NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI THEO TINH THẦN KẾT LUẬN SỐ 75 - KL/TW

22:12 | 24/08/2026

Đỗ Thiện Diệu - Đỗ Quang Minh

Nghiên cứu sinh, Học viện Chính trị - Giảng viên, Trường Sĩ quan Chính trị

Email: [email protected]

Tóm tắt: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên Quân đội là một nội dung của giáo dục phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng, đồng thời gắn bó chặt chẽ với xây dựng đơn vị chính quy, xanh, sạch, đẹp, bảo đảm sức khỏe bộ đội, chất lượng huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Kết luận số 75 - KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đặt ra yêu cầu mới đối với công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng văn hóa môi trường và phát huy trách nhiệm của mỗi cá nhân. Trên cơ sở phân tích tài liệu, văn bản quy phạm, số liệu tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên toàn quân nhiệm kỳ 2022 - 2025 và tổng kết thực tiễn công tác, bài viết làm rõ bản chất, cấu trúc của ý thức bảo vệ môi trường và yêu cầu chuyển đổi cách tiếp cận giáo dục; phân tích thực trạng, hạn chế, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra; từ đó đề xuất năm nhóm giải pháp: đổi mới nội dung; đổi mới phương thức theo hướng chuyển từ giáo dục nhận thức sang giáo dục hành vi; phát huy vai trò chủ thể của thanh niên và tổ chức Đoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ; đổi mới kiểm tra, đánh giá gắn với thi đua và nhân rộng mô hình. Điểm cốt lõi là nâng cao chất lượng chuyển hóa nhận thức thành hành vi và hành vi thành văn hóa, theo logic: nhận thức → thái độ → hành vi → thói quen → văn hóa.

Từ khóa: giáo dục ý thức; bảo vệ môi trường; thanh niên Quân đội; văn hóa môi trường; chuyển đổi số; Kết luận số 75-KL/TW.

1. Đặt vấn đề

Môi trường là điều kiện sống thiết yếu của con người, là không gian tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời là một trong những yếu tố cấu thành nền tảng của phát triển bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, thiên tai cực đoan, ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học và các vấn đề môi trường xuyên biên giới gia tăng, bảo vệ môi trường không còn được nhìn nhận đơn thuần như một lĩnh vực quản lý nhà nước mà đã trở thành vấn đề phát triển, vấn đề an ninh và vấn đề trách nhiệm của toàn xã hội.

Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 xác lập nhiều nguyên tắc quan trọng về phòng ngừa ô nhiễm, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và huy động sự tham gia của cộng đồng [5]. Tuy nhiên, giữa nhận thức và hành động vẫn còn khoảng cách nhất định: ý thức môi trường của một bộ phận cá nhân chưa chuyển hóa đầy đủ thành hành vi thường xuyên, tự giác. Vì vậy, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là một trong những giải pháp căn bản, lâu dài để tạo chuyển biến bền vững.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ môi trường có đặc thù riêng do gắn với hoạt động quân sự, quốc phòng và đặc điểm tổ chức, đóng quân, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Hoạt động tại doanh trại, thao trường, bãi tập, kho tàng, cơ sở kỹ thuật, khu vực sản xuất có thể phát sinh nhiều vấn đề về nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại, tiếng ồn, sử dụng năng lượng, nhiên liệu, hóa chất. Nếu không được kiểm soát tốt, những vấn đề này tác động trực tiếp đến sức khỏe bộ đội, chất lượng đời sống, điều kiện huấn luyện và khả năng bảo đảm nhiệm vụ. Điều lệ công tác bảo vệ môi trường của Quân đội nhân dân Việt Nam xác định đây là một mặt công tác của Quân đội và là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong toàn quân [6].

Trong tổng thể lực lượng, thanh niên có vị trí đặc biệt quan trọng: chiếm tỷ lệ lớn ở nhiều cơ quan, đơn vị; trực tiếp tham gia huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, quản lý doanh trại, lao động sản xuất, dân vận, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; có ưu thế về sức khỏe, khả năng thích ứng, tinh thần xung kích và năng lực tiếp cận công nghệ. Do đó, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên Quân đội không chỉ nhằm tạo ra những quân nhân biết giữ gìn vệ sinh doanh trại, mà sâu xa hơn là hình thành một hệ giá trị, một chuẩn mực ứng xử của người quân nhân đối với môi trường. Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, tổ chức tháng 12/2025 tại Hà Nội với 400 đại biểu đại diện cho tuổi trẻ toàn quân, đã xác định khẩu hiệu hành động “Bản lĩnh - Tiên phong - Đột phá - Phát triển”, triển khai phong trào “3 Tiên phong quyết thắng” cùng phương châm “2 xung kích, 2 sẵn sàng”; trong đó, bảo vệ môi trường, phòng, chống biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn tiếp tục được xác định là một nội dung hoạt động thường xuyên của thanh niên Quân đội [8].

Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới [1]. Kết luận nhấn mạnh vai trò của tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, xây dựng văn hóa môi trường và huy động sự tham gia của toàn xã hội. Đối với Quân đội, tinh thần đó đặt ra một yêu cầu có tính phương pháp luận: không chỉ giáo dục để thanh niên “biết về môi trường”, mà phải giáo dục để thanh niên “có trách nhiệm với môi trường, biết hành động vì môi trường và biến hành động đó thành thói quen, chuẩn mực văn hóa”.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, văn bản quy phạm và tổng kết thực tiễn công tác giáo dục, kết hợp cách tiếp cận của khoa học giáo dục để làm rõ vấn đề và đề xuất giải pháp. Số liệu minh chứng được khai thác từ Văn kiện Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022 - 2027) và Báo cáo chính trị của Tổng cục Chính trị tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ XI (2025 - 2030).

2. Cơ sở lý luận và yêu cầu đặt ra từ tinh thần kết luận số 75 - KL/TW

2.1. Bản chất và cấu trúc của ý thức bảo vệ môi trường ở thanh niên Quân đội

Ý thức bảo vệ môi trường là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh nhận thức, tình cảm, niềm tin, thái độ và trách nhiệm của con người đối với môi trường tự nhiên và môi trường sống. Ở thanh niên Quân đội, ý thức đó còn gắn với đặc thù nghề nghiệp, tổ chức kỷ luật và trách nhiệm của người quân nhân.

Về mặt giáo dục học, không nên đồng nhất ý thức bảo vệ môi trường với kiến thức môi trường. Một quân nhân có thể hiểu tác hại của rác thải nhựa nhưng vẫn tùy tiện vứt rác; biết cần tiết kiệm điện, nước nhưng vẫn sử dụng lãng phí. Điều đó cho thấy tri thức là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Cách tiếp cận “Kiến thức - Thái độ - Thực hành” (Knowledge – Attitude – Practice) chỉ rõ: chuyển biến hành vi chỉ diễn ra khi kiến thức được chuyển hóa qua thái độ và được củng cố trong thực hành thường xuyên. Vì vậy, ý thức bảo vệ môi trường phải được biểu hiện ở sự thống nhất giữa nhận thức, thái độ và hành động.

Ở phương diện nhận thức, thanh niên phải hiểu vị trí của môi trường đối với đời sống, nhiệm vụ quân sự và phát triển đất nước; hiểu trách nhiệm cá nhân, tập thể; nắm các quy định liên quan. Ở phương diện thái độ, phải hình thành sự tôn trọng thiên nhiên, tinh thần trách nhiệm, thái độ không thờ ơ trước hành vi gây ô nhiễm. Ở phương diện hành động, phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thường xuyên, tự giác. Do đó, mục tiêu cuối cùng của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường không phải là bổ sung một lượng kiến thức, mà là tạo ra sự thay đổi tương đối bền vững trong cách nghĩ, cách ứng xử và cách hành động.

2.2. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là một bộ phận của giáo dục phẩm chất quân nhân và xây dựng chính quy

Bảo vệ môi trường trong Quân đội có mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng chính quy. Một đơn vị có doanh trại sạch, cảnh quan xanh, chất thải được quản lý tốt, tài nguyên được sử dụng tiết kiệm sẽ tạo môi trường thuận lợi cho bộ đội sinh hoạt, học tập, huấn luyện, công tác. Ngược lại, môi trường doanh trại nhếch nhác, rác thải không phân loại, chất thải không thu gom đúng quy định không chỉ phản ánh hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường mà còn phản ánh vấn đề về ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm của quân nhân.

Vì vậy, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường phải được đặt trong quan hệ thống nhất với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, pháp luật và kỷ luật Quân đội. Những hành vi nhỏ như tắt điện khi ra khỏi phòng, khóa vòi nước sau khi dùng, bỏ rác đúng nơi quy định, phân loại chất thải, chăm sóc cây xanh, giữ vệ sinh khu vực làm việc - nếu được thực hiện tự giác, thường xuyên - sẽ góp phần hình thành tác phong khoa học, tính kỷ luật và trách nhiệm của quân nhân. Ở góc độ đó, giáo dục môi trường không phải nội dung “phụ thêm” mà là một phương diện của giáo dục phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng.

2.3. Yêu cầu chuyển đổi cách tiếp cận giáo dục từ tinh thần Kết luận số 75 - KL/TW

Kết luận số 75 - KL/TW nhấn mạnh việc tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy vai trò của toàn xã hội và xây dựng văn hóa môi trường [1]. Tinh thần đó tiếp tục được cụ thể hóa trong chương trình hành động thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị [2] và của Chính phủ, trong đó nhóm nhiệm vụ về tuyên truyền, giáo dục, huy động sự tham gia của toàn xã hội và nhóm nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được xác định là những trọng tâm [3], [4].

