XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

15:57 | 05/08/2025
Đại tá, PGS, TS, NGƯT, Nguyễn Xuân Tú – Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, TS Võ Thị Dương – Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công thương 1. Mở đầu Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm về bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh của bạo lực cách mạng trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng. Trong đó lực lượ

Đại tá, PGS, TS, NGƯT, Nguyễn Xuân Tú –

Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự,

TS Võ Thị Dương –

Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công thương

1. Mở đầu

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm về bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh của bạo lực cách mạng trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng. Trong đó lực lượng chính trị quần chúng giữ vai trò chủ yếu quyết định, lực lượng vũ trang giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Vì thế, trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng đã lãnh đạo tập trung xây dựng và phát triển lực lượng chính trị quần chúng rộng rãi. Đây là nhân tố quyết định đưa cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi to lớn, nhanh chóng và triệt để.

2. Nội dung nghiên cứu

Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một, hai người. Người chỉ rõ: “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được”[3, tr.299]. Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”[3, tr.297]. Đồng thời, Người còn chỉ rõ: Công, nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn của cách mạng.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là dấu mốc có tính bước ngoặt và đột phá trong phong trào yêu nước Việt Nam. Vừa được thành lập, dù còn non trẻ, Đảng đã nhận thấy việc xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng một đội ngũ quần chúng nhân dân hùng hậu, mạnh mẽ, giác ngộ mục tiêu lý tưởng cách mạng là hết sức cần thiết lúc này. Nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp, trên cơ sở phân tích đặc điểm xã hội Việt Nam, nhất là sự phân hoá về giai cấp trong xã hội, đánh giá đúng thái độ của từng giai cấp, tầng lớp, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định mục tiêu tập hợp lực lượng cách mạng, đưa ra nguyên tắc tập hợp và sắp xếp lực lượng cách mạng. Trên tinh thần giải quyết hài hoà từng bước quyền lợi của các giai cấp cách mạng, Đảng chủ trương “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng...”[1, tr.4]; đồng thời, “phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa c.m đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”[1, tr.4], ra sức liên minh với các giai cấp cách mạng, các tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến lên xây dựng xã hội không có người bóc lột người. Tiếp đó, trong Chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, ngày 18/11/1930, Thường vụ Trung ương Đảng cũng khẳng định: Nếu không tổ chức được lực lượng thật rộng, thật kín thì cách mạng cũng khó thành công.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân và khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp công nhân trong cách mạng vô sản, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã không ngừng xây dựng, củng cố khối liên minh công nông và dựa trên nền tảng đó, ngày càng mở rộng xây dựng lực lượng chính trị đông đảo trong toàn dân tộc để huy động sức mạnh quần chúng đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ đến. Nhờ đó, ngay từ phong trào cách mạng đầu tiên trong những năm 1930-1931, ở Việt Nam đã xác lập được khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Đây là lực lượng cách mạng đóng vai trò động lực chính của cách mạng, là nòng cốt để xây dựng, mở rộng lực lượng toàn dân tộc. Tiếp đó, trong phong trào cách mạng dân chủ những năm 1936-1939, lần đầu tiên trên thực tế ta đã xây dựng được Mặt trận rộng rãi tập hợp được lực lượng chính trị to lớn. Thời kỳ này, một mặt ta tiếp tục củng cố toàn diện khối liên minh công nông, mặt khác, chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng thông qua nhiều hình thức tổ chức. Qua đó vận động, tổ chức và tập dượt lực lượng chính trị quần chúng rộng lớn gồm cả tư sản dân tộc, tiểu tư sản, các đảng phái cải lương ít, nhiều có tiến bộ để tập trung chống bọn phản động thuộc địa, chống chiến tranh, đòi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà bình, hướng tới mục tiêu chiến lược là giành chính quyền.

Trong cao trào giải phóng dân tộc (1939-1945), khi xuất hiện tình thế cách mạng, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941), Đảng nhận định tình hình thế giới và trong nước đã có thay đổi lớn, tinh thần cách mạng của nhân dân cũng như thái độ của các giai cấp, tầng lớp đã có sự thay đổi, cho nên Hội nghị nhận định: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng””[2, tr.119], cũng như tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa, đặt Tổ quốc lên trên hết, đoàn kết toàn dân đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập cho dân tộc. Chính vì vậy, để tập hợp, xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời. Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh khẳng định: Việt Minh chủ trương liên hiệp các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn. Việt Minh chủ trương học tập hết thảy mọi tinh thần độc lập chân chính của giống nòi kết thành một khối vô địch đặng đập tan xiềng xích của Nhật Pháp, quét sạch mưu mô xảo trá của bọn Việt gian phản quốc, chúng đã gạch tên trong quốc tịch của người Việt Nam.

