VẬN DỤNG SÁNG TẠO QUAN ĐIỂM CỦA V. I. LÊNIN VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

08:48 | 20/08/2024
Sau khi cách mạng Tháng Mười thành công, Lênin đã khởi xướng "Chính sách kinh tế mới" (NEP) thay thế "Chính sách Cộng sản thời chiến". Lênin đã nêu lên vị trí, vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong Chính sách kinh tế mới. Đó là: Chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là “phòng chờ”, “nấc thang” đi tới chủ nghĩa xã hội; là quá trình tập trung hoá và xã hội hoá lực lượng sản xuất một cách tất yếu, khách quan, gắn liền với các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại. Lênin chỉ ra r

1. Mở đầu

Sau khi cách mạng Tháng Mười thành công, Lênin đã khởi xướng "Chính sách kinh tế mới" (NEP) thay thế "Chính sách Cộng sản thời chiến". Lênin đã nêu lên vị trí, vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong Chính sách kinh tế mới. Đó là: Chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là “phòng chờ”, “nấc thang” đi tới chủ nghĩa xã hội; là quá trình tập trung hoá và xã hội hoá lực lượng sản xuất một cách tất yếu, khách quan, gắn liền với các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại. Lênin chỉ ra rằng, các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội mà không phải là nước tư bản phát triển cao thì phải thừa nhận nền kinh tế hàng hóa, thừa nhận quy luật giá trị, nhiều thành phần của nền kinh tế, áp dụng cơ chế hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy, Lênin khẳng định, sự xuất hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước là tất yếu, hợp quy luật, sinh ra từ chính nhu cầu nội tại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là kết quả của các quan hệ thị trường, thiết lập liên minh kinh tế.

Một trong những di sản lý luận của V. I. Lênin đó là lý luận chủ nghĩa tư bản nhà nước và nó có ý nghĩa quan trọng để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn ở nước ta, những biểu hiện của chủ nghĩa tư bản nhà nước theo quan điểm của V. I. Lênin là tất yếu khách quan. Vấn đề là cần vận dụng sáng tạo chủ nghĩa tư bản nhà nước vào thực tiễn bảo đảm tính toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm nhằm sử dụng hiệu quả các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.

VẬN DỤNG SÁNG TẠO QUAN ĐIỂM CỦA V. I. LÊNIN VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Hội thảo “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới”.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Chủ nghĩa tư bản nhà nước theo quan điểm của V. I. Lênin trong Chính sách kinh tế mới

Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộ phận quan trọng trong Chính sách kinh tế mới (NEP) do V. I. Lênin đề ra và trực tiếp chỉ đạo thực hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết đầu những năm 20 thế kỷ XX. Chủ nghĩa tư bản nhà nước theo nghĩa rộng là một hệ thống các chính sách, công cụ, biện pháp nhằm điều tiết mọi hoạt động của các xí nghiệp tư bản còn tồn tại trong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mục đích vừa sử dụng vừa cải tạo các thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản và sản xuất nhỏ. Theo nghĩa hẹp nó là một thành phần kinh tế, bao gồm tất cả những tổ chức kinh tế hình thành trên cơ sở hợp tác liên doanh cùng đầu tư của tư bản trong nước hoặc ngoài nước với cơ sở kinh tế quốc doanh hoặc với nhà nước. Chủ nghĩa tư bản nhà nước có vai trò quan trọng góp phần vào việc giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển lực lượng sản xuất “chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là hướng vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên” [5, tr.276]. Không những thế, chủ nghĩa tư bản nhà nước cung cấp công nghệ mới, hiện đại “cao hơn rất nhiều so với nền kinh tế hiện nay của nước ta” [5, tr.252], chiến thắng sự hỗn độn vô tổ chức, kém hiệu quả của nền tiểu sản xuất, là cơ sở của hệ thống kiểm kê, kiểm soát toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thiết lập quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nước tư bản tiên tiến, tạo ra môi trường hòa bình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Để vận dụng quan điểm của V.I. Lênin về chủ nghia tư bản nhà nước, Đảng ta đã chỉ rõ: “Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư bản nước ngoài” [1, tr.95]. Tiếp đó, Đại hội IX và X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế... Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [2, tr.83]. Từ Đại hội Đảng lần thứ XI trong văn kiện Đảng không đề cập đến thành phần kinh tế tư bản nhà nước, nhưng thực tế hiện nay, có thể thấy Đảng ta luôn nhận thức rõ và quản lý chặt chẽ, phù hợp, phát triển những quan hệ kinh tế kiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước thời V.I.Lênin hiện diện ở trong tất cả các thành phần kinh tế ở Việt Nam với nhiều hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước như liên doanh, liên kết giữa nhà nước với các chủ sở hữu tư nhân trong nước hoặc với các chủ sở hữu ở các nước tư bản chủ nghĩa; sử dụng các hình thức công ty cổ phần, đặc khu kinh tế, khu công nghiệp chế biến xuất khẩu (khu chế xuất); cho tư bản trong và ngoài nước, cho nông dân thuê các cơ sở sản xuất kinh doanh và các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân; các tổ chức hợp tác liên doanh với tính cách là các hình thức kinh tế tư bản nhà nước. Ngoài những hình thức cụ thể nêu trên, Nhà nước ta luôn quản lý, điều tiết hay lãnh đạo, kiểm kê, kiểm soát với toàn bộ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Vận dụng quan điểm của V. I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ giữa kiên định và sáng tạo trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Yêu cầu trên xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta là phải kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đây được coi là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta bảo đảm giữ vững định hướng chính trị trong phát triển nền kinh tế thị trường, nhất là đối với các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Rõ ràng “học thuyết Mác-Lênin chỉ thể hiện sức sống trường tồn khi được phát triển một cách toàn diện, bởi vì thế giới luôn biến đổi không ngừng. Học thuyết Mác-Lênin có lạc hậu hay không hoàn toàn phụ thuộc vào những người sẽ kế tục học thuyết đó” [9, tr. 21]. Để thực hiện tốt yêu cầu trên đòi hỏi trung thành với các luận điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong thời kỳ quá độ; tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ lý luận của V.I.Lênin về sự tồn tại tất yếu của chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong thời kỳ quá độ; vận dụng sáng tạo, hiệu quả luận điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước để giải quyết tốt quan hệ lợi ích trong hợp tác, liên doanh.

Thứ hai, vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo toàn diện song phải xác định rõ trọng tâm, trọng điểm

Chủ nghĩa tư bản nhà nước không phải được xem xét một cách biệt lập trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mà phải được xem xét trong sự tác động biện chứng giữa các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa, yêu cầu trên đòi hỏi vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước phải đầy đủ hình thức biểu hiện đặt trong bối cảnh mới dựa trên các hình thức biểu hiện của chủ nghĩa tư bản nhà nước được V.I.Lênin chỉ ra để lựa chọn việc sử dụng phù hợp. Nhất là vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài; thực hiện liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài và các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước; cho thuê hoặc góp vốn bằng tài sản nhà nước để hợp tác kinh doanh… Tuy nhiên, cần đặt trong bối cảnh có sự đan xen, đa chiều về sở hữu, về quan hệ lợi ích, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ dựa trên thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Trên cơ sở đó, vận dụng toàn diện, hiệu quả, sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về tính tất yếu, vai trò, hình thức biểu hiện của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Đảm bảo vận dụng hiệu quả các hình thức của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nhất là các hình thức biểu hiện mới trong bối cảnh hiện nay. Đồng thời, xác định rõ những hình thức cơ bản, chủ yếu trong từng thời kỳ, ứng với trình độ nhiều tầng của lực lượng sản xuất, ứng với trình độ, khả năng quản lý điều hành và thực tiễn. Sau gần 40 năm đổi mới, phát triển, hội nhập, trình độ, kinh nghiệm quản lý, điều tiết vĩ mô của Chính phủ được nâng lên; trình độ công nghệ sản xuất trong nước ngày càng hiện đại đòi hỏi việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước cần có trọng tâm, trọng điểm hơn. Thể hiện rõ ở việc xác định và lựa chọn các hình thức cơ bản, chủ yếu phù hợp trong bối cảnh mới hiện nay. Theo đó, cần nhấn mạnh 3 hình thức cơ bản là: (1) tô nhượng mới (thu hút đầu tư nước ngoài) trên một số lĩnh vực công nghệ mới của thế giới; (2) cho các doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân lớn thuê tài nguyên để sản xuất, kinh doanh; (3) hình thành các công ty liên doanh đa sỡ hữu cùng hợp tác sản xuất, kinh doanh. Thực tiễn hiện nay, trong nước nhiều tập đoàn, doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân có sự phát triển vượt bậc về công nghệ, quy mô vốn, quy mô nhân lực và trình độ quản lý, tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh ở rất nhiều lĩnh vực kinh tế, nhất là công nghiệp công nghệ cao. Do vậy, cần nhấn mạnh việc trọng tâm thu hút, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển, vươn tầm nhằm khơi dậy các động lực, tiềm năng, thế mạnh trong nền kinh tế để phát triển trong bối cảnh mới.

