XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH QUÂN SỰ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

09:21 | 11/08/2025
Đại tá, PGS. TS. NGƯT Nguyễn Xuân Tú - Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, TS Võ Thị Dương - Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công Thương 1. Mở đầu Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định thắng lợi vĩ đại đó chính là sự đoàn kết một lòng của toàn dân tộc, với ý chí quyết tâm cao, triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, lực

Đại tá, PGS. TS. NGƯT Nguyễn Xuân Tú -

Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự,

TS Võ Thị Dương -

Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công Thương

1. Mở đầu

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định thắng lợi vĩ đại đó chính là sự đoàn kết một lòng của toàn dân tộc, với ý chí quyết tâm cao, triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự giữ vai trò quan trọng, là lực lượng nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Để đi tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh và chỉ đạo đấu tranh quân sự kiên quyết, kịp thời.

2. Nội dung nghiên cứu

Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân chỉ có thể là con đường cách mạng, phải đứng lên đấu tranh bằng bạo lực để tự giải phóng. Để thực hiện được mục tiêu đó, phải xây dựng lực lượng của toàn dân, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng - “tổ chức ra quân đội công nông”[1, tr.2].

Thực hiện tư tưởng chiển lược đó, trong phong trào cách mạng những năm 1930 - 1931, quần chúng công nhân, nông dân đã tỏ rõ sức mạnh to lớn làm rung chuyển nền móng thống trị của chế độ thuộc địa của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, làm tan rã chính quyền địch ở nhiều làng xã, huyện, nhất là ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trong sức mạnh to lớn đó, có vai trò đấu tranh quân sự của các lực lượng tự vệ đỏ (Xích vệ) hỗ trợ và kết hợp với những cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công rộng lớn của quần chúng công, nông.

Tháng 3/1935, tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã có Nghị quyết riêng về Đội tự vệ. Trên cơ sở phân tích những kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trên thế giới và kinh nghiệm ở Nghệ - Tĩnh những năm 1930-1931, Nghị quyết khẳng định: “Nếu không sớm liệu dự bị võ trang quần chúng thì cách mạng không thành công được” [2, tr.93], đồng thời xác định những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đó là những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong buổi đầu xây dựng đội tự vệ công nông, tạo cơ sở để xây dựng các đội du kích, tự vệ chiến đấu những năm sau này.

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Trước tình hình Đông Dương thay đổi nhanh chóng, tại Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Đảng càng nhấn mạnh việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang với các đội tự vệ to, rộng. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, tháng 3/1940, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương tổ chức đội tự vệ và du kích ở các địa phương. Đến tháng 7/1940 tại nhiều nhà máy, trường học, đường phố các tỉnh Nam Kỳ, ngoài tổ chức tự vệ đã hình thành các tổ, tiểu tổ du kích. Ở vùng nông thôn, nhiều xã tổ chức được từ một tiểu đội đến một trung đội du kích, trang bị thô sơ, tiến hành huấn luyện quân sự, chuẩn bị khởi nghĩa. Đội du kích Hóc Môn (Gia Định), đội du kích Cần Giuộc (Chợ Lớn), đội du kích Vĩnh Liên (Vĩnh Long), đội du kích Mỹ Tho là những đội quân du kích đầu tiên của Nam Kỳ tham gia khởi nghĩa tháng 11/1940.