Ngay sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã kêu gọi các tầng lớp nhân dân theo thành phần, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và hoàn cảnh xã hội hãy tham gia vào các tổ chức đoàn thể cứu quốc do Việt Minh lãnh đạo: “Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội”. Những hội ấy do Việt Nam độc lập đồng minh lãnh đạo. Người có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức. Đồng tâm hợp lực. Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”[4, tr.246]. Nhờ đó, Mặt trận Việt Minh nhanh chóng có được sự ủng hộ không chỉ của hai giai cấp công nhân, nông dân, mà còn của tầng lớp trí thức, địa chủ yêu nước tiến bộ, tư sản dân tộc, tăng ni, giáo sĩ, phật tử.... Các nhà hữu sản góp nhiều tiền của, thóc gạo, mua công phiếu Việt Minh, kín đáo ủng hộ tiền vàng và mua súng giúp Việt Minh. Tầng lớp trí thức tiến bộ ngả về phía Việt Minh, hoạt động trong các hội truyền bá chữ quốc ngữ. Theo tiếng gọi của Việt Minh, nhiều trí thức nổi tiếng “xếp bút nghiên” lên vùng chiến khu tham gia cách mạng. Các vị giáo sĩ, tăng lữ, đồng bào theo đạo Thiên chúa và các tôn giáo khác... giúp Việt Minh in tài liệu, giao thông liên lạc, đưa đón cán cán bộ.... Từ miền núi đến miền xuôi, từ ngoài Bắc vào trong Nam, một cao trào cứu nước phát triển mạnh mẽ, khối đoàn kết dân tộc lớn mạnh chưa từng có. Chính vì thế, trong xây dựng lực lượng chính trị lúc này chẳng những có công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản mà còn có cả tư sản dân tộc, địa chủ… Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh như Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận càng mở rộng, phát triển rộng rãi. Đây là lực lượng quyết định tới thắng lợi trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

Trong thời gian này, trên cơ sở xác định hình thái khởi nghĩa đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, nên việc xây dựng lực lượng chính trị được tiến hành tích cực ở cả nông thôn và thành thị chứ không bó hẹp ở miền núi nông thôn. Cách mạng muốn giành thắng lợi nhanh chóng và triệt để phải đập tan những cơ quan đầu não bộ máy thống trị của địch ở ngay trung tâm thành thị, đặc biệt là ở thủ đô nên tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941), Đảng đã khẳng định: “Ta phải làm sao cho cách mạng ở đô thị phong trào thợ thuyền cho có thể lên cao và tiền phong cho các phong trào khác. Những nơi xưa nay chưa có ta phải đưa vận động chắp nối các mối manh làm cho phong trào khỏi cô độc”[2, tr.135]. Xuất phát từ nhận thức của Đảng về vai trò của nông thôn và thành thị, nhờ đó có sự chuẩn bị lực lượng gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh trên cả hai địa bàn chiến lược này. Nông thôn nhất là nông thôn miền núi là nơi tập trung lực lượng chính trị của quần chúng nông dân đông đảo, được tổ chức và rèn luyện qua đấu tranh cách mạng, nơi có địa hình thuận lợi cho việc tổ chức và che giấu lực lượng và cũng là nơi kẻ địch có nhiều sơ hở hơn so với thành thị. Còn thành thị là nơi tập trung công nhân và nhiều tầng lớp lao động đã được giác ngộ lý tưởng cách mạng, là nơi trọng yếu do tập trung các cơ quan đầu não của kẻ thù. Chính thắng lợi cuộc nổi dậy đồng loạt cả ở thành thị và nông thôn khắp Bắc, Trung, Nam mà đòn quyết định là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các thành phố quan trọng khác đã minh chứng cho sự sáng tạo đúng đắn của Đảng ta trong việc xây dựng lực lượng chính trị và kết hợp khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), thời cơ cho khởi nghĩa từng phần xuất hiện, trên cơ sở xây dựng lực lượng toàn dân với nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, Đảng đã động viên, tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đặc biệt khi thời cơ xuất hiện vào giữa tháng 8/1945, Đảng nhấn mạnh khởi nghĩa là công việc của toàn dân không chỉ riêng Việt Minh. Vào thời điểm cần tập trung lực lượng đông đảo, to lớn nhất cho khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng và Hồ Chí Minh vừa tiếp tục củng cố khối liên minh công, nông cả về chính trị, quân sự và kinh tế vừa tổ chức Mặt trân dân tộc thống nhất rộng rãi (Mặt trận Việt Minh). Thực hiện chủ trương kết hợp nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến nhưng hướng chỉ đạo chiến lược tập trung cho nhiệm vụ chủ yếu, hàng đầu lúc này là chống đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc nên đã tạo ra khả năng: vừa tập hợp được đông đảo nông dân, củng cố lòng tin của giai cấp nông dân đối với giai cấp công nhân, vừa lôi kéo được mọi lực lượng của dân tộc bao gồm tất cả những người có tinh thần chống đế quốc trong các giai cấp tư sản, địa chủ...mở rộng Mặt trận tập hợp những lực lượng yêu nước thông qua các tổ chức Công hội cứu quốc, Nông hội cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc...Nhờ đó, ta động viên được đông đảo quần chúng tham gia Tổng khởi nghĩa một cách sôi nổi, mạnh mẽ; lực lượng chính trị được phát triển sâu, rộng đã tạo cơ sở để lực lượng vũ trang từng bước phát triển cả ở nông thôn, thành thị cũng như trung du và rừng núi. Khi thời cơ “có một không hai” xuất hiện, ngay sau khi có Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của Ủy ban khởi nghĩa các cấp, lực lượng chính trị quần chúng tiếp tục được mở rộng với quy mô lớn hơn, rộng khắp các địa phương trên phạm vi toàn quốc, tạo sức mạnh to lớn trong cuộc đấu tranh quyết liệt với quân thù. Theo đó, khi Tổng khởi nghĩa diễn ra, lực lượng chính trị tiến hành đấu tranh chính trị gồm lực lượng quần chúng đông đảo (có lực lượng vũ trang cách mạng địa phương hỗ trợ), chỉ với gậy gộc, giáo mác, thậm chí là tay không đã nhất tề theo Đảng và Hồ Chí Minh đứng lên đấu tranh dưới các hình thức: mít tinh có vũ trang, biểu tình - tuần hành thị uy, biểu tình vũ trang,… nhưng đã làm chủ hoàn toàn cả về thế và lực, xông lên như vũ bão, đánh chiếm các cơ quan đầu não cùng các cơ sở, đồn trại của địch, giành chính quyền về tay nhân dân.