Thứ ba, vận dụng quan điểm của V. I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước phải gắn với giải quyết những nhiệm vụ kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay chính là khơi dậy mạnh mẽ động lực để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất. Trên cơ sở đó từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Sự vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước không nằm ngoài mục đích nêu trên. Hiện nay, trình độ của lực lượng sản xuất, trình độ công nghệ sản xuất nước ta còn lạc hậu, trình độ quản lý điều tiết nền kinh tế còn nhiều hạn chế, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp ngay cả trong thành phần kinh tế nhà nước. Do đó, việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước phải hướng vào tham gia giải quyết những nhiệm vụ kinh tế của thời kỳ quá độ, đó là khắc phục hạn chế trong phát triển lực lượng sản xuất hiện tại ở nước ta, nhất là đối với thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể. Trên cơ sở giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế giữa nhà nước, nhà đầu tư tư nhân và xã hội để thúc đẩy thu hút, sử dụng, phát huy các nguồn lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý từ các hình thức cơ bản, chủ yếu của chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Thông qua đó nâng cao được trình độ quản lý, đẩy mạnh liên doanh, hợp tác, du nhập được trình độ công nghệ sản xuất hiện đại, thúc đẩy tăng năng suất lao động và tổng sản phẩm xã hội, hình thành nên những tập đoàn sản xuất lớn, có sức cạnh tranh vươn tầm quốc tế. Như vậy, vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước sát với yêu cầu nhiệm vụ kinh tế trong thời kỳ quá độ có ý nghĩa to lớn trong hiện đại hóa lực lượng sản xuất, thông qua đó từng bước hoàn thiện thể chế sỡ hữu và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thứ tư, vận dụng quan điểm của V. I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước phải bảo đảm giữ vững tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Quảng cáo

Trước hết, giữ vững nguyên tắc kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, vận dụng cần quán triệt sâu sắc quan điểm Đại hội XIII về định hướng sự phát triển từng thành phần kinh tế, trong đó xác định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.129]. Vai trò của từng thành phần kinh tế theo đó cũng được xác lập theo đúng vị trí đã xác định. Thành phần kinh tế nhà nước nắm giữ nguồn lực vật chất quan trọng, then chốt được khẳng định là công cụ, lực lượng vật chất để nhà nước ổn định vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt, định hướng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Kinh tế tư nhân nói chung và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Bên cạnh đó cũng khuyến khích sự hợp tác, liên kết với kinh tế nhà nước dưới các hình thức đối với các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước và các chủ thể đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, dù hợp tác, liên doanh, liên kết ở hình thức nào của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng đều chịu sự quản lý, điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu được đặt ra rõ ràng là bảo đảm thiết lập, củng cố, phát triển quyền làm chủ tập thể của người lao động cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển là nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế và mục tiêu chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu đó phải phát huy mạnh mẽ mọi động lực trong nền kinh tế để phát triển sản xuất, nâng cao tính hiệu quả của nền sản xuất xã hội. Trong đó có sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, nhất là hình thức thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất trong nước, nâng cao trình độ công nghệ, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, sẽ khó đạt được mục đích vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước nếu không giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị. Bởi theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin giữa kinh tế với chính trị có mối quan hệ biện chứng trong đó kinh tế quyết định chính trị. Theo đó, nếu chỉ chú trọng lợi ích kinh tế sẽ làm cho việc vận dụng sai lệch định hướng chính trị hoặc ngược lại quá cứng nhắc về chính trị sẽ có thể làm mất cơ hội thu hút đầu tư, hợp tác, liên doanh để phát triển kinh tế. Do vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, trong hoàn thiện thể chế sỡ hữu, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta cần chú ý giải quyết hài hòa giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển, hiện đại hóa nền sản xuất trong nước.

