VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC

11:04 | 15/04/2024
Trong nhiều thập kỉ gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục cũng có bước phát triển rất đáng ghi nhận, phục vụ có hiệu quả cho công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo – sự nghiệp có ý nghĩa quốc sách hàng đầu đối với mỗi quốc gia. Hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục trong các cơ sở giáo dục & đào tạo (nhất là các trường đại học cao đẳng, viện nghiên cứu) được các nhà quản lí hết sức coi trọng, được đầu tư tương đối thỏa đáng trong điều ki

Từ cái nhìn thực tiễn

Trong nhiều thập kỉ gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục cũng có bước phát triển rất đáng ghi nhận, phục vụ có hiệu quả cho công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo – sự nghiệp có ý nghĩa quốc sách hàng đầu đối với mỗi quốc gia. Hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục trong các cơ sở giáo dục & đào tạo (nhất là các trường đại học cao đẳng, viện nghiên cứu) được các nhà quản lí hết sức coi trọng, được đầu tư tương đối thỏa đáng trong điều kiện có thể. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học giáo dục ngày càng đông đảo, chuyên nghiệp; số cán bộ nghiên cứu trẻ ngày càng khẳng định được năng lực và vị trí của mình. Hằng năm, số đề tài nghiên cứu về khoa học giáo dục (cấp trường, cấp Bộ, cấp Bộ trọng điểm) được nghiệm thu tương đối nhiều, số luận văn được bảo vệ để nhận học vị thạc sĩ, số luận án được bảo vệ để nhận học vị Tiến sĩ cũng đạt được những con số rất đáng tự hào. Tiếp cận với một số công trình nghiên cứu khoa học giáo dục trên ở các góc độ khác nhau chúng tôi xin có một số nhận xét như sau:

Xét về nội dung, phần lớn các đề tài đều gắn bó chặt chẽ với thực tiễn dạy học, giáo dục đang trong quá trình đổi mới, phát triển. Nghĩa là các tác giả đề tài đó đều do yêu cầu bức thiết của thực tiễn giáo dục, của cuộc sống học đường mà xác định hướng nghiên cứu và lựa chọn đề tài cho phù hợp. Sau khi khảo sát thực trạng, nghiên cứu lí luận, các tác giả đặt ra nhiệm vụ tìm các giải pháp, biện pháp, con đường để đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển, của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì là các đề tài nghiên cứu về khoa học giáo dục cho nên ở các mức độ khác nhau, phần thực nghiệm (hoặc thể nghiệm) khoa học nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp, giải pháp sư phạm, chứng minh tính đúng đắn của các giả thuyết khoa học rất được coi trọng và chiếm một dung lượng đáng kể trong các công trình nghiên cứu. Cũng qua các kết quả thực nghiệm (hoặc thể nghiệm) đã tạo cho người đọc niềm tin ở kết quả nghiên cứu, khả năng vận dụng trong thực tiễn giáo dục, dạy học và không rơi vào tình trạng của hệ lụy tư biện, lí thuyết suông trong quá trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu sau khi được nghiệm thu lại xếp vào ngăn kéo.

Điều đáng ghi nhận là, dù đề tài thiên về tính chất lí thuyết, song việc triển khai kế hoạch nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu của các đề tài đều có gắn bó với cuộc sống học đường, mô tả (khoa học), phản ánh thực tế giáo dục. Điều này là hoàn toàn đúng bởi kinh nghiệm cho thấy, nếu thiếu thực tế giáo dục thì ít có khả năng thành công trong việc nghiên cứu khoa học giáo dục. Sở dĩ như vậy là vì không thấy hết được sự phong phú, sinh động, biện chứng của các hiện tượng, các quan hệ tinh vi phức tạp, các diễn biến và hướng phát triển của sự vật, hiện tượng,v.v..thì khó thực hiện tốt các yêu cầu của phương pháp luận, phương pháp hệ nghiên cứu. Lê nin

nói “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lí luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà còn của tính hiện thực trực tiếp”.