Tháng 9/1940, phát xít Nhật đánh chiếm Việt Nam, tại Lạng Sơn đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) và sau đó quân khởi nghĩa tiến hành đấu tranh du kích ở vùng căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai. Từ thực tiễn của khởi nghĩa Bắc Sơn và tiếp sau đó là khởi nghĩa ở Nam Kỳ (23/11/1940), một thời kỳ mới của cách mạng giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự. Tháng 02/1941, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Xứ uỷ Bắc Kỳ, đội du kích Bắc Sơn có gần 200 người, biên chế thành từng tiểu đội, vũ khí có khoảng 20 súng trường mới thu được của địch và hơn 100 súng kíp đã phát triển thành đội Cứu quốc quân, lực lượng nòng cốt trong xây dựng và chiến đấu ở căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai. Tiếp đó, để đáp ứng nhiệm vụ cứu nước, Trung đội Cứu quốc quân I, được thành lập ngày 14/02/1941 ở châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, có 37 người, biên chế 3 tiểu đội; Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập ngày 15/9/1941 ở huyện Vũ Nhai, tỉnh Thái Nguyên gồm 47 người, trong đó có 3 nữ, chia thành 5 tiểu đội, đến cuối tháng 10/1941 đã phát triển lên 70 người; Trung đội Cứu quốc quân III được thành lập ngày 25/02/1944 ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, gồm 30 đội viên. Đây là lực lượng vũ trang rất quan trọng để tiến hành đấu tranh quân sự.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về nước sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, tại Pác Bó (Cao Bằng), Người cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên… tổ chức vận động quần chúng nhân dân, xây dựng thí điểm Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng. Từ đó tiến hành xây dựng các đội du kích và phát triển căn cứ địa cách mạng. Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (10 - 19/5/1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”; chủ trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; xác định chuẩn bị tổng khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại. Trung ương Đảng chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” [3, tr.129]. Vì thế, phải phát triển những tổ chức tiểu tổ du kích, rèn luyện năng lực tổ chức, chỉ huy của cán bộ, đảng viên; phát triển lực lượng về mọi mặt để sẵn sàng tận dụng cơ hội thuận lợi nhất đánh bại kẻ thù.

Quảng cáo

Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ngày càng ác liệt. Đặc biệt, sau khi Đức tiến công Liên Xô (22/6/1941), cuộc chiến tranh bước sang thời kỳ mới với sự đối đầu giữa một bên là chủ nghĩa phát xít (Đức, Ý, Nhật) và một bên là lực lượng Đồng minh chống phát xít, gồm Liên Xô, Anh, Mỹ và nhiều nước tham gia. Dân tộc và cách mạng Việt Nam đứng vào hàng ngũ của lực lượng Đồng minh chống phát xít. Ngày 07/12/1941, Nhật tấn công cảng Trân Châu, tuyên chiến với Anh, Mỹ, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Ngày 21/12/1941, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Thông cáo gửi các cấp bộ đảng: Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng. Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phát triển, tăng cường thực lực cách mạng: “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta cũng vậy” [3, tr.240].

Với tư tưởng sáng suốt đó, ở Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển mạnh mẽ cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Trong vùng căn cứ địa Việt Bắc, lực lượng Cứu quốc quân và du kích phát triển mạnh ở các địa bàn Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Theo Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này) được thành lập ngày 22/12/1944. Đội gồm 34 cán bộ, chiến sĩ là những người kiên quyết, dũng cảm được lựa chọn từ các đội vũ trang ở Cao - Bắc - Lạng và những người đi học quân sự ở nước ngoài về có lòng yêu nước, chí căm thù giặc, hầu hết đã trải qua chiến đấu. Với sự ra đời của đội quân chủ lực này, hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng đã gồm “ba thứ quân”: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực; các đội vũ trang thoát ly ở các tỉnh, các châu, các huyện và các đội quân địa phương; các đội tự vệ chiến đấu, tự vệ cứu quốc ở các làng xã, xí nghiệp, đường phố - lực lượng bán vũ trang địa phương.

