NHỮNG KHÓ KHĂN BẤT CẬP TRONG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

12:01 | 22/07/2023
Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đóng vai trò quan trọng trong công tác đào tạo nhân lực trực tiếp phục vụ sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Trong những năm qua, công tác GDNN ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước chú ý, tạo điều kiện phát triển và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Bên cạnh đó, vẫn còn có những điểm nghẽn cần được nhận thức và khắc phục.

NHỮNG KHÓ KHĂN BẤT CẬP TRONG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đóng vai trò quan trọng trong công tác đào tạo nhân lực trực tiếp phục vụ sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Trong những năm qua, công tác GDNN ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước chú ý, tạo điều kiện phát triển và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Bên cạnh đó, vẫn còn có những điểm nghẽn cần được nhận thức và khắc phục.

NHỮNG KHÓ KHĂN BẤT CẬP TRONG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ảnh các đại biểu tham dự hội thảo

Quảng cáo

1. Mạng lưới cơ sở Giáo dục Nghề nghiệp

Tại Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 03/9/2016 của Chính phủ về phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 8/2016, Chính phủ đã thống nhất giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) về GDNN. Theo đó, từ ngày 01/01/2017, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chính thức tiếp nhận chuyển giao công tác QLNN về GDNN, tiếp nhận toàn bộ trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng từ Bộ Giáo dục và Ðào tạo.

Đến nay, sau gần 6 năm chuyển giao, bộ máy QLNN về GDNN đã được kiện toàn từ trung ương tới địa phương. Việc quản lý được thực hiện theo hướng phân cấp mạnh cho địa phương và tăng tính tự chủ, đi đôi với tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDNN. Khi tiếp nhận, hệ thống GDNN có 1.989 cơ sở (gồm: 409 trường cao đẳng, 583 trường trung cấp và 997 trung tâm GDNN), đến cuối năm 2018, đã giảm xuống còn 1.954 cơ sở (bao gồm 394 trường cao đẳng, 515 trường trung cấp và 1.045 trung tâm GDNN). Tính đến tháng 6/2019, qua công tác quy hoạch, sắp xếp lại, cả nước còn 1.917 cơ sở GDNN, trong đó có 400 trường cao đẳng, 492 trường trung cấp, 1.025 trung tâm GDNN, giảm 37 cơ sở so với năm [1]. Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng trên thực tế, mạng lưới cơ sở GDNN vẫn còn bất cập về phân bố giữa các vùng, miền, ngành nghề, trình độ đào tạo, quy mô đào tạo của nhiều trường còn nhỏ. Các cơ sở GDNN tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung. Các vùng Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc là những vùng có ít các cơ sở GDNN, chủ yếu là các cơ sở GDNN phục vụ cho đào tạo nghề ngắn hạn, còn các trường cao đẳng và trung cấp có số lượng rất ít.

2. Đội ngũ giảng dạy

Tính đến hết tháng 12/2018, cả nước có tổng số 86.350 nhà giáo trong các cơ sở GDNN (trong đó có: 37.826 nhà giáo, giáo viên tại các trường cao đẳng, 18.198 nhà giáo tại các trường trung cấp và 15.481 nhà giáo tại các trung tâm GDNN) và có gần 14.845 nhà giáo thuộc các cơ sở khác có tham gia hoạt động GDNN. Ngoài ra, còn hàng ngàn người làm công tác đào tạo nghề ở các lớp đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp, làng nghề, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong các chương trình, đề án về đào tạo nghề nghiệp.

Đội ngũ cán bộ quản lý của các cơ sở GDNN tăng nhanh và từng bước đạt chuẩn. Hiện nay, tổng số cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp là 1559 người, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp là 19.189 người; gần 45% số cán bộ quản lý các cơ sở GDNN đã qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý về GDNN cả trong nước và nước ngoài.

3. Công tác tuyển sinh

Bảng 1. Kết quả tuyển sinh từ 2016 - 2018

Trình độ

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Tông cộng

2,074,667

2,204,400

2,210,000

Trình độ cao đẳng

91,559

230,400

219,800

Trình độ trung cấp

147,096

310,000

325,200

Cộng TC, CĐ

238,655

540,400

545,000

Sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác

1,836,012

1,664,000

1,665,000

Nguồn: Chuyên trang giáo dục nghề nghiệp (gdnn.edu.vn)

Cơ cấu trình độ đào tạo trong GDNN chưa hợp lý, chủ yếu vẫn là đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên, ngắn hạn (chiếm 75%); trình độ trung cấp, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 25% trên tổng số tuyển sinh. Công tác tuyển sinh trong GDNN gặp nhiều khó khan, thách thức, đặc biệt đối với những ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, ngành nghề đồi hỏi trình độ năng khiếu.