Thực tế giáo dục nói ở đây là những sự việc có thực, người thực, những tình huống cụ thể, những vấn đề đã được giải quyết hoặc chưa được giải quyết, những tìm tòi, sáng kiến kinh nghiệm, những thực nghiệm, thí nghiệm khoa học,…về mọi mặt, trong mọi hoạt động giáo dục ở nhà trường, gia đình, trong công tác đoàn thể, ở ngoài xã hội, ở các cơ quan chỉ đạo, quản lí, nghiên cứu giáo dục. Mà thực tiễn thì bao giờ cũng xanh tươi, sinh động và là kho tàng vô tận của các đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có khoa học giáo dục. Nhiều khi trong quá trình nghiên cứu lí luận, gặp phải những vướng mắc, chưa có lời giải đáp, nhà nghiên cứu phải tìm đến với thực tiễn, với những điển hình tiên tiến, nhân tố mới để tháo gỡ khó khăn và họ sẽ có lời giải đáp, sẽ thành công.

Các đề tài, công trình nghiên cứu phần lớn được nghiệm thu, đánh giá, xếp loại tốt, được hội đồng khẳng định có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên và những ai quan tâm đến vấn đề đặt ra. Mặc dù vậy, việc chuyển giao, vận dụng các kết quả nghiên cứu đó vào cuộc sống học đường, vào thực tiễn dạy học và giáo dục thì nói chung là còn hạn chế. Không ít các công trình, kết quả nghiên cứu sau khi được đánh giá, xếp loại, nghiệm thu rồi rơi vào tình trạng “kính nhi viễn chi”.

Gần đây, hầu hết các cơ sở đào tạo sau đại học, cơ quan chủ quản quản lí đề tài nghiên cứu đã quy định điều kiện cần để công trình, kết quả nghiên cứu được đánh giá, xếp loại với điểm số cao nhất là công trình, kết quả nghiên cứu phải có ít nhất là một bài báo khoa học (đăng ở tạp chí khoa học được tính điểm công trình) liên quan đến nội dung đề tài, công trình được công bố, đăng tải trên tạp chí khoa học chuyên ngành. Theo chúng tôi, điều này là hợp lí và nên được khuyến khích nhiều hơn nữa vì đó là một cách để đưa kết quả nghiên cứu đến với thực tiễn giáo dục và cũng là một kênh để đo giá trị của các kết luận sư phạm.

Đến một số tiền đề lí luận cơ bản

Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức hiện thực khách quan theo những phương pháp nhất định. Trong nghiên cứu khoa học, tài liệu và sự kiện là nền tảng, là vô cùng quan trọng, nhưng những sự suy nghĩ, phân tích, tổng hợp, biện luận, những ý tưởng, nghi vấn, thắc mắc, phán đoán, suy tưởng, kết luận, kiến nghị đề xuất,…rút ra từ sự kiện lại là điều thiết yếu có ý nghĩa quyết định sự thành công của quá trình nghiên cứu. Đương nhiên, quá trình nghiên cứu cũng phải tuân theo quy luật của nhận thức “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi lại trở về thực tiễn”. Hiện thực khách quan – thực tiễn là hiện thực không ngừng vận động và phát triển, do đó, để thực sự khách quan, chính xác và toàn diện, người nghiên cứu phải phát hiện được càng đầy đủ càng tốt tính quá trình, sự biến đổi, tính biện chứng và và phát triển của đối tượng được nghiên cứu. Mọi ghi nhận, thu thập được về hiện thực, về đối tượng nghiên cứu, liên quan đến đối tượng nghiên cúu phải đầy đủ và xét đến mọi liên hệ, mọi mặt có ý nghĩa bản chất, điển hình của sự thực đúng như

nó diễn ra, chứ không sửa đổi, cắt xén, gò ép cho phù hợp nhằm minh họa, chứng minh một ý định cho sẵn nào đó trước khi nghiên cứu.