Sau khi phát xít Nhật làm đảo chính (09/3/1945) gạt thực dân Pháp khỏi Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945), phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Thời kỳ tiền khởi nghĩa phát triển với nhiều hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh diễn ra sôi nổi trên cả nước. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15 - 20/4/1945) chủ trương thống nhất các lực lượng vũ trang. Theo đó, ngày 15/5/1945, tại vùng giải phóng ở Thái Nguyên, lễ hợp nhất các tổ chức vũ trang cách mạng thành Việt Nam Giải phóng quân, tổng số gồm 13 đại đội. Ngoài các đại đội chủ lực đó, nhiều đơn vị Giải phóng quân địa phương đã được thành lập tại một số tỉnh và cả ở một số huyện khác thuộc Khu giải phóng Việt Bắc. Nhiệm vụ về tổ chức quân sự được đề ra cho Khu giải phóng là mỗi xã phải tiến tới thành lập một số tiểu tổ du kích. Do đó ở nơi nào có tổ chức cứu quốc là nơi ấy có các đội tự vệ, du kích.

Ngoài Khu Giải phóng Việt Bắc, tại các chiến khu khác và vùng ngoại vi Khu giải phóng, nhiều đội du kích tập trung đã được thành lập và ngày càng lớn mạnh. Tại chiến khu Trần Hưng Đạo (duyên hải Đông Bắc), đội du kích khi mới được thành lập vào tháng 6/1945 có khoảng 200 người, đến hạ tuần tháng 7 lên tới 500 người. Tại chiến khu Quang Trung (Hòa Bình – Ninh Bình - Thanh Hóa), ở khu căn cứ trung tâm Quỳnh Lưu (Ninh Bình) ngoài các trung đội tự vệ chiến đấu còn có một trung đội vũ trang thường trực mang tên Giải phóng quân. Tại Quảng Ngãi, lực lượng du kích Ba Tơ khi mới thành lập vào trung tuần tháng 3/1945, chỉ có một trung đội, cho tới đầu tháng 8 đã phát triển thành hai đại đội du kích tập trung ở hai chiến khu Vĩnh Sơn (Sơn Tịnh) và Núi Lớn (Mộ Đức) với tổng số lên tới 1.000 người. Tại Bắc Giang, cùng với việc tổ chức các đội tự vệ ở khắp các thôn xã, trung tuần tháng 2/1945 thành lập đội du kích tập trung của tỉnh, đến tháng 6 thành lập thêm 4 đội du kích của các huyện Hiệp Hòa, Yên Thế, Phú Bình và Lục Ngạn. Đồng thời, tại nhiều địa phương khác như Hải Dương, Hà Đông, Hà Nam, Hòa Bình… các đội tự vệ cứu quốc và các đội du kích tập trung cũng được xây dựng và phát triển. Tại Nghệ An, các đội tự vệ công nhân, tự vệ cứu quốc được thành lập ở Vinh, Bến Thủy. Tại Thừa Thiên, hầu khắp các xã có cơ sở Việt Minh đều có từ vài tiểu đội đến vài trung đội tự vệ. Hàng loạt đội du kích, tự vệ chiến đấu được hình thành ở An Lỗ, An Sơn (Bình Định), Bầu Bàn (Ninh Thuận), Chánh Lưu, Bến Cát (Thủ Dầu Một), U Minh (Bạc Liêu)... Tại Hà Nội, hầu hết các hội viên Công nhân cứu quốc, các đoàn viên Thanh niên cứu quốc có tinh thần hăng hái dũng cảm đều gia nhập tự vệ chiến đấu. Tới trung tuần tháng 8/1945, lực lượng tự vệ chiến đấu Hà Nội lên tới 8.000 người…

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai đã bước vào giai đoạn cuối. Ngày 09/5/1945, phát xít Đức đầu hàng Hồng quân Liên Xô và lực lượng Đồng minh. Trong nước, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ khắp cả nước. Ngày 12/8/1945, sau khi được biết Nhật Bản đề nghị mở đàm phán với các nước Đồng minh để ngừng bắn, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc đã hạ lệnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trong Khu khởi nghĩa. Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Uỷ ban khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách và đã ra Quân lệnh số 1. Trong giờ phút quyết định vận mệnh dân tộc và đất nước, từ ngày 14 đến 15/8/1945, tại Tân Trào đã diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng để quyết định tổng khởi nghĩa. Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị nêu rõ: “Mục đích tiến đánh cho quân giặc những đòn chí tử, tiêu diệt lực lượng của chúng, chớp lấy những căn cứ chính (cả các đô thị) trước khi quân Đồng minh vào” [3, tr.429].