Thống kê cho thấy, trong nhiều năm qua, quy mô lao động qua đào tạo của nước ta chưa đáp ứng được so với yêu cầu của nền kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Điều đó thể hiện ở tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn rất thấp, chỉ chiếm 22,22% lực lượng lao động và có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị (14,29% và 39,71%). Chất lượng, năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam ở mức thấp so với các nước trong khu vực và quốc tế. Nhiều năm qua, mặc dù công tác phân luồng học sinh sau THCS luôn được quan tâm, nhưng mục tiêu tăng tỷ lệ học sinh sau THCS đi học nghề đến nay vẫn rất hạn chế. Chiến lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 đề ra mục tiêu là học sinh sau THCS vào GDNN chiếm tỷ lệ 30% vào năm 2020, có nghĩa là quy mô học sinh tốt nghiệp THCS vào hệ thống GDNN khoảng 320 nghìn đến 330 nghìn học sinh. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, chỉ có khoảng 8 – 10% số học sinh sau THCS đi học nghề. (Theo Nhân dân: “Đột phá để cải thiện chất lượng GDNN”).

4. Tình hình sáp nhập Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX), Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp công lập cấp huyện thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên

NHỮNG KHÓ KHĂN BẤT CẬP TRONG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Các học sinh đạt thành tích cao trong năm học 2021 – 2022 nhận giấy khen tại lễ tổng kết.

Thực hiện nghị quyết số 19 NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và nhằm thực hiện Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, các Bộ LĐTBXH, Bộ GD&ĐT, Bộ NV đã ban hành Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT/BLĐTBXH-BGD&ĐT-BNV ngày 15/10/2015 (sau đây gọi tắt là TT39) về Hướng dẫn sáp nhập Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX), Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp công lập cấp huyện thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên;

Việc thực hiện thông tư đã mang đến một số kết quả sau 5 năm triển khai: Theo đó, đến hết tháng 8/2017, cả nước có 57 tỉnh đã sáp nhập các Trung tâm theo TT39; Đến năm học 2018-2019 theo báo cáo của Vụ GDTX, Bộ GD&ĐT [2] đã có 547 Trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện được thành lập. Các trung tâm sáp nhập theo tính cơ học, ghép vào nhau, biên chế vẫn giữ nguyên để đảm bảo tính ổn định. Đây có thể là một khó khăn về sắp xếp nhân sự sau này. Phần lớn các địa phương đã theo đúng hướng dẫn của TT 39, tuy nhiên vẫn còn một số địa phương thực hiện chưa theo đúng hướng dẫn như Thanh Hóa, Quảng Ninh, An Giang, Bình Phước, Quảng Nam. Hiệu quả hoạt động của các trung tâm sau khi sáp nhập cũng là một vấn đề cần nghiên cứu. Theo kết quả nghiên cứu của VAEFA, một số trung tâm sau khi sáp nhập đã sớm ổn định tổ chức, đa dạng các hoạt động, mở rộng liên kết với các cơ sở dạy nghề và đạt hiệu quả bước đầu, điển hình như Trung tâm GDNN-GDTX huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Trung tâm GDNN-GDTX huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Trung tâm GDNN-GDTX huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Theo đánh giá của Bộ LĐ-TBXH [3]: “Chất lượng của GDNN đã có chuyển biến ban đầu; hệ thống GDNN đã được hình thành thống nhất,vận hành theo luật GDNN, đạt được kế hoạch tuyển sinh 2017, nhất là tuyển sinh trung cấp với đầu vào là THCS; chất lượng đào tạo được cải thiện (tỷ lệ học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt trên 70%); đang dần xuất hiện những mô hình và cơ sở đào tạo nghề có chất lượng, nhận thức của xã hội về GDNN có chuyển biến theo hướng tích cực.

