VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH QUYỀN HAI CẤP TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI BỀN VỮNG TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

07:46 | 13/12/2025
TS. GVCC. Trần Văn Hiếu – ThS. Võ Phú Hữu - Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn - Đại học Cần Thơ Email: [email protected] Tóm tắt: Văn hóa chính trị – với tư cách là hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin, phong cách lãnh đạo, đạo đức công vụ và phương pháp điều hành – vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực nội sinh quan trọng định hướng và điều tiết hoạt động của bộ máy công quyền. Bài viết kế thừa quan điểm của Đảng ta về vai trò của văn hóa, con người và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã

TS. GVCC. Trần Văn Hiếu – ThS. Võ Phú Hữu -

Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn - Đại học Cần Thơ

Email: [email protected]

Tóm tắt: Văn hóa chính trị – với tư cách là hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin, phong cách lãnh đạo, đạo đức công vụ và phương pháp điều hành – vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực nội sinh quan trọng định hướng và điều tiết hoạt động của bộ máy công quyền. Bài viết kế thừa quan điểm của Đảng ta về vai trò của văn hóa, con người và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phân tích cơ sở lý luận về văn hóa chính trị, làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa chính trị với phát triển bền vững; đánh giá thực trạng những yêu cầu, thách thức đặt ra đối với văn hóa chính trị và năng lực điều hành của chính quyền hai cấp ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa chính trị, tăng cường năng lực điều hành, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, vì mục tiêu phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong giai đoạn mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu không coi trọng xây dựng và phát huy văn hóa chính trị, không nâng cao năng lực điều hành của chính quyền các cấp, thì khó có thể thực hiện thành công các chủ trương, nghị quyết về phát triển bền vững vùng ĐBSCL, cũng như khó bảo đảm được đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn cho nhân dân trong vùng.

Từ khóa: Văn hóa chính trị; năng lực điều hành; chính quyền hai cấp; phát triển bền vững; Đồng bằng sông Cửu Long; phát triển kinh tế – xã hội; quản trị địa phương; đổi mới.

1. Đặt vấn đề

Gần bốn mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế – xã hội (1)(4). Văn hóa không chỉ được hiểu là các giá trị tinh thần, chuẩn mực đạo đức, lối sống và hệ thống thiết chế văn hóa, mà còn bao hàm cả văn hóa chính trị – kết tinh ở hệ giá trị, phương thức, phong cách lãnh đạo, quản lý, ở đạo đức công vụ và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Các văn kiện Đại hội VII, VIII, IX, XI, XII, XIII của Đảng đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, giữa tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh. Quan điểm đó thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa văn hóa – trong đó có văn hóa chính trị – với phát triển bền vững đất nước. Cùng với đó, Đảng ta xác định rõ: lấy con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu và là động lực của sự phát triển; coi trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh” (11).

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa là vùng sản xuất lương thực, thủy sản, trái cây hàng đầu của cả nước, vừa là “mặt tiền” hướng ra biển Tây Nam, có đường biên giới đất liền và trên biển với các nước trong khu vực. Song đây cũng là vùng chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển; chịu sức ép lớn về dân số, đô thị hóa, di cư lao động và chuyển dịch sinh kế. Trong bối cảnh đó, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững vùng ĐBSCL đòi hỏi không chỉ các giải pháp về khoa học – công nghệ, hạ tầng, tài chính, mà trước hết là đổi mới tư duy phát triển, nâng cao chất lượng quản trị, trong đó văn hóa chính trị và năng lực điều hành của chính quyền hai cấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Chính quyền địa phương ở ĐBSCL là cấp trực tiếp tổ chức triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn; trực tiếp tiếp xúc, đối thoại với nhân dân; trực tiếp điều phối các nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Năng lực điều hành của chính quyền địa phương không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, mà còn phụ thuộc rất lớn vào văn hóa chính trị, vào ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, phong cách làm việc, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong văn hóa chính trị và năng lực điều hành ở không ít địa phương: tư duy nhiệm kỳ, cục bộ địa phương, bệnh thành tích; kỷ luật, kỷ cương hành chính có nơi chưa nghiêm; cải cách thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu; công tác phối hợp liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả; năng lực dự báo, hoạch định chính sách, quản trị rủi ro còn hạn chế. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển bền vững vùng ĐBSCL, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với hệ thống chính trị.

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học về văn hóa chính trị và năng lực điều hành của chính quyền hai cấp trong phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại các tỉnh ĐBSCL, trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và tinh thần các nghị quyết Trung ương về văn hóa, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Bài viết này nhằm góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất một số định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của văn hóa chính trị, nâng cao năng lực điều hành của chính quyền hai cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong giai đoạn mới.