Từ đó, giáo dục môi trường hiện nay cần được tiếp cận theo hướng mới, phù hợp với quy luật hình thành hành vi và với đặc điểm học qua trải nghiệm của người học: từ tuyên truyền một chiều sang tương tác và trải nghiệm; từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực hành động; từ phong trào ngắn hạn sang xây dựng thói quen thường xuyên; từ quản lý bằng mệnh lệnh sang hình thành ý thức tự giác và văn hóa môi trường; từ phương thức truyền thống sang kết hợp giáo dục trực tiếp với nền tảng số và công nghệ mới. Đây là những định hướng có ý nghĩa trực tiếp đối với đổi mới giáo dục thanh niên Quân đội.

3. Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên quân đội và những vấn đề đặt ra

3.1. Những kết quả tích cực

Thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trong Quân đội ngày càng được quan tâm. Hệ thống quy định, hướng dẫn từng bước được hoàn thiện; các cơ quan, đơn vị chú trọng hơn đến quản lý chất thải, vệ sinh doanh trại, xây dựng cảnh quan, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và phòng ngừa các yếu tố gây ô nhiễm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục được triển khai bằng nhiều hình thức. Bên cạnh giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật và sinh hoạt đơn vị, nhiều nơi tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới, các chiến dịch trồng cây, vệ sinh doanh trại, thu gom rác thải, chăm sóc cảnh quan. Số liệu tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên toàn quân phản ánh rõ quy mô và xu hướng phát triển của các hoạt động này: so với nhiệm kỳ 2017 - 2022, trong nhiệm kỳ 2022 - 2025, số tổ, đội lượt thanh niên tình nguyện tăng từ 14.204 lên 15.104 (tăng 900 tổ, đội); số cây xanh được trồng mới tăng từ 822.938 lên 1.378.896 cây (tăng 555.958 cây, tương ứng 67,56%); số đơn vị máu hiến tặng tăng từ 62.434 lên 153.500 đơn vị (tăng 91.066 đơn vị) [7], [8]. Cũng trong nhiệm kỳ 2022 - 2025, tuổi trẻ Quân đội đã thực hiện gần 10.000 công trình, phần việc thanh niên; tổ chức 722 đội hình tình nguyện trong các chiến dịch thanh niên tình nguyện hè; tu sửa hơn 400 km đường giao thông nông thôn và thu gom hơn 500 tấn rác thải tại các bãi biển [8]. Thanh niên Quân đội đã phát huy vai trò xung kích; tổ chức Đoàn ở cơ sở có điều kiện thuận lợi để tập hợp đoàn viên, triển khai phong trào, xây dựng mô hình và huy động lực lượng. Những hoạt động này vừa cải thiện trực tiếp môi trường đơn vị, vừa tạo môi trường thực tiễn để giáo dục trách nhiệm.

Cùng với đó, nền tảng tổ chức và chất lượng đội ngũ - hai điều kiện trực tiếp bảo đảm cho giáo dục ở cơ sở - tiếp tục được củng cố. Trong nhiệm kỳ 2022 - 2025, tỷ lệ chi đoàn hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đạt 84,12%; liên chi đoàn đạt 82,90%; đoàn cơ sở đạt 83,39% [8]. Chất lượng học tập của đoàn viên, thanh niên cũng chuyển biến tích cực: tỷ lệ khá tăng từ 42,92% lên 51,28%, tỷ lệ trung bình giảm từ 19,00% xuống 10,12% và không còn tỷ lệ yếu [7], [8]. Đây là điều kiện thuận lợi để đưa nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào sinh hoạt thường xuyên của chi đoàn, thay vì chỉ triển khai theo từng đợt cao điểm.

Một kết quả quan trọng khác là nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về mối quan hệ giữa môi trường với sức khỏe, đời sống bộ đội ngày càng rõ. Điều lệ công tác bảo vệ môi trường của Quân đội tạo hành lang để thực hiện tuyên truyền, giáo dục dưới nhiều hình thức như nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu, sân khấu hóa, viết bài, làm phim tài liệu, phóng sự [6]. Đây là cơ sở thuận lợi để đổi mới phương thức giáo dục.

3.2. Những hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên Quân đội còn một số hạn chế. Trước hết, ở một số nơi, nội dung giáo dục còn thiên về phổ biến kiến thức và quy định; trả lời câu hỏi “phải biết gì” tương đối rõ, nhưng “phải làm gì” và “làm thế nào để duy trì hành vi” chưa được cụ thể hóa đầy đủ.

Thứ hai, tính thực tiễn của giáo dục chưa đồng đều; có hoạt động còn mang tính phong trào, tập trung vào một số thời điểm, khi kết thúc đợt hoạt động, một số hành vi chưa trở thành thói quen. Thứ ba, phương pháp giáo dục chưa khai thác hết đặc điểm của đối tượng thanh niên vốn tiếp cận nhanh với hình ảnh, video, nền tảng số; nếu chỉ dựa vào thuyết trình, đọc tài liệu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hạn chế.