Tuy nhiên cũng nảy sinh một số bất cập sau khi sáp nhập của trung tâm GDNN – GDTX:

Bất cập đầu tiên là chồng chéo trong quản lý điều hành. Trước khi sáp nhập, các Trung tâm GDTX cấp huyện đều do các sở GDĐT quản lý. Các Trung tâm dạy nghề mới được thành lập và xây dựng do UBND huyện quản lý, các Trung tâm dạy nghề đã hoạt động từ lâu do Sở LĐTBXH quản lý. Sau khi sáp nhập, theo phân cấp quản lý, Trung tâm GDNN-GDTX chịu sự chỉ đạo chuyên môn GDTX của sở GD&ĐT, Sở LĐTBXH chỉ đạo về GDNN, Sở NV quản lý về biên chế, dẫn đến khó thống nhất trong quản lý điều hành về chuyên môn và nhân sự của Trung tâm, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, UBND Huyện trực tiếp chỉ đạo, quản lý con người và tài chính. Tuy nhiên, không có một đơn vị nào của cấp huyện có đủ năng lực tham mưu cho UBND huyện về công tác quản lý Trung tâm.Tình hình trên nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của Trung tâm sáp nhập. Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX huyện Đông Sơn, Thanh Hóa cho biết: “Sau gần một năm sáp nhập, Trung tâm vẫn gặp không ít khó khăn. Công tác chỉ đạo, quản lý do UBND cấp huyện trực tiếp đảm nhiệm, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ. Một đơn vị mà có tới 3 đơn vị tham gia quản lý, đây là một bất cập, bởi không phải lúc nào 3 đơn vị này cũng tìm được tiếng nói chung. Ngoài khó khăn trên, từ khi sáp nhập đến nay, Trung tâm vẫn chưa quy về một mối, hoạt động giáo dục dạy nghề vẫn được thực hiện tại Trung tâm DN cũ, giáo dục văn hóa vẫn dạy tại TTGDTX cũ, 2 địa điểm này cách xa nhau gần 2 km, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, điều hành của ban giám đốc, nhất là quản lý chuyên môn và công tác đào tạo của Trung tâm” [4].

Bất cập thứ hai là thiếu hệ thống văn bản quy phạm áp dụng chung cho các trung tâm (quy chế, định mức biên chế, chế độ giáo viên…). Sau sáp nhập nhiều Trung tâm khó xây dựng quy chế tổ chức hoạt động do chưa phân công rõ đơn vị nào chịu trách nhiệm ban hành quy chế tổ chức hoạt động, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, chuẩn giám đốc Trung tâm, và chế độ làm việc của giáo viên, nhân viên. Các Trung tâm GDNN-GDTX của tỉnh Vĩnh Phúc và Hòa Bình cũng phản ánh: Do chưa có quy chế thống nhất về tổ chức hoạt động, nên các Trung tâm gặp nhiều khó khăn trong tổ chức điều hành, thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ giáo viên. Hiện nay một số Trung tâm của tỉnh Hòa Bình tự xây dựng quy chế, bằng cách phối hợp quy chế của Bộ LĐTBXH và Bộ GD&ĐT, hoăc thực hiện riêng rẽ theo 2 quy chế. Ngoài ra, quy chế cho phép Trung tâm hoạt động phạm vi rộng, song biên chế ít, không được bổ sung nên không có khả năng thực hiện mọi hoạt động.

Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc trong bố trí nhân sự, thực hiện chế độ, chính sách và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên của các trung tâm. Tình trạng chung của nhiều Trung tâm sau sáp nhập xảy ra thừa thiếu cán bộ quản lý giáo viên, đặc biệt thiếu giáo viên dạy nghề, việc bổ nhiệm cán bộ quản lý không đúng qui định. Thông tin từ huyện Châu Thành, tỉnh Biến Tre:Trung tâm GDNN-GDTX huyện Châu Thành, Bến Tre [5] có 17 giáo viên GDTX, không có giáo viên dạy nghề. Thời gian qua, Trung tâm chưa tự lực mở lớp dạy nghề nào ngoài các lớp đào tạo về lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp ngắn ngày theo kế hoạch đào tạo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”. Theo phân tích của Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX huyện Châu Thành, cơ bản 2 lĩnh vực dạy nghề và GDTX độc lập nhau hoàn toàn về đối tượng người học, giáo viên giảng dạy và chương trình học khác nhau. Do đó, sau khi sáp nhập, việc phối hợp, bổ sung qua lại giữa 2 lĩnh vực chưa thực hiện được. Các Trung tâm thuộc quản lý của UBND huyện, nhưng UBND huyện không phải cơ quan trực tiếp quản lý hoạt động chuyên môn, nên không có cơ sở đánh giá cán bộ, giáo viên hằng năm; không luân chuyển, điều phối, bố trí cán bộ, giáo viên được giữa các Trung tâm để hỗ trợ nhau về hoạt động chuyên môn. Nhiều địa phương (cấp huyện) còn bố trí cán bộ không đúng tiêu chuẩn sang làm giám đốc Trung tâm gây bất cập trong quản lý và điều hành Trung tâm.