Trước thời cơ “ngàn năm có một”, với vai trò làm nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ cho quần chúng nổi dậy, các đơn vị Giải phóng quân đã nhanh chóng tỏa về các địa phương, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tại chỗ, các đội du kích, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng, nổi dậy giành chính quyền. Tại các địa bàn trọng yếu, lực lượng vũ trang đã trở thành các mũi xung kích, đi đầu trong việc tuyên truyền để toàn thể nhân dân nhận rõ thời cơ của cách mạng, thực hiện các phương pháp đấu tranh phù hợp với tình hình, đối tượng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa các tổ chức phản động, chống phá cách mạng, v.v. Đây thực sự là cuộc vận động lớn, trực tiếp, thiết thực và hiệu quả nhất để toàn thể nhân dân các địa phương thấy rõ kẻ thù đấu tranh lúc này, đồng loạt nổi dậy phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng tiêu diệt quân Nhật, vô hiệu hóa và lật đổ chính phủ bù nhìn thân Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân. Cùng với đó, lực lượng vũ trang còn tích cực làm công tác địch vận, phân hóa hàng ngũ kẻ thù; khích lệ, động viên những người lầm đường, lạc lối đi theo cách mạng. Nhờ đó, nhiều công chức của chính quyền tay sai đã quay sang làm việc phục vụ cách mạng; nhiều binh lính địch không tuân lệnh chỉ huy, cung cấp tin tức và làm nội ứng cho ta.

Cùng với truyên truyền, vận động nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ cho quần chúng nổi dậy, lực lượng vũ trang đã thực hiện vai trò xung kích, chủ lực trong đấu tranh quân sự, trực tiếp xóa bỏ chính quyền địch, góp phần đưa cách mạng đến thành công. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, mặc dù buộc phải đầu hàng quân Đồng minh, nhưng lực lượng quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn còn trên 6 vạn tên. Ở một số nơi, chúng chưa chịu buông vũ khí, thậm chí còn đàn áp phong trào cách mạng. Đây là đối tượng trực tiếp và chủ yếu mà cuộc cách mạng phải loại bỏ. Vì nếu không vô hiệu hóa đội quân này, thì chúng sẽ là chỗ dựa để các lực lượng cơ hội, phản động thừa cơ chống cự, khiến Tổng khởi nghĩa phải kéo dài, bất lợi. Không những thế, việc kéo dài sự tồn tại của quân Nhật sẽ tạo cớ để quân Đồng minh tiến vào giải giáp, khi đó chúng ta không chỉ mất thời cơ thuận lợi để giành chính quyền, mà Tổng khởi nghĩa có thể chuyển sang một tình thế khác với những khó khăn phức tạp mới đi tới được thắng lợi. Trước tình hình đó, Tổng bộ Việt Minh và các ủy ban khởi nghĩa đã chỉ đạo các đơn vị Giải phóng quân và du kích từ căn cứ địa, các chiến khu và căn cứ vũ trang nhanh chóng về các địa phương, phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ, các tổ (đội) bán vũ trang, tổ chức trấn áp, tiêu diệt địch ở các mục tiêu trọng yếu, tạo điều kiện và cùng với quần chúng nhân dân trực tiếp xóa bỏ chính quyền địch, tổ chức chính quyền cách mạng.

