Mô hình Trung tâm học tập cộng đồng của một số quốc gia thuộc Châu Á-Thái Bình Dương và đề xuất định hướng đổi mới mô hình hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại Việt Nam

08:20 | 24/12/2023
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đông dân nhất thế giới với gần ba phần năm nhân loại. Đây cũng là khu vực kinh tế phát triển nhanh nhất trong hai đến ba thập kỷ qua (Raya, 2015, trang 1). Tuy nhiên, khu vực này phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về giáo dục về khả năng tiếp cận, xóa mù chữ, công bằng, nghèo đói, thất nghiệp, chênh lệch giới tính và tài trợ. Trong đó, một trong những vấn đề sâu sắc nhất mà các chính phủ trên toàn khu vực Châu Á là làm thế nào để đáp ứng hiệu quả n

1. Đặt vấn đề

Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đông dân nhất thế giới với gần ba phần năm nhân loại. Đây cũng là khu vực kinh tế phát triển nhanh nhất trong hai đến ba thập kỷ qua (Raya, 2015, trang 1). Tuy nhiên, khu vực này phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về giáo dục về khả năng tiếp cận, xóa mù chữ, công bằng, nghèo đói, thất nghiệp, chênh lệch giới tính và tài trợ. Trong đó, một trong những vấn đề sâu sắc nhất mà các chính phủ trên toàn khu vực Châu Á là làm thế nào để đáp ứng hiệu quả nhu cầu giáo dục của hàng triệu người lớn, khi còn nhỏ, bỏ lỡ cơ hội đến trường hoặc bỏ học trước khi đạt được những kỹ năng và kiến thức thiết yếu (Roland, L, 1997, tr. 1). Vì vậy, nhu cầu học tập rộng rãi của người lớn là một điều không thể chối cãi. Thực tế ở các nước trong khu vực Châu Á. Giáo dục người lớn là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả một loạt các dịch vụ giáo dục được cung cấp cho thanh thiếu niên và những người trưởng thành chưa bao giờ được giáo dục cơ bản chính quy hoặc nhận được quá ít để học đọc viết và tính toán. Nó bao gồm chương trình nhằm cung cấp cho thanh thiếu niên và người lớn các kỹ năng sống phục vụ nền kinh tế và/hoặc phát triển xã hội, chẳng hạn như đào tạo kỹ năng, học nghề, và các chương trình chính thức và không chính thức về y tế, dinh dưỡng, dân số, kỹ thuật nông nghiệp, môi trường, khoa học, công nghệ, cuộc sống gia đình và các vấn đề xã hội khác (Roland, L, 1997, tr. 4). Bài viết mang tính chất thu thập các thông tin và hình thức tổ chức Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) của các nước thuộc Châu á-Thái bình dương để từ đó, Việt nam làm cơ sở để học tập và xây dựng mô hình TTHTCĐ sao phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội của Việt nam.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ ở việt nam

TTHTCĐ ở Việt Nam tập trung vào nhiều lĩnh vực, bao gồm các chính sách của Đảng và Nhà nước; kiến thức về gia đình và xã hội, đặc biệt là kế hoạch hóa gia đình; các hoạt động thể thao và thi đấu; văn hóa, nghệ thuật; các biện pháp an toàn và sức khỏe, bao gồm phòng chống HIV/AIDS, sử dụng ma túy và mại dâm; tôn trọng thương binh, liệt sĩ; cải thiện thực hành nông nghiệp và phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Mô hình Trung tâm học tập cộng đồng của một số quốc gia thuộc Châu Á-Thái Bình Dương và đề xuất định hướng đổi mới mô hình hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại Việt Nam

Hội thảo khoa học: Phát triển hệ thống TTHTCĐ, do Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh, Ủy ban về giáo dục và phát triển nhân lực tổ chức tại thành phố Vinh, ngày 15/12/2023

Hoạt động của các TTHTCĐ ở việt nam còn gặp khá nhiều khó khăn, theo tác giả Phong Sắc trong bài viết “nhiều khó khăn trong hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng” (2020) đăng trên báo Thanh Hoá về những khó khăn trong quản lý trung tâm do nhiều nguyên nhân, cụ thể “công tác quản lý là khâu khó khăn nhất ở các TTHTCĐ hiện nay. ….. Việc kiện toàn bộ máy quản lý của nhiều trung tâm chậm, chưa hiệu quả. Phần lớn các trung tâm thiếu cán bộ quản lý có chuyên môn sâu và am hiểu phương pháp điều hành loại thiết chế giáo dục dành cho người lớn; một số chưa yên tâm công tác do chế độ phụ cấp còn thấp và kiêm nhiệm quá nhiều việc. …….các điều kiện bảo đảm cho trung tâm hoạt động vẫn còn thiếu nhiều. Hầu hết các trung tâm đều sử dụng cơ sở vật chất hiện có của xã như hội trường, nhà văn hóa xã”.

