội và cuộc sống.
Tiếp thu những tư tưởng chỉ đạo của Tổng bí thư Đỗ Mười về giáo dục và đào tạo: “... khẳng định quan điểm của Đảng ta coi giáo dục là một điều kiện tiên quyết để thúc đẩy và phát triển kinh tế, đưa giáo dục vào phạm trù kinh tế-xã hội. Đơn đặt hàng của kinh tế-xã hội đối với giáo dục lúc này là hình thành từ thế hệ trẻ những con người hết sức năng động và sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, có ý chí đưa đất nước đi lên, có đầy đủ nghị lực vượt khó và không chấp nhận tình trạng phải sống nghèo khổ, lạc hậu giữa thế giới hiện đại. Đó là những nét cơ bản trong mô hình nhân cách.
Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng bộ giáo dục, tại phiên họp Hội đồng bộ trưởng ngày 21/2/1989 ông thay mặt Ban thư ký Uỷ ban cải cách giáo dục (CCGD), trình bầy báo cáo 10 năm (1979-1989) thực hiện Nghị quyết 14 Bộ chính trị (ban hành ngày 11/1/1979) về việc thực hiện Nghị quyết 14. Báo cáo viết dưới sự chỉ đạo của Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, cùng Ban khoa giáo trung ương và Văn phòng chính phủ tham gia ý kiến. Trong bản báo cáo đó đưa ra nhận định: CCGD chưa đạt được mục tiêu hình thành nhân cách và bản lĩnh cho thế hệ trẻ; chưa thực hiện được phổ cập giáo dục cấp 1; chất lượng giáo dục thấp, nội dung giáo dục còn “quá tải”, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chương trình, sách giáo khoa còn một số nhược điểm.
Báo cáo cũng đề xuất phương hướng điều chỉnh CCGD mục tiêu đào tạo: con người lao động có lý tưởng XHCN, có ý chí cách mạng, có nghị lực, có văn hoá, kỹ thuật, sức khoẻ, có bản sắc dân tộc. Đặc biệt, phải đào tạo nhiều người giỏi; điều chỉnh hệ thống giáo dục: đa dạng hoá loại hình trường lớp, hiện đại hoá nội dung, phương pháp giáo dục; đổi mới cơ chế đầu tư giáo dục; tiếp tục cải cách sư phạm; đổi mới quản lý giáo dục theo hướng dân chủ hoá giáo dục.
Những đề xuất phương hướng điều chỉnh CCGD đã làm chuyển biến nhận thức trong các cấp lãnh đạo và đi đến thống nhất tư tưởng: không coi giáo dục là một thứ phúc lợi, mà đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Quan niệm đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển gắn liền với quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Hội nghị Trung ương 2 (cuối 1996) khóa VIII thông qua Nghị quyết về giáo dục đã theo quan điểm này.
Trong giai đoạn đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Bộ Giáo dục, GS. Phạm Minh Hạc đã góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới tư duy giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đầu Đổi mới. Nhiều quan điểm do ông đề xuất hoặc trực tiếp tham gia xây dựng, như coi giáo dục là động lực của phát triển, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với quá trình hoạch định chính sách giáo dục quốc gia. Không chỉ là nhà quản lý, ông còn là nhà khoa học luôn đặt các quyết sách trên nền tảng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Đây là nét đặc sắc trong phong cách lãnh đạo của GS. Phạm Minh Hạc.
7. Ban Khoa giáo trung ương
Đại hội đại biểu Đảng lần thứ 8, GS. Phạm Minh Hạc là ủy viên chính thức Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 8 (1996-2001). GS được điều về Ban khoa giáo làm Phó trưởng ban thứ nhất kiêm thường trực, được phân công dự thảo văn bản về phát triển giáo dục. Dự thảo được Bộ chính trị thảo luận 2 lần và thông qua, trình hội nghị trung ương họp cuối năm 1996. Ngày nay trong hệ thống giáo dục có cả trường công và trường tư, cùng chung một sứ mệnh là phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực. Vấn đề giáo dục và đào tạo phải gắn bó với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là với vấn đề cơ cấu lao động đang đòi hỏi phải xử lý thật khoa học.
Tham gia Ban Khoa giáo Trung ương, GS. Phạm Minh Hạc có điều kiện trực tiếp tham mưu với Đảng về chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những đóng góp của ông trong quá trình xây dựng các văn kiện về giáo dục đã góp phần hình thành nhiều chủ trương lớn của Đảng, tiếp tục khẳng định vai trò của giáo dục trong phát triển nguồn nhân lực và phát triển bền vững đất nước.
