Chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông – Lý luận và thực tiễn

07:21 | 23/11/2023
Chương trình giáo dục là pháp lệnh, sách giáo khoa là tài liệu chính thức dùng để dạy và học trong các trường phổ thông. Chương trình giáo dục và sách giáo khoa là sản phẩm của khoa học giáo dục, có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông, không phải là học liệu thông thường. Đổi mới chương trình và sách giáo khoa là việc làm có tính khoa học, có cơ sở lý luận và thực tiễn, cần phải có kế hoạch chuẩn bị bài bản, chu đáo và thực hiện nghiêm túc.

Tóm tắt:

Chương trình giáo dục là pháp lệnh, sách giáo khoa là tài liệu chính thức dùng để dạy và học trong các trường phổ thông.

Chương trình giáo dục và sách giáo khoa là sản phẩm của khoa học giáo dục, có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông, không phải là học liệu thông thường.

Đổi mới chương trình và sách giáo khoa là việc làm có tính khoa học, có cơ sở lý luận và thực tiễn, cần phải có kế hoạch chuẩn bị bài bản, chu đáo và thực hiện nghiêm túc.

Nghị quyết số 29 TW khoá VIII về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đặt ra mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát huy tiềm năng của học sinh, kết hợp dạy chữ với dạy người và định hướng nghề nghiệp “Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.

Tuy nhiên cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông 2018 đang gặp phải những ý kiến trái chiều trong giáo giới, trong các nhà khoa học và quản lý giáo dục cần được trao đổi rộng rãi trong giới khoa học.

Bài báo trình bày một số vấn đề lý luận và phân tích thực trạng việc tổ chức thực hiện đổi mới về chương trình và sách giáo khoa phổ thông hiện nay, có một số kiến nghị điều chỉnh để cuộc đổi mới đi đúng trọng tâm.

Từ khóa: Chương trình giáo dục, sách giáo khoa phổ thông, cải cách giáo dục và đổi mới chương trình và sách giáo khoa, chương trình giáo dục tích hợp, phân hóa và đồng tâm.

1. Đặt vấn đề:

Nghị quyết số 29 TW khoa VIII về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”.

Giáo dục là bộ mặt của xã hội hiện tại và là tương lai của đất nước, giáo dục thực hiện chức năng “trăm năm trồng người” và đào tạo nguồn nhân lực xã hội.

Giáo dục phải phát triển bền vững để trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế, văn hóa, xã hội.

Cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông hiện nay đang tiến hành có nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên có những ý kiến trái chiều trong dư luận xã hội, cần phải nghiên cứu để có những điều chỉnh cần thiết.

Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo nói gì về việc sách giáo khoa đắt gấp 2-3 lần? - Ảnh 1. Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo nói gì về việc sách giáo khoa đắt gấp 2-3 lần? - Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn phát biểu cung cấp thông tin

về sách giáo khoa mới. Tại phiên thảo luận tổ ở Quốc hội sáng 25-5.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Chương trình giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục (Curriculum) phổ thông là bản kế hoạch tổng thể cho các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có tính pháp lý, mọi nhà trường đều phải thực hiện nghiêm túc.

Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục phổ thông, do các nhà khoa học giáo dục - những người am hiểu giáo dục phổ thông biên soạn.

Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức đánh giá kết quả giáo dục phổ thông.

Chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế đến từng môn học, từng khối lớp và từng cấp học.

2.2. Cải cách giáo dục và đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông:

Từ năm 1945 đến nay nước ta đã có 3 cuộc cải cách giáo dục và 2 lần đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Mọi cuộc cải cách giáo dục đều xuất phát từ yêu cầu của lịch sử phát triển đất nước, được tiến hành để xây dựng mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cơ cấu lại hệ thống giáo dục, đồng thời xây dựng chương trình và sách giáo khoa cho phù hợp với giai đoạn mới.

Đổi mới chương trình và sách giáo khoa là hoạt động có tính chu kỳ nhằm phát triển chương trình, bổ sung, hoàn thiện, làm mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại, với trình độ phát triển của giáo dục thế giới, cũng như những yêu cầu của thực tiễn xã hội.

Ba cuộc cải cách giáo dục:

- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất được tiến hành vào năm 1950, chuyển từ hệ thống giáo dục 12 năm của Pháp sang hệ thống giáo dục 9 năm để kịp thời đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược. Với phương châm “ít mà tinh” nhà trường đã dạy những gì cần thiết nhất cho người học để có thể kịp thời tham gia đóng góp công sức cho cuộc kháng chiến mau chóng giành thắng lợi.

- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai tiến hành vào năm 1956 ở miền Bắc, sau Hiệp nghị Geneva lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hệ thống giáo dục phổ thông miền Bắc chuyển từ hệ 9 năm trong kháng chiến sang hệ 10 năm. Ở lần cải cách này, cơ cấu hệ thống, chương trình giáo dục, sách giáo khoa được xây dựng theo mô hình giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Với mô hình này, giáo dục miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Nhiều học sinh, sinh viên của thời kỳ này đã trở thành lực lượng nòng cốt trong bộ máy quản lý, lãnh đạo đất nước, quân đội, những chiến sĩ anh dũng trên chiến trường, những tướng lĩnh tài ba và các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ thuật viên sáng tạo có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội.

- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 được tiến hành năm 1979 sau khi đất nước thống nhất. Hệ thống giáo dục phổ thông chuyển từ hệ 10 năm sang hệ 12 năm theo mô hình của các nước phát triển. Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn này cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn cả về quy mô và chất lượng, từng bước hiện đại hóa chương trình, nội dung, phương tiện, phương pháp giáo dục, từng bước tiệm cận với trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Học sinh Việt Nam đã đạt được nhiều giải cao khi tham dự các kỳ thi quốc tế, nhiều nhà khoa học tài năng đã được quốc tế công nhận. Giáo dục đã đóng góp nhiều công sức và trí tuệ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho sư nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Hai lần đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông:

- Lần thứ nhất vào năm 2000, điểm nhấn của cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa lần này là giáo dục trung học phổ thông được phân thành hai ban: ban khoa học tự nhiên và ban khoa học xã hội. Ngay từ lúc triển khai đã có chuyên gia đặt câu hỏi: tại sao chỉ có hai ban, trong khi ở nhiều nước có tới hàng chục ban ? Một thời gian ngắn sau đó đã xuất hiện thêm một ban mới có tên gọi là “ban cơ bản”, các nhà quản lý giáo dục coi đây là giải pháp điều chỉnh”ngoạn mục”, còn giới chuyên môn thì cho rằng chương trình phân ban đã quay về số “0”. Thật vậy, ngay từ lúc này các trường trung học phổ thông chỉ còn dạy theo chương trình “ban cơ bản", chương trình phân ban kết thúc vào năm học 2014 - 2015.

- Năm 2018 nước ta lại tiến hành đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát huy tiềm năng của học sinh, kết hợp dạy chữ với dạy người và định hướng nghề nghiệp. Đó là mục tiêu đúng đắn, cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để thực hiện thành công.

Điểm nhấn của chương trình giáo dục phổ thông 2018 là dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở và biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa.

2.3. Thiết kế chương trình giáo dục phổ thông:

Thiết kế chương trình giáo dục phổ thông là công việc có tính khoa học, nghiêm túc. Để thiết kế chương trình giáo dục phổ thông các nhà khoa học cần nghiên cứu nắm vững triết lý giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, lý luận về giáo dục và đào tạo, đặc điểm tâm, sinh lý và đặc điểm nhận thức của học sinh các lứa tuổi, phân tích ưu, nhược điểm của chương trình giáo dục hiện hành, khảo sát những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong hoạt động giáo dục ở các địa phương, tham khảo chương trình giáo dục của các nước phát triển trên thế giới…

Thiếu một trong các thông tin trên có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng chương trình và kết quả thực hiện chương trình, các cuộc đổi mới chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông vừa qua đã chứng minh điều đó.

Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn giáo dục thế giới và Việt Nam cho thấy có ba hướng thiết kế chương trình giáo dục phổ thông đó là: tích hợp, phân hóa và đồng tâm.

- Hướng thứ nhất: Thiết kế chương trình giáo dục theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung kiến thức của các môn học khác nhau tạo thành một môn học mới (môn tích hợp) để giảng dạy, nhằm giúp học sinh huy động tổng hợp kiến thức của các môn học để thực hiện các nhiệm vụ học tập và vận dụng vào cuộc sống, từ đó phát triển năng lực tư duy tổng hợp và năng lực hoạt động sáng tạo.