Cũng tại bài viết này,tác giả Phong Sắc cũng đề cập tới “Việc thiếu hụt trang thiết bi là một khó khăn, bên cạnh đó, việc tổ chưc hoạt động cũng gặp nhiều lúng túng nên chưa đáp ứng được yêu cầu học tập đa dạng của người dân. nội dung hoạt động nghèo nàn, thiếu hấp dẫn. Nhiều trung tâm mở lớp đào tạo dạy nghề nhưng lại chưa giải quyết được khâu tạo việc làm, nên đã làm hạn chế quy mô đào tạo...

Từ những bất cập trên, tác giả Phong Sắc đã đưa ra những đề xuất như sau “các trung tâm cần huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm các điều kiện để hoạt động, trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên bảo đảm đủ số lượng, chất lượng để thu hút người dân đến học và vận dụng kiến thức vào thực tế sản xuất, đời sống hiệu quả nhất. Mỗi trung tâm cần đổi mới phương pháp, nắm bắt nhu cầu học tập của người dân, để xây dựng kế hoạch hoạt động hằng năm, đáp ứng yêu cầu “cần gì học nấy” của người dân và sát với thực tế của địa phương.

Với thực trạng như vậy, thì việc học tập mô hình TTHTCĐ ở các nước châu á-thái bình dương có cùng bối cảnh kinh tế sẽ giúp Việt nam chuẩn hoá nhanh để xây dựng các TTHTCĐ có hoạt động hiệu quả hơn. Mục II dưới đây sẽ đưa ra các hình mẫu TTHTCĐ ở các nước Châu á- thái bình dương.

2.2. Mô hình TTHTCĐ của các nước châu á-Thái bình dương

Các trung tâm học tập cộng đồng đã có tác động tích cực đáng kể đến việc thúc đẩy xóa mù chữ và giáo dục thường xuyên ở các nước Châu á. Dưới đây là mô hình hoạt động của các TTHTCĐ ở một số nước Châu á và hiệu qủa mang lại của các TTHTCĐ này cho xã hội.

Theo Báo cáo Quốc gia từ Châu Á đưa ra những đánh giá toàn diện về thực tiễn và hoạt động hiện tại của TTHTCD các quốc gia châu Á như: Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Lebanon, Nepal, Thái Lan.

Trưng hợp của Bangladesh: Bangdales mô tả TTHTCĐ là những TTHTCĐ thuộc sở hữu của người dân, phục vụ các lợi ích chung đã được thỏa thuận, hướng tới việc đáp ứng nhu cầu tức thời của cộng đồng thông qua hành động tập thể và, trong nhiều trường hợp, được thiết kế đặc biệt để phục vụ người dân ở các vùng nông thôn xa xôi và hẻo lánh. Các TTHTCĐ ở Bangladesh có nhiều hạn chế, nhưng chúng đã phát triển thành mô hình cho các cơ sở giáo dục phi chính quy thường xuyên do NGO tài trợ và không quá tốn kém. Sự độc đáo của khái niệm TTHTCĐ nằm ở triết lý huy động phần lớn nguồn lực từ sự đóng góp tự nguyện của cộng đồng ở cấp cơ sở. Đóng góp đáng chú ý nhất của các TTHTCĐ là hoạt động của họ với tư cách là trung tâm học tập và đào tạo cho người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn về trình độ đọc viết cơ bản, sau xóa mù chữ và giáo dục thường xuyên. Một trong những điều kiện tiên quyết để được hưởng lợi từ các chương trình và hoạt động TTHTCĐ là sự tham gia thường xuyên và những người thường xuyên tham gia sẽ được hưởng lợi từ TTHTCĐ theo nhiều cách. TTHTCĐ có thể đóng góp vào sự phát triển toàn diện của quốc gia nếu được đưa vào kế hoạch hành động quốc gia. Chính phủ có thể sắp xếp các đầu vào cần thiết và cung cấp hỗ trợ có hệ thống cho các TTHTCĐ. Việc đưa các TTHTCĐ vào kế hoạch quốc gia sẽ đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ với hệ thống chính quy, các chương trình tương đương dành cho trẻ em trong độ tuổi đi học và cơ chế chia sẻ nguồn lực giữa các trường chính quy và TTHTCĐ.