8. Chủ tịch Ủy ban quốc gia xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Hưởng ứng Tuyên ngôn “giáo dục cho mọi người”, và năm quốc tế chống mù chữ, ngày 27/09/1989 Chính phủ đã quyết định thành lập Ủy ban Quốc gia chống mù chữ (UBQGCMC), bổ nhiệm GS. Phạm Minh Hạc Chủ tịch. UBQGCMC là cơ quan phối hợp liên Bộ, Ngành, bao gồm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và 6 thứ trưởng của các Bộ Tài chính, Bộ LĐTB và XH, Bộ Văn hóa thông tin, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch đầu tư và lãnh đạo của 4 đoàn thể là: Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, Hội Nông dân VN, Tổng Liên đoàn lao động VN, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Ủy ban có hệ thống tổ chức theo chiều dọc đến các xã, phường. Tại cấp tỉnh, thành phố, quận huyện đến các xã, phường thành lập Ban chỉ đạo CMC do đồng chí Phó chủ tịch phụ trách văn xã làm Trưởng Ban. Uỷ ban hoạt động từ năm 1990 đến năm 2000.
Trong phiên họp đầu tiên của Ủy ban, Giáo sư xác định muốn công tác CMC đạt kết quả cần phải thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:
- Đổi mới chương trình, nội dung sách xóa mù chữ và tiếp tục sau xóa mù chữ.
- Nhiệm vụ tiếp theo là phải chỉ đạo các cơ quan, đoàn thể, cả hệ thống chính trị các địa phương hành động quyết liệt, coi nhiệm vụ xóa mù chữ phải là nhiệm vụ chính trị của các tổ chức chính trị xã hội ở giai đoạn cách mạng này.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, mỗi đoàn thể mà Chủ tich quy định nội dung công việc mà ngành, đoàn thể đó phải thực hiện. Nhờ đó mà các Bộ đã quan tâm hơn đến công tác CMC, các đoàn thể đã có kế hoạch hành động hàng năm huy động đoàn viên của đoàn thể mình tham gia công tác XMC – PCGDTC.
Nhờ thực hiện các biện pháp quyết liệt, tích cực mà mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra cho sự nghiệp CMC-PCGĐTH đến năm 2000 đã được thực hiện thắng lợi. Đến cuối tháng 6/2000 đã có 61 tỉnh, thành phố với 597 quận, huyện (trong tổng số 609 quận, huyện) 10.339 xã, phường (trong tổng số 10.554 xã phường), nghĩa là 100% số tỉnh, thành phố, 98% số quận, huyện và 98,5% số xã, phường đã đạt chuẩn quốc gia về CMC-PCGĐTH.
Kết quả 10 năm XMC - PCGDTC có sự đóng góp không nhỏ của Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc.Tổng kết công tác xoa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, ông được Chủ tịch nước thưởng Huân chương lao động hạng nhất (ký ngày 14 tháng 3 năm 2001).
Thành công của Chương trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cuối thế kỷ XX là một dấu ấn quan trọng trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Với cương vị Chủ tịch Ủy ban Quốc gia chống mù chữ, GS. Phạm Minh Hạc đã thể hiện năng lực tổ chức, điều phối liên ngành và huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị cho một mục tiêu giáo dục có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Những kinh nghiệm được hình thành trong giai đoạn này vẫn còn nguyên giá trị đối với việc xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời ở Việt Nam hiện nay.
9.Viện nghiên cứu con người thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội (1999-2007)
Ông là người sáng lập và là Viện trưởng Viện nghiên cứu con người thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (1999 – 2007).
Viện nghiên cứu con người có chức năng nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về con người; phát triển lĩnh vực khoa học nghiên cứu con người; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược, chính sách phát triển con người và nguồn lực con người Việt Nam; tổ chức tư vấn và tham gia đào tạo phát triển nguồn nhân lực của cả nước.
Từ chức năng trên Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã tổ chức triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu của Viện: Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu liên ngành về khoa học con người; Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về khoa học con người; Nghiên cứu các vấn đề thực tiễn và tư vấn chính sách về các vấn đề phát triển con người và khoa học con người đáp ứng sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; Kết hợp nghiên cứu với tham gia đào tạo trong lĩnh vực nghiên cứu con người, tham gia đào tạo sau đại học, phối hợp tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn về các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu con người, phát triển con người, tham gia phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của Viện Hàn lâm và theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài, phù hợp với quy định của pháp luật; Hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Viện thực hiện góp ý và phản biện các chương trình, kế hoạch, chiến lược, dự án phát triển kinh tế - xã hội theo đề nghị của các bộ, ngành, địa phương và theo sự phân công của Viện Hàn lâm; Tổ chức tư vấn khoa học và thực hiện cung cấp dịch vụ khoa học về những vấn đề kinh tế - xã hội phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu Con người; Ký kết thực hiện các hợp đồng nghiên cứu và ứng dụng khoa học với các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật và của Viện Hàn lâm.