2. Văn hóa chính trị và yêu cầu phát triển bền vững ở đồng bằng sông cửu long

2.1. Khái niệm và cấu trúc văn hóa chính trị

Văn hóa chính trị, theo nghĩa rộng, là toàn bộ những giá trị, chuẩn mực, quan niệm, niềm tin, thái độ và hành vi chính trị được hình thành, củng cố và phát triển trong đời sống chính trị – xã hội, chi phối cách thức con người và tổ chức tham gia vào hoạt động chính trị. Văn hóa chính trị biểu hiện trong mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữa các thiết chế chính trị với hệ thống pháp luật; giữa các chủ thể thực thi quyền lực với cộng đồng xã hội. Xét ở phương diện quản trị địa phương, văn hóa chính trị bao gồm ít nhất ba thành tố:

Thứ nhất, hệ giá trị và niềm tin chính trị. Đó là lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; niềm tin vào tính đúng đắn của đường lối phát triển đất nước; lý tưởng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; ý thức tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Hệ giá trị này định hướng hành vi và là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ hai, các chuẩn mực và hành vi chính trị. Đây là những yêu cầu, quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc hoặc tự giác được xã hội, tổ chức chính trị chấp nhận, ví dụ: liêm chính, minh bạch, trách nhiệm giải trình, tôn trọng nhân dân, dân chủ trong thảo luận và quyết đoán trong hành động, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ.

Thứ ba, phong cách và phương pháp lãnh đạo, quản lý. Văn hóa chính trị còn thể hiện ở cách thức lãnh đạo, điều hành: khoa học, dựa trên bằng chứng; tôn trọng đối thoại; lắng nghe phản biện; xử lý công việc công tâm, khách quan; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; biết phối hợp, liên kết, chia sẻ lợi ích giữa các đơn vị, địa phương.

Ba thành tố trên gắn kết chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên “hệ sinh thái văn hóa chính trị” của chính quyền địa phương. Khi hệ sinh thái này lành mạnh, đồng bộ, nó trở thành “sức mạnh mềm” nâng cao chất lượng quản trị và điều hành; ngược lại, nếu bị suy thoái, tha hóa, sẽ dẫn đến việc thực thi quyền lực bị lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, cản trở phát triển bền vững.

2.2. Vai trò của văn hóa chính trị đối với phát triển bền vững

Phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa – xã hội và bảo vệ môi trường; đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đối với vùng ĐBSCL, phát triển bền vững còn gắn chặt với an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh sinh thái và an ninh con người. Trong bối cảnh đó, văn hóa chính trị giữ những vai trò nổi bật sau:

Thứ nhất, định hướng tư duy phát triển. Văn hóa chính trị quyết định cách mà đội ngũ lãnh đạo, quản lý nhìn nhận mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường; giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn; giữa lợi ích địa phương và lợi ích vùng, quốc gia. Một nền văn hóa chính trị lành mạnh sẽ giúp khắc phục tư duy nhiệm kỳ, cục bộ, manh mún; thúc đẩy tư duy phát triển dựa trên nền tảng giá trị bền vững, dài hạn, “thuận thiên”.

Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạch định và thực thi chính sách. Khi văn hóa chính trị đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, đối thoại với nhân dân, các quyết sách phát triển sẽ được chuẩn bị kỹ hơn, có căn cứ khoa học và thực tiễn vững chắc hơn, hạn chế lợi ích nhóm, “xin – cho”, lãng phí nguồn lực. Quá trình tổ chức thực hiện chính sách cũng sẽ được giám sát chặt chẽ, có điều chỉnh kịp thời, giảm thiểu rủi ro, tiêu cực.

Thứ ba, tạo dựng và củng cố lòng tin xã hội. Lòng tin xã hội là điều kiện không thể thiếu cho ổn định chính trị, là “vốn xã hội” quan trọng để phát triển. Khi cán bộ, đảng viên thể hiện văn hóa chính trị tốt – liêm chính, gần dân, trọng dân, vì dân – nhân dân sẽ sẵn sàng chia sẻ khó khăn, đồng hành cùng chính quyền, chấp nhận những hy sinh ngắn hạn cho lợi ích lâu dài, từ đó tạo nên sức mạnh đồng thuận trong phát triển bền vững.