Để phát triển TTHTCĐ ở Banglades thì các biện pháp sau được áp dụng :

1. Trang bị cho TTHTCĐ những cơ sở vật chất và vật liệu cần thiết.

2. Liên kết các hoạt động xóa mù chữ và phát triển cộng đồng với các hoạt động can thiệp của TTHTCĐ nhằm giải quyết các nhu cầu kinh tế xã hội của các nhóm đối tượng.

3. Sắp xếp việc huy động xã hội rộng rãi hơn thông qua các hình thức và phương pháp đổi mới (ví dụ: các phương thức linh hoạt để phù hợp với lịch trình của thành viên, các biện pháp can thiệp phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp của họ, tích hợp tài liệu học tập và học tập với các chương trình giải trí).

4. Phát triển một khuôn khổ có hệ thống để giám sát các chương trình/hoạt động TTHTCĐ.

5.Thiết kế các chương trình theo các hoạt động cốt lõi và ngoài cốt lõi để tập trung hơn vào các hoạt động cốt lõi.

6. Giúp cộng đồng học cách tìm ra giải pháp cho vấn đề thay vì đưa ra giải pháp cho các thành viên cộng đồng.

7. Nâng cao kỹ năng quản lý của nhân sự TTHTCĐ.

8.Tạo ra một hệ thống hỗ trợ/hỗ trợ chuyên môn/kỹ thuật đa năng cho các TTHTCĐ ở cấp cộng đồng.

Trường hợp của Indonesia : Nghiên cứu của Indonesia báo cáo rằng các chương trình TTHTCĐ đã bắt đầu chứng minh những tác động tích cực đến cộng đồng người học. Những chương trình đặc biệt thành công liên quan đến xóa mù chữ - tập trung vào đọc và viết - đã cho phép họ tham gia các công ty công nghiệp, dịch vụ an ninh và các kỹ năng sản xuất khác, bao gồm cả các ngành công nghiệp gia đình nhỏ. Điều khá quan trọng là Kế hoạch Hành động của Quốc gia Indonesia đã thông qua và kết hợp phát triển mầm non, học các kỹ năng sống phù hợp, đảm bảo công bằng xã hội và bình đẳng giới, đảm bảo quyền giáo dục cơ bản của người bản địa và đạt được phổ cập xóa mù chữ cho người lớn như những lĩnh vực chính mà TTHTCĐ cần giải quyết và bao quát trong lĩnh vực hoạt động của họ. Nghiên cứu của Indonesia lưu ý, "Từ quan điểm quốc gia, sự hiện diện của các tổ chức TTHTCĐ với các chương trình ở mức độ lớn hơn đã mang lại những tác động giáo dục tích cực trong cộng đồng Indonesia. Các chương trình có khả năng cải thiện thu nhập, thực hiện nguyện vọng giáo dục và nuôi dạy trẻ em". Nghiên cứu của Indonesia công nhận rằng việc tiếp tục tham gia vào các chương trình giáo dục, cải thiện kỹ năng tạo thu nhập, tăng cường động lực của phụ huynh để hỗ trợ việc đi học, cải thiện lối sống lành mạnh và cải thiện sự tham gia vào các hoạt động dân chủ địa phương đều là kết quả tích cực của các hoạt động TTHTCĐ.