Thứ tư, việc đánh giá kết quả chủ yếu chú trọng số lượng hoạt động, số lượt tham gia, số công trình, phần việc thanh niên, mà chưa chú trọng đúng mức đến mức độ thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi. Thực tế, các chỉ tiêu được thống kê, so sánh giữa hai nhiệm kỳ chủ yếu là số tổ, đội tình nguyện, số công trình, phần việc thanh niên, số cây xanh trồng mới, số đơn vị máu hiến tặng [7], [8] - đều là chỉ báo đầu ra của hoạt động, chưa phải chỉ báo phản ánh mức độ duy trì hành vi môi trường thường xuyên của mỗi quân nhân; chẳng hạn, số cây xanh trồng mới chưa đi kèm tỷ lệ cây sống sau 12 tháng, số công trình thanh niên chưa đi kèm thời gian duy trì hiệu quả sau nghiệm thu. Thứ năm, sự kết nối giữa giáo dục và điều kiện vật chất ở một số nơi chưa chặt chẽ: không thể yêu cầu phân loại rác nếu hệ thống thu gom không phân loại; không thể yêu cầu tiết kiệm nước nếu hệ thống cấp nước rò rỉ; không thể yêu cầu giảm chất thải nếu chưa có giải pháp thay thế phù hợp.

3.3. Nguyên nhân của hạn chế

Về khách quan, hoạt động quân sự có tính đặc thù; nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm quốc phòng luôn đặt ra yêu cầu ưu tiên cao; điều kiện cơ sở vật chất ở các đơn vị không đồng đều; một số đơn vị đóng quân xa trung tâm, điều kiện xử lý chất thải còn khó khăn.

Về chủ quan, nhận thức về vị trí của giáo dục môi trường ở một số cấp ủy, chỉ huy, cán bộ chưa thật đồng đều; có nơi coi đây chủ yếu là nhiệm vụ vệ sinh môi trường hoặc hoạt động phong trào của tổ chức Đoàn, chưa nhìn nhận đầy đủ đây là nội dung giáo dục trách nhiệm và xây dựng văn hóa đơn vị. Mặt khác, năng lực thiết kế nội dung giáo dục môi trường của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; việc kết hợp kiến thức môi trường với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật và nhiệm vụ quân sự chưa thật nhuần nhuyễn.

3.4. Những vấn đề đặt ra

Từ thực trạng trên, có thể xác định bốn vấn đề cần giải quyết. Một là, xác định rõ giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là một nội dung của giáo dục trách nhiệm quân nhân, không phải hoạt động bổ trợ. Hai là, tạo được sự chuyển hóa từ nhận thức đến thái độ, hành vi, thói quen và văn hóa. Ba là, đưa thanh niên vào vị trí chủ thể của hoạt động giáo dục, thay vì chỉ là đối tượng tiếp nhận. Bốn là, kết hợp giáo dục với tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, bởi giáo dục khó hiệu quả nếu môi trường thực tiễn không tạo điều kiện để hành vi được thực hiện và duy trì.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên quân đội

4.1. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng thiết thực, gắn với đặc điểm nhiệm vụ của từng đơn vị

Đổi mới nội dung là khâu đầu tiên. Trước hết, nội dung phải bảo đảm tính chính trị, pháp lý và khoa học: thanh niên cần được trang bị hiểu biết cơ bản về quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng và yêu cầu của đơn vị về bảo vệ môi trường. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ; nội dung phải được cụ thể hóa thành những vấn đề gần gũi với đời sống quân nhân.

Đối với đơn vị đóng quân tập trung, chú trọng quản lý rác thải sinh hoạt, nước thải, vệ sinh doanh trại, tiết kiệm điện nước, bảo vệ cây xanh. Đối với đơn vị có hoạt động kỹ thuật, chú trọng quản lý dầu mỡ, nhiên liệu, hóa chất, chất thải nguy hại. Đối với đơn vị thường xuyên huấn luyện ngoài thao trường, chú trọng bảo vệ cảnh quan, đất, nguồn nước và phòng ngừa cháy, nổ, ô nhiễm.

Quảng cáo

Nội dung nên được thiết kế theo nguyên tắc: một vấn đề - một thông điệp - một hành vi cụ thể. Ví dụ, khi giáo dục về tiết kiệm năng lượng, không chỉ nói về biến đổi khí hậu mà xác định rõ hành vi phải thực hiện: tắt thiết bị khi không dùng, sử dụng điều hòa hợp lý, tận dụng ánh sáng tự nhiên. Như vậy, nội dung phải trả lời được ba câu hỏi: Tại sao phải làm? Phải làm gì? Làm như thế nào? Đây là cách đưa giáo dục môi trường từ lý thuyết đến hành động, và cũng là giải pháp có ý nghĩa quyết định: chuyển trọng tâm từ giáo dục nhận thức sang giáo dục hành vi.