Thực hiện chủ trương đó, tại Việt Bắc, ngày 16/8/1945 một đơn vị chủ lực Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào tiến về Thái Nguyên đánh địch, phối hợp với quần chúng thiết lập chính quyền cách mạng ở đây, sau đó tiến thẳng về Hà Nội. Tại các địa phương, như: Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn, Yên Bái, Tuyên Quang,… các đơn vị Giải phóng quân đều tập trung lực lượng, cơ động tiến công giải phóng các tỉnh lỵ. Đặc biệt, tại tỉnh Quảng Ngãi, từ chiến khu Vĩnh Sơn, Núi Lớn, hai đại đội du kích: Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám, với quân số hạn chế, vũ khí thô sơ, nhưng với quyết tâm cao đã lần lượt tiến đánh và giải phóng các huyện lỵ, tiến tới làm chủ tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Trong thời khắc giành chính quyền, sự xuất hiện và tổ chức hoạt động đấu tranh quân sự của lực lượng vũ trang trên các địa bàn không chỉ cổ vũ toàn dân vùng lên, mà còn khiến kẻ địch khiếp sợ, đầu hàng và nhanh chóng thất bại. Đây là một trong những nét độc đáo về hoạt động phối hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, góp phần quan trọng, trực tiếp giành chính quyền về tay nhân dân ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.

Đặc biệt, lực lượng vũ trang đã kịp thời hỗ trợ, bảo vệ và là chỗ dựa vững chắc cho lực lượng chính trị quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Với khí thế cách mạng sục sôi, ngay từ khi lệnh Tổng khởi nghĩa được phát ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, khắp cả nước, từ thành thị đến nông thôn, hơn 20 triệu quần chúng nhất tề vùng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn tay sai. Ở nhiều địa phương, mặc dù Giải phóng quân chưa đến kịp, nhưng với lực lượng chính trị mạnh mẽ của nhân dân, có lực lượng vũ trang và bán vũ trang tại chỗ đã tiên phong, hỗ trợ, tạo động lực lớn cho lực lượng chính trị của quần chúng nổi dậy đấu tranh. Chính từ sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng vũ trang mà lực lượng quần chúng dù chỉ có gậy gộc, giáo mác, thậm chí là tay không, đã nhất tề vùng lên, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, biểu tình vũ trang, rồi phát triển đánh chiếm các cơ quan chính quyền của địch, thiết lập chính quyền của nhân dân. Đây là phương thức đấu tranh chủ yếu, quyết định đến thắng lợi nhanh gọn, đồng loạt của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Tiêu biểu cho phương thức này là cuộc nổi dậy của nhân dân các thành phố: Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Đặc biệt, tại Hà Nội - nơi đặt trụ sở của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim và Bộ Chỉ huy quân Nhật (với số quân khoảng 10.000 tên), nhưng lực lượng vũ trang của ta chỉ có 3 chi đội tự vệ chiến đấu cùng đông đảo quần chúng đối phó với địch. Trước tình hình đó, Đảng bộ Hà Nội đã tổ chức các đội tự vệ, xung kích đi đầu, dẫn dắt hàng chục vạn quần chúng nhân dân mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, biểu tình vũ trang, nhanh chóng chiếm phủ Khâm Sai, tòa Thị Chính, Bưu Điện, trại Bảo An,… đưa cuộc khởi nghĩa ở trung tâm đầu não địch giành thắng lợi to lớn. Thắng lợi nhanh gọn ở Hà Nội đã thúc đẩy nhiều địa phương trên cả nước tiến hành khởi nghĩa và giành chính quyền về tay nhân dân.

3. Kết luận

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, trong đó lực lượng vũ trang cách mạng và đấu tranh quân sự giữ vai trò quan trọng. Đây là lực lượng nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Đúng như đánh giá của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960): “Cách mạng tháng Tám thành công căn bản do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận tiện nhất, giành chính quyền nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng không thể mau chóng giành được thắng lợi” [4, tr.631]. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và nhân dân ta đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về khởi nghĩa vũ trang, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự cho kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ những năm 1945-1975 và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.2.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.93.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.129, 240, 429.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.631.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.