Quảng cáo

Các môn học được sử dụng để thiết kế chương trình theo hướng tích hợp phải cùng một lĩnh vực, hoặc liền kề, hoặc có nội dung giao thoa với nhau, không thể tích hợp các môn học có kiến thức quá xa nhau, như Mỹ thuật với Âm nhạc ở tiểu học, Vật lý với Hóa học và Sinh học, Lịch sử với Địa lý ở trung học cơ sở…

Trên thế giới và ở Việt Nam chương trình giáo dục tích hợp được thiết kế cho cấp tiểu học, đây là cách làm rất phù hợp và có hiệu quả cao, bởi vì kiến thức ở tiểu học là kiến thức phổ thông, sơ đẳng (Elementary) gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ em. Học sinh tiểu học mới bắt đầu làm quen với việc học, phương pháp nhận thức còn mang tính cụ thể, trực quan, khi khai thác mối liên hệ kiến thức, kỹ năng giữa các phần trong một môn hay giữa các môn học giúp các em huy động tổng hợp kiến thức để nhận biết, để giải thích, để vận dụng, thực hành… từ đó mà nắm sâu kiến thức mới và hình thành kỹ năng mới.

Ở cấp tiểu học các môn học tích hợp đã được thiết để kế giảng dạy rất có hiệu quả như: Tiếng Việt, Khoa học… đã làm giảm đầu môn học, giúp trẻ em đỡ phải mang nặng ba lô sách vở đến trường.

- Hướng thứ hai: Thiết kế chương trình theo hướng phân hóa là thiết kế nội dung dạy học thành các môn học độc lập có hệ thống khái niệm, có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu và học tập đặc thù. Chương trình giáo dục phân hóa giúp học sinh đi sâu vào từng lĩnh vực khoa học để đinh hướng nghề nghiệp, chọn nghề, để tiếp tục học ở bậc cao hơn.

Thông tin khoa học hiện đại rất đồ sộ, đang phát triển theo cấp số nhân, mỗi khoa học nghiên cứu một khía cạnh của thế giới và có xu hướng phân hóa ngày càng nhỏ, càng sâu, hiện nay trong kho tàng tri thức nhân loại có tới hàng nghìn lĩnh lực, chuyên ngành khoa học.

Nội dung mỗi môn học được chọn lọc từ thành tựu của khoa học tương ứng, được thiết kế cho phù hợp với trình độ của học sinh. Cấp học càng cao nội dung dạy học càng phân hóa thành nhiều môn học, nhiều chuyên ngành để nghiên cứu sâu vào các lĩnh vực khoa học mới.

Từ rất lâu chương trình giáo dục ở cấp trung học cơ sở được thiết kế thành các môn học độc lập như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Công nghệ… Trình độ nhận thức của học sinh trung học cơ sở đã có nhiều tiến bộ, có khả năng tư duy phân tích để nắm sâu kiến thức của từng môn học. Việc thiết kế chương trình phân hóa ở cấp trung học cơ sở đã qua cho thấy học sinh học tốt, có chất lượng và hiệu quả, không có gì đáng lo ngại, hay phê phán.

Hiện nay trên thế giới có một số nước tổ chức dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở, việc này cần được nghiên cứu kỹ để có thể áp dụng vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta.

Ở Việt Nam hiện đang tổ chức dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, đang gây ra nhiều ý kiến khác nhau trong dư luận xã hội, cả trong giáo giới và các nhà chuyên môn.

Lý do là cuộc đổi mới chưa được chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để thực hiện: chưa có sách giáo khoa tích hợp theo đúng nghĩa, chưa có giáo viên được đào tạo chuyên sâu để dạy tích hợp, chưa lưu ý đến những khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… đã gây khó cho cả thầy và trò trong việc dạy và học. Đây là điểm nghẽn trong đổi mới chương trình giáo dục cần phải tháo gỡ.

- Hướng thứ ba: Thiết kế chương trình theo hướng đồng tâm là nâng dần mức khó của các môn học theo từng lớp, từng cấp học. Ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông có các môn học cùng tên, nhưng độ khó của nội dung đã được nâng lên cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh và còn tiếp tục nâng lên ở các bậc học sau.

Chương trình đồng tâm được sử dụng phối hợp với chương trình tích hợp và phân hóa của từng lớp, từng cấp học, giúp học sinh nối mạch tư duy để nhận thức các khoa học hiện đại.

Một nguyên tắc rất quan trọng cần được quán triệt trong thiết kế chương trình giáo dục đó là tích hợp ở cấp học dưới, phân hóa ở cấp học trên và nâng dần mức độ khó theo từng lớp, từng cấp học.