Khoa học giáo dục, ngành khoa học xã hội (cốt lõi là giáo dục học và tâm lí học), liên quan trực tiếp đến con người (một chủ thể rất tinh vi, phức tạp và biến động, một chủ thể mang tính “tổng hòa của những mối quan hệ xã hội”) nghiên cứu bản chất và các quan hệ chặt chẽ, đa dạng nhưng có tính quy luật của quá trình hình thành con người như một nhân cách và trên cơ sở đó các nhà sư phạm thiết kế mục tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức quá trình giáo dục một cách khoa học, phù hợp nhằm đạt tới những kết quả tối ưu trong những điều kiện xã hội cụ thể, nhất định. Sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, của đứa trẻ chịu sự tác động của các yếu tố, hoàn cảnh (môi trường) xã hội, sự giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội,...) và sự di truyền (yếu tố sinh học) cho nên giáo dục nhân cách là quan trọng nhất và khó khăn nhất của giáo dục.

Trong quá trình nghiên cứu các đối tượng (phạm vi hiện thực) và nhiệm vụ nêu trên, khoa học giáo dục cũng như khoa học và công nghệ ngày càng phát triển sâu rộng và đã hình thành các khoa học chuyên ngành như giáo dục học đại cương, lí luận dạy học, lí luận giáo dục (nghĩa hẹp), lí luận quản lí giáo dục, lịch sử giáo dục học, giáo dục học bộ môn (phương pháp dạy học bộ môn), giáo dục học trẻ có tật, giáo dục học so sánh. Ngoài ra, khoa học giáo dục còn kết hợp với một số ngành khoa học khác và hình thành các khoa học liên ngành như kinh tế học giáo dục, xã hội học giáo dục, tâm lí ngôn ngữ học,…

Khoa học giáo dục sử dụng các phương pháp nhận thức phổ biến (phương pháp duy vật biện chứng,…), các phương pháp nghiên cứu khoa học chung (phương pháp tiếp cận lịch sử, tiếp cận hệ thống,…), đồng thời cũng có những phương pháp nghiên cứu riêng quan sát sư phạm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục,…

Xác định đề tài luận án, luận văn nói riêng và đề tài khoa học giáo dục nói chung là khâu đầu tiên quan trọng của một quá trình, kế hoạch nghiên cứu được triển khai. Vì là khâu đầu tiên nên có không ít ý kiến cho rằng đây là bước khởi đầu nan, “đầu có xuôi thì đuôi mới lọt”. Về mặt lí thuyết, đề tài được hiểu là đối tượng để nghiên cứu (hoặc miêu tả khoa học) đặt ra cho người nghiên cứu. Họ phải tiến hành khảo sát, tìm hiểu thực trạng (để tránh tình trạng tư biện trong nghiên cứu), miêu tả, thử nghiệm để rút ra những kết luận khái quát có tính quy luật làm thành nội dung khoa học mới được phát hiện của công trình. Vì vậy, đề tài nghiên cứu bao giờ cũng phải bảo đảm được hai yêu cầu cơ bản là tính bức thiết về mặt khoa học (ý nghĩa khoa học sâu sắc) và tính thiết thực về mặt ứng dụng thực tiễn (ý nghĩa thực tiễn). Đề tài nghiên cứu có thể do người nghiên cứu tự đề xuất, cũng có thể do người hướng dẫn gợi ý hoặc do một cơ sở giáo dục, trường học, do thực tế giáo dục nêu ra và yêu cầu giải quyết, tuy nhiên, nó không được phép lặp lại hoặc trùng lặp với nội dung đã hoặc đang có người nghiên cứu. Có thể, cùng một vấn đề, phạm vi hiện thực được nhiều người nghiên cứu, nhưng cách tiếp cận phải khác nhau, nghĩa là đề tài, hiện thực được nhìn nhận, khám phá theo một hệ hình tư duy mới. Chí có như vậy,

Quảng cáo

kết quả nghiên cứu mới có khả năng đem lại những đóng góp mới, có ích cho kho tàng lí luận của chuyên ngành khoa học và làm giàu cho thực tiễn giáo dục.