Thứ tư, thúc đẩy liên kết vùng và hợp tác phát triển. ĐBSCL là một chỉnh thể tự nhiên – sinh thái – kinh tế, không thể phát triển theo kiểu “mạnh ai nấy làm”. Văn hóa chính trị có vai trò quan trọng trong việc xây dựng tinh thần hợp tác, chia sẻ lợi ích, hài hòa lợi ích giữa các địa phương; khắc phục tâm lý khép kín, cát cứ; thúc đẩy các sáng kiến liên kết ngành, liên vùng, hợp tác công – tư trong quy hoạch và triển khai các dự án hạ tầng, thích ứng biến đổi khí hậu.

2.3. Những yêu cầu mới đối với văn hóa chính trị ở ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay

Quá trình triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển bền vững, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt ra cho văn hóa chính trị ở ĐBSCL một số yêu cầu cơ bản:

Một là, chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển. Văn hóa chính trị mới đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo, quản lý không chỉ dừng ở việc “quản lý cho đúng”, mà phải biết “quản trị để phát triển”, biết kiến tạo môi trường thể chế, chính sách thuận lợi để người dân, doanh nghiệp phát huy tối đa tiềm năng, sức sáng tạo.

Hai là, đề cao trách nhiệm nêu gương, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Văn hóa chính trị trong giai đoạn mới không chấp nhận thái độ sợ trách nhiệm, né tránh, “đẩy” việc, “an toàn cho mình”; mà đòi hỏi cán bộ, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu, bản lĩnh, dám lựa chọn giải pháp đột phá, dám chịu áp lực và kiểm soát được rủi ro.

Ba là, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Chính quyền hai cấp cần coi trọng xây dựng văn hóa công vụ dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch thông tin; lắng nghe ý kiến nhân dân, phản biện xã hội; tôn trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong giám sát, phản biện, xây dựng chính quyền.

Bốn là, xây dựng văn hóa liên kết, hợp tác liên vùng. Đòi hỏi phải vượt qua tâm lý cục bộ địa phương, tranh giành nguồn lực, để hướng tới lợi ích chung của vùng và quốc gia; biết chia sẻ cơ hội và rủi ro, cùng phối hợp trong quy hoạch, sử dụng tài nguyên nước, đất đai, phát triển hạ tầng, chuyển đổi sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu.

Năm là, xây dựng văn hóa học tập, đổi mới, thích ứng trong đội ngũ cán bộ. Biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, hội nhập kinh tế đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp, không thể giải quyết bằng tư duy, phương pháp cũ. Văn hóa chính trị phải khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới; loại trừ tâm lý bảo thủ, trì trệ.

3. Năng lực điều hành của chính quyền hai cấp trong phát triển kinh tế – xã hội bền vững vùng ĐBSCL

3.1. Khái niệm và nội dung năng lực điều hành của chính quyền hai cấp

Năng lực điều hành của chính quyền hai cấp có thể được hiểu là tổng hợp các khả năng của bộ máy và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn; bao gồm: năng lực hoạch định, cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể; năng lực tổ chức thực hiện, điều phối nguồn lực, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát; năng lực dự báo, quản trị rủi ro, ứng phó với các tình huống phức tạp, bất ngờ; năng lực phối hợp liên ngành, liên vùng; năng lực huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nhà nước; năng lực đối thoại với người dân, doanh nghiệp, giải quyết kịp thời, thấu đáo kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; năng lực xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh.

Năng lực điều hành chịu sự chi phối trực tiếp của văn hóa chính trị; đồng thời cũng là nơi thể hiện sinh động nhất thực chất của văn hóa chính trị trong hệ thống chính quyền.

3.2. Một số biểu hiện tích cực của năng lực điều hành ở ĐBSCL

Thời gian qua, năng lực điều hành của chính quyền hai cấp ở nhiều địa phương ĐBSCL đã có những chuyển biến tích cực:

Một là, các tỉnh, thành phố trong vùng đã chủ động quán triệt và triển khai các nghị quyết, kết luận của Trung ương, của Bộ Chính trị và Chính phủ về phát triển vùng, về thích ứng với biến đổi khí hậu, bước đầu hình thành nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, du lịch sinh thái, kinh tế biển.

Hai là, công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số được đẩy mạnh; nhiều địa phương đã triển khai bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông”, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, góp phần giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chỉ số hài lòng của người dân.

Quảng cáo

Ba là, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý đã thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chủ động vận động, thu hút đầu tư; thúc đẩy hợp tác công – tư; tham gia tích cực các chương trình liên kết vùng, liên kết tiểu vùng, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch.

Bốn là, nhận thức về phát triển bền vững, về yêu cầu đặt con người và chất lượng cuộc sống nhân dân làm trung tâm, mục tiêu cao nhất của phát triển đã được nâng lên; nhiều chương trình an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được triển khai tương đối đồng bộ, đạt kết quả tích cực.