Trường hợp của Lebanon : Nghiên cứu Lebanon tiết lộ rằng các khóa học máy tính tại TTHTCĐ đã góp phần vào sự ra đời của một thế hệ biết máy tính ở các khu vực kém phát triển bị lãng quên cho đến nay của đất nước. Nghiên cứu nói thêm rằng các trại hè do TTHTCĐ tài trợ cũng đã dẫn dắt các tình nguyện viên tham gia vào các chương trình các khóa học bổ sung và hội thảo xây dựng kỹ năng. Thông qua các hoạt động, trẻ em cũng đã được dạy về bảo tồn môi trường, phát triển bền vững và các khái niệm khác liên quan đến vic nâng cao chất lượng và nhận thức của một người về cuộc sống, điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em sống trong các khu vực xung đột. Những phụ nữ tham dự các chương trình TTHTCĐ báo cáo rằng các kỹ năng thủ công mà họ có được đã mang lại cho họ cảm giác thỏa mãn cá nhân, trong khi các tình nguyện viên tham dự các hội thảo văn hóa thông tin đã phát triển sự quan tâm tích cực đến cả các hoạt động cộng đồng và hoạt động của trung tâm.

Trường hợp Nepal: ảnh hưởng và tác động quan trọng nhất của phong trào TTHTCĐ ở Nepal là khái niệm TTHTCĐ đã được công nhận là một chiến lược chương trình quan trọng trong Kế hoạch phát triển năm năm lần thứ mười của đất nước nhằm giảm nạn mù chữ. Tuy nhiên, nghiên cứu của Nepal than phiền rằng chính phủ đã không đưa ra các biện pháp hiệu quả để biến chính sách này thành thực tế với việc lập kế hoạch chủ động, cơ chế thực hiện và cung cấp tài chính đầy đủ tương xứng với các tuyên bố chính sách. Nghiên cứu Nepal đưa ra phân tích trường hợp chuyên sâu về các TTHTCĐ được chọn và phân tích tác động của các chương trình đó. Phân tích phản ứng của người tham gia TTHTCĐ cho thấy rõ ràng rằng các chương trình TTHTCĐ đã tạo ra những tác động tích cực trong cuộc sống của người tham gia. Đặc biệt, những người tham gia là phụ nữ khá hài lòng về các kỹ năng may đo mà họ có thể phát triển. Họ lưu ý rằng các thành viên gia đình của họ cũng hài lòng như nhau về các kỹ năng mới có được của họ, một số lượng lớn trong số họ tạo ra thu nhập mới.

Quảng cáo

Trường hợp của Thái Lan : Phân tích các chương trình TTHTCĐ trong phân tích chuyên sâu của nghiên cứu Thái Lan cho thấy các cộng đồng TTHTCĐ sử dụng các kỹ năng mới mà họ đạt được trong một loạt các hoạt động nghề nghiệp: quản lý lâm nghiệp đa dạng, quản lý cây trồng và vật nuôi địa phương, phục hồi các giá trị văn hóa và trí tuệ địa phương, và ứng dụng nông nghiệp và công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện địa phương.

Trường hợp của Trung Quốc: Nghiên cứu Trung Quốc báo cáo rằng các chương trình và hoạt động TTHTCĐ đã chứng minh lợi ích rõ ràng cho những người tham gia ở các cộng đồng nông thôn về việc nâng cao kỹ năng đọc viết; triển vọng tích cực; và mức độ nâng cao nhận thức về giá trị của việc biết chữ và giáo dục cho người lớn, thanh thiếu niên và trẻ em. Cũng có báo cáo rằng ngày càng có nhiều phụ huynh tham gia các chương trình TTHTCĐ đã tự nguyện gửi con đến trường. Những người di chuyển đến khu vực thành thị đã được tìm thấy sự tự tin và thích nghi tốt với tình huống công việc mới với khó khăn tối thiểu. Đối với những người tham gia TTHTCĐ ở khu vực thành thị, có báo cáo rằng chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc cá nhân của họ đã được cải thiện đáng kể.

2.3. Bài học khuyến nghị cho Việt nam

Từ những kinh nghiêm của các TTHTCD ở các nuoc và mô hình thành công ở các nuoc này, sau đây là 11 khuyến nghị để xây dựng đổi mới TTHTCĐ hoat động hiệu quả:

1) Kinh phí: cần phải có cơ chế hiệu quả kết hợp công- tư để có thể tăng cường cơ sở tài chính của TTHTCĐ trong khuôn khổ rộng hơn của tài trợ cấp quốc gia.

2) Mạng lưới: xây dựng quy mô mạng lưới nhằm thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn và tăng cường sự tham gia của người dân vào giáo dục cơ bản.