Một số lưu ý khi xác định đề tài và đặt tên đề tài

Thực chất của đề tài nghiên cứu, nói một cách ngắn gọn, đó là một câu hỏi về mặt khoa học. Câu hỏi này được đặt ra từ những mâu thuẫn trong nghiên cứu lí luận, hoạt động lí luận hoặc trong thực tiễn đời sống, trong hiện thực khách quan. Đối với đề tài khoa học giáo dục, câu hỏi này xuất phát từ các vấn đề của hoạt động giáo dục hoặc hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục.

Nêu tên lĩnh vực hoạt động giáo dục, dạy học hoặc tên vấn đề chưa phải là xác định đề tài nghiên cứu. Bản thân tên gọi chưa chứa đựng nội dung khoa học và cũng chưa nói lên điều gì cả. Tên gọi chỉ là sự mô tả và sự phản ánh hiện thực một cách giản đơn, hình thức, chỉ là cái vỏ của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học sinh trung học cơ sở”, hoặc “Vấn đề chất lượng đạo đức của học sinh phổ thông hiện nay”, hay “Dạy học tập làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9”,… chưa phải là những đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục. Chỉ khi nêu được câu hỏi, vạch rõ sự nghi vấn một điều gì đó mới gọi là xác định đề tài nghiên cứu. Ví dụ: Những hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nào có thể giúp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh? Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nào ít có tác dụng? Tại sao? Làm thế nào để khắc phục?,…Càng gắn được câu hỏi vào nội dung của khoa học giáo dục thì đề tài càng có tính khoa học, càng được xác định,…

Theo chúng tôi, khi lựa chọn một đề tài nên xuất phát từ những vấn đề đặt ra của thực tiễn giáo dục, dạy học. Nên hiểu thực tiễn ở đây theo nghĩa không chỉ là những vấn đề mắt thấy, tai nghe hàng ngày trong trường học, trong cơ sở giáo dục, cơ quan quản lí, chỉ đạo giáo dục mà còn là thực tiễn được phản ánh, kết tinh, đúc rút trong sách vở, báo chí,…Mục đích của nghiên cứu khoa học giáo dục là để phục vụ cho sự phát triển của sự nghiệp giáo dục đào tạo. Với trọng trách cao cả thiêng liêng của giáo dục là đào tạo con người, là trồng người, là hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ, cho nên mọi đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục dù là ở các cấp độ khác nhau (cấp Bộ, cấp Viện, trường, cấp cơ sở) theo những cách tiếp cận phong phú, đa dạng,…đề hướng tới vì sự nghiệp trồng người. Trong nghiên cứu khoa học giáo dục phải đặc biệt chú ý phát hiện những hiện tượng, sự việc mới, có tính chân lí trong hiện thực giáo dục hoặc khám phá những quy luật, nguyên lí mới trong hiện thực đó.

Với đề tài luận án, luận văn phạm viên hiện thực không nên quá rộng vì nếu quá rộng sẽ khó đi sâu giải quyết tốt nhiệm vụ đặt ra, khó có thể đúc rút sự thực một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện. Nghĩa là, để có thể đạt được yêu cầu đi sâu nghiên cứu, người nghiên cứu nên thu hẹp phạm vi đề tài. Cùng một điều kiện khách quan và chủ quan như nhau, đề tài càng hẹp thì càng nhiều khả năng đi sâu phân tích nhiều mặt, thu thập nhiều số liệu, các kết luận sư phạm và kiến nghị càng có sức thuyết phục, độ tin cậy cao.

Khái niệm rộng và hẹp chúng tôi đề cập ở đây cũng chỉ là có ý nghĩa tương đối. Có trường hợp đề tài hẹp (phạm vi hẹp) lại khó triển khai nghiên cứu. Nói chung là, tùy vào các trường hợp cụ thể, vấn đề cụ thể mà xác định đề tài nghiên cứu cho khả thi và có tính khoa học cao.