4.2. Đổi mới phương thức giáo dục theo hướng gắn nhận thức với hành động và trải nghiệm

Một nguyên tắc quan trọng của khoa học giáo dục là con người không chỉ học bằng nghe và đọc, mà còn học bằng trải nghiệm và hành động; tri thức được kiến tạo và củng cố qua chu trình trải nghiệm - quan sát - khái quát - vận dụng. Đối với thanh niên Quân đội, nguyên tắc này càng phù hợp bởi môi trường quân sự có tính tổ chức, kỷ luật và thực hành cao.

Các đơn vị cần xây dựng những chuẩn mực hành vi môi trường cụ thể: không xả rác tùy tiện; phân loại chất thải theo quy định; tiết kiệm điện, nước; hạn chế sản phẩm nhựa dùng một lần; giữ gìn cây xanh, cảnh quan; bảo vệ nguồn nước; chủ động phát hiện, báo cáo nguy cơ ô nhiễm; thực hiện đúng quy định khi sử dụng, bảo quản nhiên liệu, hóa chất. Tổ chức Đoàn có thể triển khai mô hình “Mỗi đoàn viên một hành động xanh”, trong đó mỗi đoàn viên lựa chọn một hành vi cụ thể để thực hiện thường xuyên. Điều quan trọng là không biến hoạt động này thành khẩu hiệu: hành vi phải được kiểm tra, khuyến khích, ghi nhận và trở thành một phần của đánh giá thi đua.

Có thể hình thành quy trình: đăng ký hành vi → thực hiện → tự đánh giá → tập thể giám sát → biểu dương → duy trì thành thói quen. Khi được duy trì đủ lâu, hành vi dần trở thành thói quen; khi thói quen được cộng đồng đơn vị chia sẻ, nó trở thành chuẩn mực văn hóa. Theo hướng đó, mục tiêu cao nhất của giáo dục môi trường không phải là tạo ra nhiều “ngày ra quân”, mà là tạo ra một môi trường trong đó hành vi bảo vệ môi trường trở thành việc bình thường, tự nhiên và tự giác của mỗi quân nhân.

4.3. Phát huy vai trò chủ thể của thanh niên và tổ chức Đoàn

Thanh niên là đối tượng giáo dục nhưng đồng thời phải là chủ thể của quá trình giáo dục. Để làm được điều đó, tổ chức Đoàn cần chuyển từ cách làm “phát động - triển khai - tổng kết” sang cách làm “phát hiện vấn đề - đề xuất sáng kiến - tổ chức thử nghiệm - đánh giá - nhân rộng”.

Ví dụ, thay vì chỉ tổ chức một ngày tổng vệ sinh, chi đoàn có thể khảo sát lượng rác phát sinh trong một tuần, xác định nguyên nhân, đề xuất giải pháp giảm rác, thử nghiệm phân loại và đánh giá kết quả. Thay vì chỉ trồng cây, đoàn viên có thể xây dựng bản đồ số về cây xanh, phân công chăm sóc, theo dõi tỷ lệ cây sống và lập kế hoạch bổ sung. Thay vì chỉ tuyên truyền tiết kiệm điện, thanh niên có thể theo dõi mức tiêu thụ theo tháng, so sánh giữa các khu vực và đề xuất giải pháp. Cách làm đó vừa tạo hiệu quả môi trường thực tế, vừa có giá trị giáo dục cao vì thanh niên được tham gia toàn bộ quá trình giải quyết vấn đề.

Dư địa của cách làm này là rất lớn. Trong nhiệm kỳ 2022 - 2025, Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” trong Quân đội đã thu hút 2.213 công trình, sáng kiến của 129 đầu mối cơ quan, đơn vị, trong đó 1.164 công trình được trao giải [8]. Nếu một phần trong số đó được định hướng vào những vấn đề môi trường cụ thể của đơn vị - xử lý nước thải sinh hoạt tại chỗ, phân loại và tái sử dụng chất thải, tiết kiệm điện, nước, giám sát chất lượng môi trường doanh trại - thì hiệu quả môi trường và hiệu quả giáo dục sẽ được cộng hưởng, đồng thời hình thành đội ngũ thanh niên làm chủ công nghệ môi trường ngay tại cơ sở.

Đối với học viện, nhà trường quân đội, cần phát huy vai trò của giảng viên và học viên trong nghiên cứu. Các đề tài, tiểu luận, bài tập nhóm có thể hướng vào quản lý môi trường doanh trại, kinh tế tuần hoàn trong Quân đội, giảm chất thải nhựa, tiết kiệm năng lượng, ứng dụng công nghệ trong giám sát môi trường. Qua đó, giáo dục môi trường gắn với giáo dục nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

4.4. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong giáo dục môi trường

Kết luận số 75 - KL/TW và chương trình hành động thực hiện Kết luận đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào nhóm nhiệm vụ quan trọng trong bảo vệ môi trường [1], [3]. Đối với thanh niên Quân đội, đây là hướng có nhiều tiềm năng.