2.4. Biên soạn sách giáo khoa:

Sách giáo khoa là tài liệu chính thức dùng để dạy và học trong trường phổ thông. Sách giáo khoa góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học trong nhà trường. Cần phải khẳng định rằng dạy và học không thể thiếu sách giáo khoa, chính vì điều đó mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa.

Sách giáo khoa phổ thông thể hiện chi tiết nội dung môn học có trong chương trình giáo dục đã ban hành. Nội dung sách giáo khoa ngoài hệ thống kiến thức và kỹ năng môn học, còn có những thí dụ, hình ảnh minh họa, nhiều bài tập, thực hành, nhiều câu hỏi củng cố, ôn tập, kiểm tra… trong đó quan trọng nhất là những định hướng, những gợi ý về phương pháp dạy và học, đây chính là tính sư phạm – một giá trị quan trọng của sách giáo khoa phổ thông, đây là công lao của các tác giả viết sách, đáng được trân trọng.

Không được hạ thấp vai trò của sách giáo khoa như một học liệu thông thường, mà đây là sản phẩm độc đáo, là sự kết hợp hài hòa giữa khoa học cơ bản và khoa học sư phạm do các nhà khoa học giáo dục và các giáo viên giỏi, có kinh nhiệm của các trường phổ thông biên soạn cho thầy dạy và cho trò học.

Sách giáo khoa tích hợp là sách giáo khoa đặc biệt, được biên soạn theo các chủ đề, chủ điểm… để giúp học sinh huy động tổng hợp kiến thức của các lĩnh vực khác nhau để tìm hiểu, giải quyết các nhiệm vụ học tập. Sách giáo khoa tích hợp không phải là sách ghép cơ học vài ba môn học vào một quyển sách mới để các thầy cùng dạy song song.

Ở nhiều quốc gia phát triển sách giáo khoa được phát miễn phí, hoặc cho học sinh mượn sử dụng, có nghĩa là xuất bản sách giáo khoa không vì lợi nhuận.

Trong cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa lần này Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa, với lời giải thích là nhằm xã hội hóa và chống độc quyền xuất bản.

Có nhiều bộ sách giáo khoa để giáo viên và học sinh tham khảo là điều rất tốt, tuy nhiên trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay chưa phù hợp. Không phải phụ huynh nào cũng có đủ tiền mua nhiều bộ sách cho con em học tập, không phải giáo viên nào cũng có nhiều bộ sách đặt trên bàn làm việc, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo…còn thiếu nhiều điều. Vì vậy nên chọn ra một bộ sách có chất lượng tốt nhất để giảng dạy thống nhất trong cả nước, để làm căn cứ cho kiểm tra, đánh giá, thi cử…

Bộ sách giáo khoa có chất lượng tốt thể hiện ở: tính khoa học, hiện đại, cập nhật, mới mẻ, tính thực tiễn, tính sư phạm, tính vừa sức đối với học sinh, hình thức trình bày đẹp, có minh họa đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật, giá thành phù hợp, được xã hội, nhà trường chào đón, thầy và trò hài lòng sử dụng có hiệu quả…

Các bộ sách còn lại đã xuất bản nên đưa lên mạng làm sách giáo khoa điện tử cho thầy và trò tham khảo, sử dụng, cách này là phù hợp nhất trong thời đại bùng nổ thông tin.

Hiện nay ở nhiều nước có xu hướng sử dụng sách giáo khoa điện tử. Năm học 2021-2022, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã cho triển khai dự án thí điểm sử dụng sách giáo khoa điện tử tại 40% trường tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước đã cho kết quả tốt và họ có kế hoạch từ năm 2024 sách giáo khoa điện tử sẽ được sử dụng song song với sách giáo khoa in trên giấy.

2.5. Vai trò của đội ngũ nhà giáo:

Trên thế giới có những quốc gia có một chương trình nhưng có nhiều bộ sách giáo khoa như Trung Quốc và cũng có những quốc gia chỉ có chương trình mà không có sách giáo khoa như Australia, New Zeland, ở đó giáo viên có thể sưu tầm các nguồn tài liệu khác nhau, kể cả sách giáo khoa từ các quốc gia khác để giảng dạy.

Trước khi lên lớp giáo viên phải soạn giáo án hay còn được gọi là bản thiết kế giờ học. Để soạn giáo án giáo viên phải nghiên cứu nắm vững chương trình môn học, nắm vững nội dung sách giáo khoa, tìm chọn tài liệu tham khảo, mở rộng, tìm các thí dụ thực tế để minh họa, soạn các bài tập thực hành, thí nghiệm... Nội dung giáo án có thể vượt tầm nội dung và phương pháp sư phạm của sách giáo khoa, đó chính là năng lực của đội ngũ nhà giáo.