3.3. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả nêu trên, năng lực điều hành của chính quyền hai cấp ở ĐBSCL vẫn còn những hạn chế, bất cập:

Thứ nhất, tư duy phát triển chưa thật sự đồng bộ, toàn diện và dài hạn. Ở một số nơi, việc lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội vẫn thiên về mục tiêu tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn, chưa gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu. Tình trạng phát triển tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể, chưa tính toán kỹ lưỡng tác động liên ngành, liên vùng vẫn còn.

Thứ hai, năng lực dự báo và quản trị rủi ro còn hạn chế. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường nông sản diễn biến phức tạp, song ở không ít địa phương, việc dự báo, chuẩn bị phương án ứng phó chưa kịp thời, còn bị động; hệ thống thông tin, dữ liệu dùng chung cho điều hành chưa hoàn thiện; việc tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp, người dân đôi khi chưa được coi trọng đúng mức.

Thứ ba, liên kết vùng, hợp tác liên tỉnh chưa tương xứng với yêu cầu. Mặc dù đã có các cơ chế điều phối vùng, các hội nghị liên kết vùng, song trong thực tế, nhiều quyết định phát triển vẫn chủ yếu ở tầm từng tỉnh, chưa căn cứ đầy đủ vào lợi ích chung của vùng; hợp tác về hạ tầng giao thông, sử dụng tài nguyên nước, phát triển chuỗi giá trị nông sản còn lỏng lẻo; hiện tượng “tranh thủ dự án”, cạnh tranh không lành mạnh trong thu hút đầu tư giữa các địa phương vẫn xảy ra.

Thứ tư, cải cách hành chính chưa thật sự đột phá, chưa gắn chặt với xây dựng văn hóa công vụ. Ở một số nơi, thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai, sợ trách nhiệm, “đi xin ý kiến cho an toàn” vẫn diễn ra, làm chậm trễ việc triển khai chính sách, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Thứ năm, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều; văn hóa chính trị, đạo đức công vụ có nơi bị suy giảm. Một bộ phận cán bộ còn biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, vụ lợi, thiếu trách nhiệm với công việc, thiếu gương mẫu trong lối sống; năng lực chuyên môn, đặc biệt là năng lực về quản trị hiện đại, công nghệ số, ngoại ngữ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Nguyên nhân của các hạn chế trên có cả khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan nổi bật là: công tác giáo dục, xây dựng văn hóa chính trị, đạo đức công vụ chưa được tiến hành thường xuyên, chưa gắn chặt với đánh giá, sử dụng cán bộ; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa theo kịp yêu cầu mới; cơ chế kiểm soát quyền lực, minh bạch và trách nhiệm giải trình có nơi còn hình thức.

4. Giải pháp nâng cao văn hóa chính trị và năng lực điều hành của chính quyền hai cấp ở ĐBSCL

4.1. Tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa chính trị trong phát triển bền vững

Trước hết, cần quán triệt sâu sắc trong toàn hệ thống chính trị, nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở ĐBSCL, quan điểm của Đảng về văn hóa nói chung và văn hóa chính trị nói riêng: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh của phát triển; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội (1)(5)(11).

Các cấp ủy, chính quyền cần coi xây dựng văn hóa chính trị, xây dựng đạo đức, phong cách làm việc của cán bộ là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; lồng ghép nội dung này trong các chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Đảng; trong quy hoạch, đào tạo, sử dụng và đánh giá cán bộ. Đặc biệt, phải đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; gắn kết quả xây dựng văn hóa chính trị với công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật; coi đây là một tiêu chí quan trọng khi xem xét bổ nhiệm, đề bạt cán bộ.

4.2. Hoàn thiện thể chế, cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình

Xây dựng văn hóa chính trị không thể tách rời việc hoàn thiện thể chế, cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của chính quyền. Cần tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công khai, minh bạch trong quản lý ngân sách, đầu tư công, quy hoạch, đất đai, tài nguyên nước, môi trường; xây dựng cơ chế để người dân, doanh nghiệp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tham gia giám sát hiệu quả.

Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của chính quyền; xây dựng các nền tảng dữ liệu mở, tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận thông tin, giám sát thực thi chính sách. Minh bạch và trách nhiệm giải trình phải trở thành chuẩn mực bắt buộc trong văn hóa chính trị của chính quyền hai cấp.