Việc thành lập Viện Nghiên cứu Con người thể hiện tầm nhìn khoa học của GS. Phạm Minh Hạc trong việc tiếp cận con người như một đối tượng nghiên cứu liên ngành. Ông cho rằng phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững; vì vậy, nghiên cứu con người không chỉ thuộc lĩnh vực giáo dục hay tâm lý học mà cần có sự kết nối với kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học quản lý. Quan điểm này đã góp phần mở rộng phạm vi nghiên cứu của khoa học giáo dục Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới.
Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Viện nghiên cứu con người đã đạt được những kết quả nhất định và có uy tín trong xã hội.
10.Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2013-2015)
Ngày 14/11/2012, Liên hiệp Hội Việt Nam đã có quyết định số 760/QĐ-LHHVN về việc thành lập Viện Nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người và bổ nhiệm GS. Phạm Minh Hạc làm Viện trưởng.
Dưới sự lãnh đạo của Giáo sư, Viện Nghiên cứu tiềm năng con người, hoạt động trên hai lĩnh vực chủ yếu là nghiên cứu và ứng dụng những khả năng đặc biệt của con người vào phục vụ đời sống xã hội. Giáo sư, cho biết Viện sẽ tiến hành nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn những vấn đề liên quan đến khả năng đặc biệt của con người và phát triển tiềm năng con người bằng biện chứng khoa học hiện đại. Trong công tác ứng dụng, viện sẽ triển khai các kết quả nghiên cứu, nhằm đưa những khả năng đặc biệt của con người vào phục vụ đời sống xã hội theo bản sắc văn hóa dân tộc, tiến hành tư vấn, bồi dưỡng, phổ biến tri thức, hợp tác với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, thực hiện nhiệm vụ của Viện là phát huy tiềm năng con người.
Lãnh đạo Liên hiệp hội đã đánh giá các hoạt động của Viện: “Trải qua một thời hoạt động, mặc dù chưa có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, tập thể cán bộ và nhà khoa học của Viện đã tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng thông qua các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, các hội thảo, hội nghị khoa học như “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu khoa học tiềm năng con người”, “Tổng kết đánh giá 20 năm tìm hài cốt liệt sĩ bằng khả năng đặc biệt”…Các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học đã được các cấp bộ, ngành đánh giá cao. Một số hoạt động triển khai ứng dụng của các đơn vị trong Viện rất đa dạng và đạt được hiệu quả đáng ghi nhận trong đó có việc nâng cao sức khỏe cộng đồng bằng khả năng đặc biệt và bằng các phương pháp dân gian cứu giúp được hàng ngàn bệnh nhân khi các phương pháp chữa bệnh khác mà Tây y và Đông y không đem lại hiệu quả.
Trong cương vị Viện trưởng, GS. Phạm Minh Hạc luôn nhấn mạnh yêu cầu tiếp cận các hiện tượng liên quan đến tiềm năng con người bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, bảo đảm tính khách quan, thận trọng và hướng tới những giá trị có ích cho cộng đồng. Điều đó phản ánh phong cách làm việc nhất quán của ông: tôn trọng thực chứng khoa học, đồng thời luôn khuyến khích tìm tòi, khám phá những vấn đề mới phục vụ sự phát triển con người.
11. Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam
Giáo sư Phạm Minh Hạc là người đồng sáng lập, đồng thời là người đứng đầu Hội Khoa họcTâm lý Giáo dục Việt Nam như một hội nghiên cứu chuyên ngành . Trong 20 năm, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã cùng các đồng nghiệp tập hợp lực lượng các nhà nghiên cứu và giảng dạy tâm lý học, giáo dục học cả nước, từ Trung ương đến các trường học phổ thông và đại học cùng những người quan tâm tới khoa học giáo dục nói chung, nhằm góp phần phát triển tâm lý học, giáo dục học và cũng qua hoạt động của Hội mà đóng góp của mỗi người cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Đến nay Hội đã tồn tại gần 30 năm. 30 năm đó cũng là 30 năm phát triển và trở nên vững vàng qua các thử thách của Hội. Hội đã thực sự trưởng thành với nhiều hoạt động đa dạng và đặc biệt là đã có chất lượng có mục đích rõ ràng, cụ thể. Có được các thành tựu đó phải kể đến vai trò lãnh đọa của Chủ tịch Phạm Minh Hạc.