Trước hết, xây dựng hệ thống học liệu số về môi trường, đa dạng hóa thành video ngắn, infographic, sơ đồ, tình huống, câu hỏi tương tác, bài kiểm tra trực tuyến và các sản phẩm truyền thông do chính thanh niên xây dựng. Có thể triển khai các chuyên mục như “Mỗi ngày một hành động xanh”, “Một phút vì môi trường”, “Sáng kiến xanh trong đơn vị” - tác động thường xuyên, phù hợp khả năng tiếp nhận của quân nhân trẻ.

Bên cạnh giáo dục, chuyển đổi số cần được dùng trong quản lý môi trường. Các đơn vị có thể từng bước số hóa dữ liệu cơ bản như lượng điện, nước tiêu thụ, lượng chất thải, diện tích cây xanh, các điểm có nguy cơ ô nhiễm; từ đó xây dựng bảng theo dõi, biểu đồ, chỉ tiêu cải thiện. Khi thanh niên nhìn thấy kết quả cụ thể - lượng điện giảm, tỷ lệ rác được phân loại tăng - hiệu quả giáo dục sẽ rõ hơn. Tuy nhiên, chuyển đổi số không có nghĩa là “đưa bài giảng lên mạng”, mà phải làm thay đổi cách tương tác, trải nghiệm và đánh giá. Đồng thời, việc sử dụng mạng xã hội, nền tảng số, hình ảnh, dữ liệu, thông tin về đơn vị, địa bàn, trang bị, nhiệm vụ phải tuân thủ nghiêm quy định về bảo vệ bí mật quân sự, kỷ luật phát ngôn và định hướng chính trị; ứng dụng công nghệ phải bảo đảm thiết thực, tiết kiệm, tránh hình thức và phát sinh rác thải điện tử.

4.5. Đổi mới kiểm tra, đánh giá; gắn kết quả giáo dục với thi đua và nhân rộng mô hình

Một điểm yếu của giáo dục môi trường hiện nay là khó lượng hóa sự thay đổi về ý thức. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống đánh giá theo ba cấp độ, tương ứng với cấu trúc của ý thức và phù hợp với cách đánh giá theo nhiều mức của khoa học giáo dục. Cấp độ thứ nhất - nhận thức: thanh niên có hiểu đúng chủ trương, pháp luật, quy định và vấn đề môi trường hay không? Cấp độ thứ hai - thái độ: có tự giác, trách nhiệm, tích cực trước vấn đề môi trường hay không? Cấp độ thứ ba - hành vi: có thực sự thực hiện các hành vi bảo vệ môi trường trong đời sống, công tác hay không? Cách đánh giá này giúp tránh tình trạng “học tốt nhưng làm chưa tốt”.

Bên cạnh kiểm tra định kỳ, cần sử dụng các hình thức đánh giá trực tiếp như quan sát hành vi, khảo sát nhanh, kiểm tra thực hành, đánh giá của tập thể và phản hồi của đoàn viên. Kết quả bảo vệ môi trường cần được xem xét trong đánh giá thi đua của tập thể và cá nhân ở mức phù hợp; sáng kiến hiệu quả cần được biểu dương, nhân rộng. Có thể xây dựng các danh hiệu, mô hình như “Chi đoàn xanh”, “Doanh trại xanh - sạch - chính quy”, “Tổ thanh niên tự quản môi trường”. Nhưng cần tránh bệnh thành tích: một mô hình chỉ có giá trị khi tạo ra thay đổi thực tế và có khả năng duy trì; việc nhân rộng phải dựa trên hiệu quả, khả năng áp dụng và mức độ phù hợp với đặc điểm từng đơn vị. Về lâu dài, cần bổ sung vào hệ thống chỉ tiêu công tác Đoàn những chỉ báo phản ánh hành vi và kết quả môi trường thực tế - tỷ lệ chất thải được phân loại tại nguồn, mức tiêu thụ điện, nước bình quân đầu người, tỷ lệ cây trồng sống sau 12 tháng, tuổi thọ của công trình, phần việc thanh niên sau nghiệm thu - bên cạnh các chỉ tiêu số lượng hoạt động đang được sử dụng phổ biến hiện nay.

Để các giải pháp trên đi vào thực tiễn, cần bảo đảm một số điều kiện có tính then chốt. Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất: cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định giáo dục ý thức môi trường là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật và xây dựng chính quy, không giao khoán riêng cho tổ chức Đoàn hoặc cơ quan chuyên môn; cơ quan chính trị đưa nội dung này vào kế hoạch giáo dục chính trị và hoạt động văn hóa tinh thần phù hợp với từng đối tượng.