Yêu cầu đi sâu không mâu thuẫn với quan điểm toàn diện vì nhờ có cái nhìn toàn diện, tổng thể, hệ thống mới biết chọn vấn đề để đi sâu và có phương pháp giải quyết sâu sắc nhiệm vụ đặt ra.

Ví dụ, có học viên cao học lúc đầu chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Văn cho học sinh trung học phổ thông” nhưng rồi nhận thấy đây là đề tài có phạm vi nghiên cứu quá rộng so với yêu cầu của một luận văn thạc sĩ vì nó đề cập cả Văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài, cả văn học sử, giảng văn, tập làm văn, cả thơ, truyện, kịch, cả văn học hiện đại, văn học cổ,…Sau đó đã thu hẹp “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học thơ trữ tình hiện đại trong sách giáo khoa lớp 12 cho học sinh ở miền núi Thanh Hóa”. Như vậy đề tài đã giới hạn vào một loại thể văn học nhất định, với một đối tượng cụ thể xác định và trên một địa bàn nhất định.

Về việc đặt tên đề tài, theo chúng tôi, tên đề tài nói chung phải đảm bảo các yêu cầu sau: Đối tượng, phạm vi nghiên cứu rõ ràng, xác định (trả lời câu hỏi nghiên cứu cái gì); mục đích, nhiệm vụ cần đạt tới (trả lời câu hỏi để làm gì); con đường, cách thức đạt được mục tiêu (trả lời câu hỏi bằng cách nào). Trong thực tiễn, không nhất thiết tên của đề tài nào cũng phải thể hiện được cả ba câu hỏi trên một cách tường minh, mà thông thường chỉ là câu hỏi thứ nhất và câu hỏi thức hai, còn câu hỏi thứ ba thì ẩn chứa trong câu hỏi thứ nhắt hoặc câu hỏi thứ hai.

Diễn đạt (câu chữ) của tên đề tài không nên dài quá, phải đảm bảo yêu cầu đầy đủ, cô đọng, súc tích về ý, gọn, rõ về nội dung khái niệm, thuật ngữ, không rườm rà, lủng củng. Sự sắp xếp từng từ, ngữ, các dấu câu trong tên đề tài phải đảm bảo yêu cầu chính xác, khoa học, chặt chẽ, hợp lí. Chính xác hóa tên đề tài là bước khởi đầu quan trọng và cũng là đường hướng để giúp người nghiên cứu có thể triển khai các luận điểm nghiên cứu một cách đúng trọng tâm nhằm đáp ứng tốt các nhiệm vụ nghiên cứu do đề tài đặt ra. Chính xác hóa tên đề tài có ý nghĩa như một thông điệp khoa học, nghĩa là giúp người đọc lĩnh hội được tư tưởng khoa học của đề tài một cách giản dị mà sâu sắc, không vòng vo, khó hiểu, thiếu tường minh.

Tóm lại, đối với người nghiên cứu, xác định đề tài (đối tượng) nghiên cứu là bước đầu tiên, quan trọng của quá trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học. Xác định đúng đối tượng nghiên cứu, việc triển khai nghiên cứu sẽ thuận lợi và nhờ đó sẽ phát hiện, sản sinh được những tri thức khoa học phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ nghiên cứu do đề tài đặt ra, đồng thời hệ thống các luận điểm, luận cứ, luận chứng cũng sẽ được xây dựng, kiến tạo một cách khoa học, chặt chẽ, phù hợp,…

Tài liệu tham khảo chính

1. Jean Piaget : Tâm lí học và giáo dục học, NXB Giáo dục, H.1999.

2. Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, H.2002.

PGS. TS Nguyễn Gia Cầu

Tổng biên tập Tạp chí Giáo chức Việt Nam

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.