Ở bất kỳ thời đại nào giáo viên luôn là nhân tố quyết định phương hướng và chất lượng giáo dục, người gợi mở, dẫn dắt học sinh tư duy sáng tạo trong học tập và thực hành để trở thành người lao động giỏi.

Từ lý luận và thực tiễn giáo dục cho thấy cải cách giáo dục, hay đổi mới chương trình và sách giáo khoa chỉ phát huy được hiệu quả khi có đội ngũ nhà giáo có đủ phẩm chất và năng lực sư phạm thực hiện.

3. Kết luận, kiến nghị:

Đổi mới chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

Xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa là công việc mang tính khoa học nghiêm túc, cần có kế hoạch chi tiết, toàn diện, cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện cơ sở vật chất trước khi tiến hành đổi mới.

Chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông là sản phẩm của các nhà khoa học giáo dục, nhũng người nắm vững lý luận và thực tiễn giáo dục phổ thông biên soạn.

Tác giả viết sách giáo khoa nên là giảng viên các trường đại học sư phạm nơi đào tạo giáo viên để đổi mới giáo dục, nên là những nhà giáo giỏi đang giảng dạy ở các trường chuyên, trường năng khiếu, trường chất lượng cao, có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục, bồi dưỡng tài năng trẻ, cùng phối hợp với các nhà khoa học cơ bản, hay chuyên ngành biên soạn.

Ở thời điểm hiện nay cần có một bộ sách giáo khoa dùng chung cho cả nước, để thống nhất về nội dung giảng dạy và tạo thuận lơi cho việc thanh tra, kiểm tra, đánh giá, thi cử. Những bộ sách đã xuất bản còn lại đưa lên mạng làm sách giáo khoa điện tử cho giáo viên và học sinh tham khảo sử dụng.

Để xã hội hóa việc viết sách giáo khoa nên tổ chức thi viết sách giáo khoa, với những quy định chặt chẽ về các tiêu chí chất lượng sản phẩm, có phần thưởng tinh thần và vật chất xứng đáng, chắc chắn sẽ thu hút được nhiều nhà khoa học, nhà giáo tham gia và sẽ có nhiều sách giáo khoa có chất lượng tốt để sử dụng.

Trong giai đoạn hiện nay nên tạm ngừng việc dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở, cho đến khi các trường sư phạm đào tạo đủ giáo viên dạy tích hợp và khi đã biên soạn được một bộ sách giáo khoa tích hợp, cũng như chuẩn bị đầy đủ các điều kiện vật chất để thực hiện.

Tài liệu tham khảo

  1. Amy Benjamin, 2013. Differentiated Instruction – A Guide for Middle and High School Teachers. Routledge, New York.
  2. Cash, Richard M., 2017. Differentiation: Thinking and Learning for the 21st Century, Free Spirit Publishing Inc, USA.
  3. Gregory, G. H. & Chapman, C., 2002. Differentiated instructional strategies: One size doesn’t fit all. Thousand Oaks, CA: Corwin Press.
  4. Đặng Thành Hưng, 1994. “Những vấn đề về phương pháp luận của giờ học phân hoá theo nhịp độ ở bậc tiểu học”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 4, tr 6 – 8.
  5. Martin & Loomis, 2014. Xây dựng đội ngũ nhà giáo: Một cách tiếp cận kiến tạo để nhập môn Giáo dục học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Phạm Viết Vượng. Giáo dục học. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2016.
  7. Phạm Viết Vượng. Lý luận dạy học đại học. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2012.
  8. Phạm Viết Vượng. Lý luận giáo dục. NXB Giáo dục Hà Nội 2014.
  9. Phạm Viết Vượng. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2010.
  10. Các trang Web giáo dục.

PGS.TS. Phạm Viết Vượng

Trường ĐHSP Hà Nội

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

TCGCVN - Trong mắt đồng nghiệp và học sinh, Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình là một giáo viên mẫu mực: tận tụy với học trò, hết lòng với nghề, quản lý nhà trường minh bạch, được đánh giá hội tụ đầy đủ cả tài và đức. Nhiều năm liền chất lượng dạy và học đi lên, tuyển sinh tăng lên hằng năm rõ rệt, phong trào giáo dục được địa phương ghi nhận.

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.