3) Tính tương đương: Để đạt được kết quả mong muốn, các TTHTCĐ cần được trao quyền chứng nhận một số chương trình giáo dục không chính quy và xóa mù chữ do các TTHTCĐ cung cấp. Điều này là cần thiết nếu các TTHTCĐ muốn được coi là những cấu trúc mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục.

4) Chính sách quốc gia: đưa TTHTCĐ vào chương trình nghị sự phát triển quốc gia. Cần có cơ chế cách liên kết TTHTCĐ hoạt động theo các chính sách và chương trình quốc gia.

5) Nhiều mô hình TTHTCĐ: TTHTCĐ không nên chỉ được điều hành bởi các khu vực chính phủ và không nên có cùng một hình thức cho tất cả các vùng/cộng đồng. do đó, cần có các định hướng sau :

- Các chính sách và chương trình giảng dạy bao gồm tất cả các khía cạnh liên quan của cuộc sống và sinh hoạt.

- Chính phủ nên hỗ trợ các TTHTCĐ thiết kế một quy trình học tập để đáp ứng nhu cầu của từng cộng đồng riêng lẻ và tích hợp hiệu quả các kiến thức thu được từ tất cả các đơn vị học tập trong các cộng đồng như vậy.

- Việc ra quyết định nên được phân cấp nhiều hơn cho cộng đồng và các tổ chức hành chính địa phương.

6) Vai trò của nguoi dân địa phuong : Người dân địa phương cần có vai trò và đại diện trong các ủy ban TTHTCĐ.

7) Địa điểm của TTHTCD: Xây dựng chiến lược Mở rộng TTHTCĐ sang các khu vực mới như nhà máy, trường học, địa điểm tôn giáo hoặc nhà của những người dân sẵn sàng cung cấp đia điểm ở địa phương. Những địa điểm thay thế mới có thể giảm chi phí và đến gần hơn với người dân trong cộng đồng.

8) TTHTCD lưu động : Thiết lập và cải thiện các TTHTCĐ lưu động để tiếp cận các nhóm có nguy cơ và dễ bị tổn thương .

9) Khen thưởng : Trao khen thưởng cho bất kỳ TTHTCĐ nào hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, khen thưởng những sinh viên xuất sắc, giảng viên và quản trị viên TTHTCĐ.

10) Động viên và tuyển dụng người trẻ ở đia phương tham gia TTHTCĐ

11) Quy chế hoạt động của THHTCD: Mỗi TTHTCĐ phải chịu trách nhiệm về các tiêu chuẩn riêng của mình. Thẩm quyền quản lý tri thức cần được giao cho cộng đồng và các tổ chức hành chính địa phương. Các tiêu chuẩn về kế toán, quản lý và hệ thống cơ sở dữ liệu cần được thiết lập phù hợp để nâng cao chất lượng và tính hợp pháp của công tác quản lý.

Tài liệu tham khảo

1. Unesco 2008 “Báo cáo về trung tâm hoc tập cộng đồng của Châu Á” . https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000160492

2. Phong sắc trong bài viết “Nhiều khó khăn trong hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng” báo thanh hoá (2020) . https://baothanhhoa.vn/giao-duc/nhieu-kho-khan-trong-hoat-dong-cua-cac-trung-tam-hoc-tap-cong-dong/125636.htm

3. DVV International ( Viện Hợp tác Quốc tế của Deutscher Volkshochschul-Verband e. V. )(DVV), Hiệp hội Giáo dục Người lớn Đức. “bài viét trung tâm giáo dục người lớn, yếu tố thách thức và thành công”(2017). https://www.dvv-international.de/fileadmin/ files/Inhalte_Bilder_und_Dokumente/Fachkonferenz_AEDC/AEDC_2017/IPE-78_web.pdf#page=89

Luât sư Nguyễn Kim Dung

Giám đốc pháp chế Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam và Apollo Việt Nam

Nguồn: lược trích và dịch từ các báo cáo của UNESCO

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

TCGCVN - Trong mắt đồng nghiệp và học sinh, Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình là một giáo viên mẫu mực: tận tụy với học trò, hết lòng với nghề, quản lý nhà trường minh bạch, được đánh giá hội tụ đầy đủ cả tài và đức. Nhiều năm liền chất lượng dạy và học đi lên, tuyển sinh tăng lên hằng năm rõ rệt, phong trào giáo dục được địa phương ghi nhận.

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.