4.3. Phát triển đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực quản trị hiện đại và đạo đức công vụ trong sáng

Đây là khâu then chốt. Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt chú trọng: nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp xã ở ĐBSCL; bổ sung các nội dung về văn hóa chính trị, đạo đức công vụ, quản trị phát triển bền vững, quản trị rủi ro, quản trị số, kỹ năng làm việc với cộng đồng, kỹ năng đối thoại, tham vấn trong các chương trình đào tạo; tăng cường luân chuyển, bố trí cán bộ theo vùng, tiểu vùng để bồi dưỡng kinh nghiệm thực tiễn và tinh thần liên kết vùng; xây dựng các tiêu chí đánh giá cán bộ gắn với kết quả phát triển bền vững, với mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, làm tổn hại văn hóa chính trị và uy tín của chính quyền.

4.4. Đổi mới phương thức điều hành theo hướng quản trị phát triển, tăng cường liên kết vùng và hợp tác đa cấp

Chính quyền hai cấp ở ĐBSCL cần chủ động chuyển đổi phương thức điều hành từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển: coi trọng xây dựng tầm nhìn chiến lược, quy hoạch tích hợp, dài hạn, trên cơ sở tôn trọng quy luật tự nhiên, “thuận thiên”; nâng cao chất lượng phân tích chính sách; tham vấn rộng rãi ý kiến của nhà khoa học, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư; thiết lập các cơ chế phối hợp liên ngành, liên tỉnh hiệu quả, trong đó vai trò điều phối vùng của Trung ương được phát huy, kết hợp với sự chủ động của các địa phương.

Đồng thời, cần đẩy mạnh liên kết vùng ở các lĩnh vực quan trọng: quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất đai; phát triển hạ tầng giao thông, logistics; xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững; phát triển kinh tế biển, du lịch; thích ứng với biến đổi khí hậu. Văn hóa chính trị phải là nền tảng tinh thần cho liên kết vùng: tôn trọng, tin cậy, chia sẻ, hợp tác bình đẳng vì lợi ích chung, thay cho tư duy cục bộ, tranh giành nguồn lực.

4.5. Xây dựng và phát huy văn hóa công vụ, tăng cường đối thoại với nhân dân và doanh nghiệp

Cùng với hoàn thiện thể chế, cần xây dựng văn hóa công vụ mang bản sắc của nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại. Điều này bao gồm: xây dựng, ban hành và thực thi nghiêm các quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức; đề cao thái độ tôn trọng, lắng nghe, phục vụ nhân dân; coi trọng việc tiếp xúc, đối thoại định kỳ giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân và doanh nghiệp; kịp thời giải quyết khiếu nại, kiến nghị chính đáng; sử dụng công cụ khảo sát sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm kênh phản hồi quan trọng để điều chỉnh hoạt động của chính quyền.

Khi văn hóa công vụ được xây dựng và thực thi nghiêm túc, lòng tin của nhân dân sẽ được củng cố, góp phần tạo môi trường xã hội ổn định, lành mạnh, thuận lợi cho phát triển bền vững.

5. Kết luận

Văn hóa chính trị và năng lực điều hành của chính quyền hai cấp là hai nhân tố gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, cùng quyết định chất lượng quản trị và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh ĐBSCL đang đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen, đặc biệt là tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sụt lún, suy giảm tài nguyên và biến động xã hội, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời xây dựng và phát huy mạnh mẽ văn hóa chính trị, nâng cao năng lực điều hành của chính quyền hai cấp.

Muốn vậy, cần quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, về phát triển bền vững đất nước; coi trọng xây dựng văn hóa chính trị trong Đảng, trong Nhà nước và cả hệ thống chính trị; hoàn thiện thể chế, cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình; phát triển đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, có năng lực quản trị hiện đại và đạo đức công vụ trong sáng; thúc đẩy liên kết vùng, hợp tác đa cấp trên nền tảng văn hóa hợp tác, chia sẻ lợi ích; xây dựng văn hóa công vụ, tăng cường đối thoại với nhân dân, phát huy dân chủ, củng cố niềm tin xã hội.

Khi văn hóa chính trị trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, thấm sâu vào mọi hoạt động của hệ thống chính trị; khi năng lực điều hành của chính quyền hai cấp được nâng lên một bước, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ có điều kiện tốt hơn để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, vượt qua thách thức, phát triển nhanh và bền vững, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tài liệu tham khảo

(1) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

(4) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(9) Ủy ban quốc gia về Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao, Hà Nội.

(10) Federico Mayor (Chủ biên), Các vấn đề văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, tài liệu UNESCO, được dịch và giới thiệu trong: Ủy ban quốc gia về Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Hà Nội, 1992.

(11) Nguyễn Phú Trọng (2024), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.