Thứ hai, sự đồng bộ giữa giáo dục và điều kiện vật chất - kỹ thuật: cơ quan hậu cần - kỹ thuật và các cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với cơ quan chính trị và tổ chức Đoàn, bảo đảm hệ thống thu gom, phân loại chất thải, cấp thoát nước, thiết bị tiết kiệm năng lượng… để hành vi được giáo dục có điều kiện thực hiện và duy trì. Thứ ba, cơ chế phát huy vai trò chủ thể: tổ chức Đoàn được trao quyền chủ động hơn trong phát hiện, đề xuất, tổ chức sáng kiến và ứng dụng công nghệ; đi kèm là điều kiện về thời gian, kinh phí, hạ tầng số và bồi dưỡng năng lực cho cán bộ đoàn.

Thứ tư, cơ sở khoa học: các học viện, nhà trường quân đội tăng cường nghiên cứu về giáo dục môi trường, hành vi môi trường và văn hóa môi trường trong Quân đội, làm căn cứ xây dựng các mô hình giáo dục có luận cứ khoa học, tránh triển khai theo phong trào.

5. Kết luận

Bảo vệ môi trường trong Quân đội nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa thiết thực đối với xây dựng đơn vị chính quy, hiện đại, bảo đảm sức khỏe bộ đội, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện trách nhiệm của Quân đội với cộng đồng, xã hội. Trong nhiệm vụ đó, thanh niên Quân đội giữ vị trí đặc biệt quan trọng: vừa là lực lượng đông đảo, trực tiếp tham gia nhiều hoạt động, vừa có khả năng tiếp nhận nhanh tri thức khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và có sức lan tỏa lớn.

Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 tạo cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục đổi mới công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, xây dựng văn hóa môi trường, phát huy sự tham gia của toàn xã hội và thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số [1]. Trên cơ sở đó, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên Quân đội cần được đổi mới theo một logic xuyên suốt: từ nhận thức đến thái độ, từ thái độ đến hành vi, từ hành vi đến thói quen và từ thói quen đến văn hóa.

Đây không chỉ là thay đổi hình thức mà là thay đổi quan niệm giáo dục: chuyển từ mục tiêu làm cho thanh niên “hiểu” sang mục tiêu làm cho mỗi quân nhân trẻ “có trách nhiệm và hành động”; từ các đợt ra quân, chiến dịch sang tạo lập một môi trường trong đó hành vi xanh trở thành chuẩn mực thường xuyên; từ chỗ thanh niên là lực lượng tham gia sang chỗ thanh niên là chủ thể sáng tạo, tổ chức và lan tỏa giá trị văn hóa môi trường; từ phương thức truyền thống sang tận dụng ưu thế của chuyển đổi số để tăng tính trực quan, tương tác, trải nghiệm và khả năng đánh giá.

Như vậy, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên Quân đội theo tinh thần Kết luận số 75-KL/TW không đơn thuần là tăng số lượng hoạt động tuyên truyền, mà cốt lõi là nâng cao chất lượng chuyển hóa nhận thức thành hành động và hành động thành văn hóa. Khi những hành vi cụ thể - giữ một khu vực doanh trại sạch hơn, tiết kiệm một đơn vị điện, nước, phân loại đúng một phần chất thải, bảo vệ một cây xanh, ngăn chặn một nguy cơ ô nhiễm - được hàng nghìn, hàng vạn quân nhân trẻ thực hiện tự giác và được tổ chức thành chuẩn mực chung, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sẽ trở thành một bộ phận của văn hóa Quân đội trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng môi trường quân sự xanh, sạch, chính quy, hiện đại và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

[2]. Bộ Chính trị (2026), Chương trình hành động số 31-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

[3]. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 04/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

[4]. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định số 3088/QĐ-BNNMT ngày 05/8/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 75-KL/TW và Nghị quyết số 208/NQ-CP.

[5]. Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020.

[6]. Bộ Quốc phòng (2026), Văn bản hợp nhất số 49/VBHN-BQP ngày 27/5/2026 về Điều lệ công tác bảo vệ môi trường của Quân đội nhân dân Việt Nam.

[7]. Tổng cục Chính trị (2022), Văn kiện Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X (2022 - 2027), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

[8]. Tổng cục Chính trị (2025), Báo cáo chính trị của Tổng cục Chính trị tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Hà Nội.