Trên cương vị Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, GS. Phạm Minh Hạc đã góp phần quy tụ đội ngũ các nhà khoa học, giảng viên và giáo viên trong cả nước tham gia nghiên cứu, trao đổi học thuật và tư vấn chính sách giáo dục. Dưới sự dẫn dắt của ông, Hội không chỉ là diễn đàn khoa học mà còn là cầu nối giữa nghiên cứu với thực tiễn giáo dục, góp phần lan tỏa những thành tựu của khoa học tâm lý và giáo dục vào hoạt động dạy học, quản lý và đào tạo giáo viên. Đây là một trong những đóng góp bền vững của Giáo sư đối với sự phát triển cộng đồng khoa học giáo dục Việt Nam.
12. Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam
Từ năm 2004, theo đề nghị Ban Vận động thành lập Hội Cựu giáo chức Việt Nam, được Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban Tổ chức Trung ương đồng ý , Giáo sư, Phạm Minh Hạc được bầu là Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam bên cạnh Chủ tịch danh dự là Nhà giáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và GS.NGND Trần Văn Giàu tại Đại hội lần thứ nhất (03/7/2004).
Với phong cách làm việc nghiêm túc và ý chí phấn đấu không ngừng, với thời gian dài đứng trên bục giảng, dành một tình yêu lớn lao đối với học sinh, sinh viên, dù ở cương vị nào ông cũng có những trăn trở, suy tư, đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, về tổ chức hệ thống giáo dục, về xây dựng đội ngũ nhà giáo. Cả cuộc đời cống hiến cho giáo dục, cho nghiên cứu khoa học giáo dục, cho đội ngũ làm giáo dục, Giáo sư, Phạm Minh Hạc đã được, phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân vào năm 2010.
Suốt 15 năm trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam với 3 nhiệm kỳ đại hội, Giáo sư, Phạm Minh Hạc đã dẫn dắt xây dựng, phát triển, hoạt động của Hội Cựu giáo chức Việt Nam từ không đến có, từ sự nhỏ lẻ ban đầu đến nay đã trở thành một hệ thống các Hội trong cả nước, phủ khắp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đại học, trường đại học, học Viện trong cả nước, tiếp tục chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho hơn 600,000 nhà giáo, cán bộ viên chức giáo dục về hưu như một sự tri ân đối với mọi người đã cống hiến cả cuộc đời cho giáo dục, đồng thời nêu một tấm gương sáng để mỗi nhà giáo phát huy trí tuệ, kinh nghiệm cho sự nghiệp đổi mới giáo dục nước nhà và vị thế Nhà giáo trong xã hội.
Với kiến thức khoa học uyên thâm, với tác phong công tác tỉ mỉ, sát thực tiễn, có trí tuệ, gần gũi với cấp dưới, Giáo sư, Phạm Minh Hạc đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiều trọng trách, được bè bạn, đồng chí, học trò tin tưởng và kính trọng.
Có thể khẳng định rằng, một trong những dấu ấn đặc sắc của GS. Phạm Minh Hạc là tư tưởng phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của đội ngũ nhà giáo nghỉ hưu. Theo ông, khi hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và quản lý, người thầy không kết thúc sứ mệnh đối với giáo dục mà tiếp tục cống hiến thông qua nghiên cứu, tư vấn, phản biện, truyền nghề và tham gia các hoạt động xã hội. Dưới sự lãnh đạo của ông, Hội Cựu giáo chức Việt Nam đã từng bước phát triển thành một tổ chức xã hội – nghề nghiệp có uy tín, góp phần chăm lo đời sống hội viên và phát huy nguồn lực trí tuệ của đội ngũ cựu giáo chức đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục. Quan điểm này đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời ở Việt Nam.
Kết luận
Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc gắn liền với những chặng đường phát triển quan trọng của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Từ một cán bộ tuyên truyền trong những năm kháng chiến, một nhà tâm lý học được đào tạo bài bản ở Liên Xô, đến nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà hoạch định chính sách và người đứng đầu nhiều tổ chức khoa học, ở mỗi cương vị, Giáo sư đều để lại những dấu ấn sâu sắc bằng trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần cống hiến không mệt mỏi.