Bất cập thứ tư là về cơ sở vật chất và công tác tuyển sinh. Một số nơi được đầu tư cơ sở vật chất khang trang, song bị lãng phí, do không tuyển đủ học viên, nhiều nơi cơ sở vật chất đã xuống cấp hoặc thiếu thốn không đảm bảo cho hoạt động của Trung tâm. Báo cáo của Vụ GDTX năm 2017 cho biết: “Sau khi sáp nhập đa số các Trung tâm có cơ sở vật chất, thiết bị được tăng cường nhiều hơn hơn. Cá biệt một số Trung tâm phải sử dụng cả cơ sở cách xa nhau hoặc phải thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ nhưng lại chỉ giữ lại được 1 cơ sở nên rất khó khăn trong công tác quản lý và điều hành. Cơ sở vật chất, trang thiết bị sau sáp nhập được bàn giao nguyên trạng, nhưng sau đó nhiều năm ít được đầu tư, cá biệt có nơi còn thiếu, chưa đồng bộ hoặc quá cũ, lỗi thời, lạc hậu chưa đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ dạy học và đào tạo nghề. Có Trung tâm chỉ được đổi tên và giao thêm nhiệm vụ nên không được bổ sung cơ sở vật chất, nên tổ chức hoạt động rất khó khăn”. Số học viên đăng ký học chương trình GDTX giảm dần, việc dạy nghề cho lao động nông thôn được tiến hành từ những năm 2008 đến nay, nên nhu cầu đã giảm nhiều và đã xuất hiện những bất cập, thiếu tính bền vững nên chiêu sinh, huy động học viên ra lớp khó khăn. Nguồn kinh phí đào tạo nghề nông thôn chủ yếu là theo đơn đặt hàng, không phải kinh phí chi thường xuyên của đơn vị, nên Trung tâm cũng không chủ động được. Ngoài ra,chế độ ưu đãi đối với học viên GDTX không như học sinh THPT, khi các em có cùng hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (chẳng hạn, học sinh THPT với hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, được cấp gạo và hỗ trợ tiền học hàng tháng, nhưng với GDTX thì không). Nguyên nhân của những khó khăn về tuyển sinh và kết quả hoạt động của GDTX chưa đựơc như mong muốn, được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT giải thích [6] “Chính sách cho các Trung tâm giáo dục thường xuyên còn bất cập, chưa hiệu quả.Chất lượng hoạt động của một số cơ sở GDTX còn hạn chế. Một số bộ, ngành chưa quan tâm đến việc thúc đẩy học tập suốt đời của cán bộ, công chức, viên chức; một số địa phương chưa quan tâm đến GDTX, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người lớn học tập; thậm chí có địa phương còn giải thể hết các Trung tâm GDTX cấp huyện. Việc tham mưu tổ chức sáp nhập và các điều kiện đảm bảo cho các Trung tâm GDTX sau khi sáp nhập còn nhiều bất cập, một số tỉnh không thực hiện đúng như TT 39. Cơ chế quản lý chồng chéo; chưa phân công rõ Bộ nào ban hành các văn bản cần thiết để quản lý Trung tâm”.

Trên đây là 4 khó khăn chính, bất cập trong tổ chức đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Việc tháo gỡ những khó khăn này cần sự chung tay của các bộ, ngành ở TW, của Lãnh đạo các địa phương dưới sự điều hành thống nhất của Chính phủ và cần sớm được giải quyết để tạo điều kiện nâng cao chất lượng công tác đào tạo giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo

1. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập, Tạp chí Quản lý nhà nước (quanlynhanuoc.vn)

2. Bộ GD&ĐT, Báo cáo tổng kết năm học 2018-2019

3. Báo cáo Về quản lý chỉ đạo GDNN (2018), Cổng TTĐT Bộ LDTBXH, 23/1/2018

4. Sáp nhập trung tâm GDNN-GDTX còn nhiều khó khăn, Báo thanhhoa.vn, 18/6/2018)

5. Những khó khăn sau 2 năm sáp nhập, Báo Đồng khởi, Bến Tre, 12/9/2018

6. Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, Trả lời chất vấn của ĐB quốc hội về GDTX chưa đạt kết quả như mong đợi, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XIV, ngày 22/6/2018

Nguyễn Xuân Phương

Phó Chủ tịch. TTK Hội CGC Việt Nam

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

TCGCVN - Trong mắt đồng nghiệp và học sinh, Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình là một giáo viên mẫu mực: tận tụy với học trò, hết lòng với nghề, quản lý nhà trường minh bạch, được đánh giá hội tụ đầy đủ cả tài và đức. Nhiều năm liền chất lượng dạy và học đi lên, tuyển sinh tăng lên hằng năm rõ rệt, phong trào giáo dục được địa phương ghi nhận.

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.