Quảng cáo

Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945, là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân cả nước từ miền Bắc lan tới miền Trung và miền Nam; từ miền núi lan tới đồng bằng, từ khắp các vùng nông thôn và vùng đô thị với sức mạnh của hơn 20 triệu người Việt Nam trong đó lực lượng chính trị giữ vai trò quyết định. Đó là sức mạnh nổi dậy không chỉ của lớp người cách mạng tiên tiến, tích cực mà còn bao gồm cả các tầng lớp đồng minh tạm thời, của cả những người mà từ trước đến lúc này ít tham gia vào đời sống chính trị. Khởi nghĩa giành chính quyền đã lan rộng và nhanh chóng thành công ở các trung tâm lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn bởi Đảng và Hồ Chí Minh đã xây dựng, tập hợp và phát động được mọi tầng lớp, mọi lực lượng tán thành mục tiêu độc lập dân tộc. Khởi nghĩa giành chính quyền đã nhanh chóng giành thắng lợi tại Thủ đô Hà Nội vào ngày 19/8/1945, chính là nhờ sức mạnh áp đảo của lực lượng chính trị đông đảo với trên 60 vạn đồng bào ở cả nội và ngoại thành cùng một số huyện thuộc tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, bao gồm công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, học sinh, sinh viên, công chức trí thức... tham gia và được hỗ trợ của lực lượng vũ trang. Sức mạnh để giành chính quyền thắng lợi ở Huế, ngày 23/8/1945 là sức mạnh nổi dậy của hơn 15 vạn người gồm nhiều tầng lớp, bộ phận thuộc lực lượng chính trị tham gia. Ở Sài Gòn, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong ngày 25/8/1945, bởi sức mạnh nổi dậy giành chính quyền của lực lượng chính trị với hơn 1.000.000 đồng bào gồm công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, công chức và được lực lượng vũ trang hỗ trợ. Cách mạng tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của lực lượng chính trị được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng “long trời, lở đất”.

Bằng sức mạnh toàn dân nổi dậy “đem sức ta mà giải phóng cho ta” để giành chính quyền với sự kết hợp giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, trong đó lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị giữ vai trò quyết định đã tạo ra sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của quân đội Nhật và buộc chính quyền phong kiến tay sai phải đầu hàng nhanh chóng trong vòng nửa tháng. Đánh giá về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí Trường Chinh viết: “Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”[5, tr.374].

3. Kết luận

Kế thừa và vận dụng bài học về xây dựng lực lượng chính trị - nhân tố quyết định làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong tình hình hiện nay, Đảng chủ trương tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu, mà ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao./.

Tài liệu tham khảo

[1]. ĐCSVN, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG,HN, 1998, tr.4.

[2].ĐCSVN, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.119.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG-ST, HN, 2011, tr.299.

[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, HN, 2011, tr.246.

[5].Trường Chinh, Cách mạng dận tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb ST,HN,1975, tr.374.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.