Di sản mà Giáo sư Phạm Minh Hạc để lại không chỉ là hàng trăm công trình nghiên cứu, nhiều chính sách giáo dục có giá trị, hay những tổ chức khoa học do ông trực tiếp xây dựng và phát triển. Quan trọng hơn, đó là một hệ thống tư tưởng khoa học nhất quán, lấy con người làm trung tâm của giáo dục và phát triển. Tư tưởng ấy được thể hiện xuyên suốt trong các nghiên cứu về tâm lý học, khoa học giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời. Đến nay, nhiều quan điểm của Giáo sư vẫn giữ nguyên giá trị định hướng đối với quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.
Điều đáng trân trọng ở Giáo sư Phạm Minh Hạc không chỉ là tầm vóc của một nhà khoa học lớn, mà còn là nhân cách của một người thầy luôn tận tụy với học trò, gần gũi với đồng nghiệp, nghiêm cẩn trong nghiên cứu và khiêm nhường trong cuộc sống. Nhiều thế hệ cán bộ nghiên cứu, giảng viên và nhà giáo đã trưởng thành dưới sự dìu dắt, truyền cảm hứng của ông, tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị mà ông dày công vun đắp.
Giáo sư đã ra đi, nhưng những tư tưởng giáo dục, những công trình khoa học và những giá trị nhân văn mà ông để lại sẽ tiếp tục đồng hành cùng sự nghiệp phát triển giáo dục Việt Nam. Đó không chỉ là di sản của một nhà khoa học, mà còn là tài sản tinh thần quý báu của nền giáo dục nước nhà. Cuộc đời hơn chín thập niên của Giáo sư là minh chứng sinh động cho tinh thần học tập suốt đời, lao động khoa học nghiêm cẩn và cống hiến bền bỉ vì sự nghiệp "trồng người". Với các thế hệ nhà giáo và những người làm khoa học giáo dục, Giáo sư Phạm Minh Hạc sẽ luôn được trân trọng, tưởng nhớ như một trong những gương mặt tiêu biểu của nền giáo dục Việt Nam hiện đại.
Bài viết được hoàn thành trong niềm tiếc thương sâu sắc trước sự ra đi của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc (1935–2026). Tác giả xin thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn đối với những cống hiến to lớn của Giáo sư cho sự nghiệp giáo dục, khoa học giáo dục và sự nghiệp phát triển con người Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Minh Hạc (2012), Luận bàn về giáo dục, quản lý giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục Việt Nam.
- Phạm Minh Hạc (2013), Luận bàn về tâm lý học và nghiên cứu con người, NXB Giáo dục Việt Nam.
- Trần Đình Tuấn (2024). Những giá trị khoa học vượt trội trong công trình nghiên cứu của Giáo sư Phạm Minh Hạc với triết lý giáo dục Thế giới và Việt Nam. Trong cuốn “Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc với sự phát triển khoa học giáo dục Việt Nam”. Nxb Dân trí, tr.53-72.
- Nguyến Gia Cầu (2024). Một tầm nhìn chiến lược, toản diên, khoa học và sâu sắc về giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 21. Trong cuốn “Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc với sự phát triển khoa học giáo dục Việt Nam”. Nxb Dân trí, tr.35-52.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
- Quốc hội (2019), Luật Giáo dục, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), Kỷ yếu 80 năm phát triển giáo dục Việt Nam.
- Tô Bá Trượng (2024). cuộc đời và sự nghiệp của giáo sư, tiến sĩ khoa học viện sĩ, nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc. Trong cuốn “Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc với sự phát triển khoa học giáo dục Việt Nam”. Nxb Dân trí, tr.1-35.
Professor, doctor of science, academician, people's teacher pham minh hac: his life, career, and contributions to vietnamese education
Assoc. Prof. Dr. To Ba Truong
Abstract: This article provides an overview of the life, career, and outstanding contributions of Professor, Doctor of Science, Academician, People's Teacher Pham Minh Hac to the development of educational science, psychology, and the Vietnamese education system. Based on a systematic review of his educational background, scientific research, educational leadership, and social activities, the article analyzes his significant contributions to the development of educational theory, human science research, educational innovation, literacy eradication, universal education, and the development of the teaching profession. Furthermore, the article highlights the enduring value of Professor Pham Minh Hac's educational philosophy, particularly his advocacy of human development, holistic education, and lifelong learning, affirming these as an invaluable scientific legacy that continues to inspire the fundamental and comprehensive reform of education and training in contemporary Vietnam.
Keywords: Pham Minh Hac; educational science; psychology; human development; educational reform; lifelong learning; teachers; Vietnamese education.
Ý kiến bạn đọc