ENHANCING THE EFFECTIVENESS OF ENVIRONMENTAL PROTECTION AWARENESS EDUCATION FOR MILITARY YOUTH IN THE SPIRIT OF CONCLUSION NO. 75-KL/TW

Do Thien Dieu – Do Quang Minh

PhD Candidate, Political Academy – Lecturer, Political Officers College

Email: [email protected]

Abstract: Educating environmental awareness for military youth is an integral part of cultivating the qualities and personality of revolutionary soldiers, and is closely linked to building regular, green and clean units, ensuring soldiers’ health, training quality and combat readiness. Conclusion No. 75-KL/TW dated July 28, 2026 of the 14th Party Central Committee on environmental protection and proactive response to climate change in the new period sets new requirements for communication, education, environmental culture and individual responsibility. Based on document analysis, statistics from the summary of Youth Union work and youth movements across the whole army in the 2022-2025 term, and the review of practical work, this article clarifies the nature and structure of environmental awareness and the need to transform the educational approach; analyses the current situation, limitations, causes and emerging requirements; and proposes five groups of solutions: renewing educational contents; renovating methods by shifting from awareness education to behaviour education; promoting the subject role of youth and Youth Union organizations; accelerating digital transformation and the application of science and technology; and renovating evaluation linked to emulation and the replication of effective models. The core aim is to improve the transformation of awareness into behaviour and behaviour into culture, following the logic: awareness → attitude → behaviour → habit → culture.

Keywords: environmental awareness education; environmental protection; military youth; environmental culture; digital transformation; Conclusion No. 75 - KL/TW.

Ý kiến bạn đọc

TẠP CHÍ GIÁO CHỨC VIỆT NAM – Hành trình 20 năm xây dựng và trưởng thành

Tạp chí Giáo chức Việt Nam tròn 20 năm xây dựng và phát triển là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt đối với những người làm báo, làm khoa học giáo dục và các thế hệ nhà giáo Việt Nam. Từ những ngày đầu hoạt động trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, Tạp chí đã từng bước khẳng định vị trí là một diễn đàn khoa học giáo dục, nơi kết nối, chia sẻ và lan tỏa tri thức trong cộng đồng nhà giáo. Hai thập kỷ đã đi qua, hành trình ấy được ghi dấu không chỉ bằng hàng trăm số báo và hàng nghìn công trình khoa

Lan tỏa triết lý giáo dục, khẳng định bản sắc của một ngôi trường tiên phong đổi mới

TCGCVN - Chiều ngày 08/8/2026, tại Trường THPT Đông Đô (Hà Nội), Trường THPT Đông Đô phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Sư phạm tổ chức Hội thảo khoa học giới thiệu cuốn sách "Bản sắc Đông Đô trong tiến trình đổi mới giáo dục Việt Nam" của TS. Võ Thế Quân, Chủ tịch Hội đồng Trường THPT Đông Đô. Sự kiện là một trong những hoạt động trọng điểm chào mừng 35 năm thành lập Trường THPT Đông Đô (1991–2026), thu hút sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà giáo lão thành, đại d

GIÁO SƯ, VIỆN SĨ PHẠM MINH HẠC – NHÀ KHOA HỌC XUẤT SẮC VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ GIÁ TRỊ KHAI SÁNG VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

TCGCVN - Ngày 31/7/2026, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông là mất mát lớn đối với nền giáo dục, khoa học tâm lý và khoa học giáo dục Việt Nam. Với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, Tạp chí điện tử Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và sự nghiệp của một nhà giáo dục lớn, người đã cống hiến trọn đời cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.

MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

TCGCVN- GS.TSKH.VS. NGND Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026) – Nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà khoa học về phát triển con người; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và phát triển khoa học giáo dục Việt Nam.

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ KHOA HỌC, VIỆN SĨ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN PHẠM MINH HẠC: CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Bài viết được hoàn thành trong những ngày cả nước và đội ngũ nhà giáo Việt Nam tưởng niệm Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026), như một lời tri ân đối với những cống hiến to lớn của ông cho nền giáo dục và khoa học giáo dục nước nhà.

Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai (nhiệm kỳ 2025-2030)

TCGCVN - Ngày 29/7/2026, tại Hội trường Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa (Cơ sở 2), Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa đã long trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai, nhiệm kỳ 2025-2030. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của Thầy Trần Đạo Nghĩa (Chủ tịch Tỉnh hội), Cô Nguyễn Thị Thúy Hường và Thầy Nguyễn Cảnh Thái (Phó Chủ tịch Tỉnh hội).

GS.VS. NGND PHẠM MINH HẠC (1935–2026) – NHÀ GIÁO DỤC LỚN CỦA VIỆT NAM

TCGCVN- Trong những ngày đầu tháng Tám năm 2026, ngành Giáo dục Việt Nam và giới khoa học cả nước bàng hoàng đón nhận tin buồn: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần vào ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông không chỉ là mất mát to lớn đối với gia đình, đồng nghiệp và các thế hệ học trò, mà còn để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong toàn ngành giáo dục Việt Nam. Hơn bảy thập kỷ cống hiến không mệt mỏi, Giáo sư Phạm Minh Hạc

GS.VS.NGND PHẠM MINH HẠC TỪ TRẦN Ở TUỔI 91

TCGCVN - GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc – nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII, Chủ tịch Danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam, đã từ trần vào hồi 1 giờ 10 phút ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi.

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hĩa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.