Thứ năm, vận dụng quan điểm của V. I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải gắn với mục tiêu, lộ trình xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp

Với trình độ lực lượng sản xuất nhiều tầng và còn lạc hậu thì việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là tất yếu song phải gắn với mục tiêu, lộ trình xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Đồng thời từng bước triệt tiêu quan hệ sản xuất bóc lột trong chế độ xã hội mới. Quán triệt yêu cầu này cần bám sát lộ trình, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xác định rõ việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở từng giai đoạn. Đồng thời với quá trình xây dựng, hiện đại hóa lực lượng sản xuất để đạt năng suất lao động cao, thu nhập cao là quá trình từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa theo hướng tiến bộ, hiện đại, phù hợp. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là thích hợp và cần thiết. Mấu chốt của vấn đề là xác định rõ giới hạn phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước và khả năng kiểm soát, điều tiết của Nhà nước theo thực tiễn phát triển kinh tế. Theo đó, cần căn cứ vào lộ trình, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa từng giai đoạn để xác định rõ mục tiêu, cách thức, mức độ vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ở giai đoạn đầu của lộ trình khi trình độ, công nghệ, vốn và cách thức quản lý của nền kinh tế nước ta còn hạn chế đòi hỏi phải vận dụng đầy đủ các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước, tập trung nhiều hơn ở việc thu hút các đối tác nước ngoài, nhất là các nước phát triển. Đồng thời từng bước tăng cường các hình thức hợp tác đối với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tư nhân lớn trong nước trên các lĩnh vực pháp luật không cấm.

Các đối tác nước ngoài được tự do tạo điều kiện sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ những phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật về đầu tư, về lao động, về thu nhập và trách nhiệm xã hội. Các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước tham gia liên doanh, liên kết, ngoài mục tiêu lợi nhuận còn có trách nhiệm khai thác hiệu quả tiềm năng đất nước, nâng cao trình độ công nghệ; nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua đó góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người lao động và thực hiện trách nhiệm thông qua các hoạt động an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển chung. Trong quản lý nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách luật pháp để vận dụng, quản lý, điều tiết sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước hợp lí, gắn bó chặt chẽ giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng hình thức vận dụng, đảm bảo được hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, của Nhà nước và của xã hội trên cơ sở pháp luật và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Phải khắc phục những hạn chế trong thực tiễn vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản Nhà nước trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất, cần nghiên cứu tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân nói chung và thực tiễn vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước nói riêng trong nền kinh tế để khắc phục những mặt hạn chế nảy sinh trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất. Đồng thời làm cơ sở để hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý phù hợp, tránh tình trạng bị thiệt hại về lợi ích, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Kết luận

Quan điểm vĩ đại của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư vản nhà nước đã để lại giá trị to lớn đối với đất nước ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nhằm giải quyết mâu thuẩn giữa mục tiêu xã hội chủ nghĩa với cơ sở vật chất và kỹ thuật của nước ta còn ở mức trung bình của thế giới. Chính vì vậy, quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộ phận hợp thành cơ sở lý luận thúc đẩy công cuộc đổi mới đi đến thành công.

Với yêu cầu bảo đảm tính toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm nhằm sử dụng hiệu quả các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới, khắc phụ nguy cơ tụt hậu về kinh tế, giữ vững độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr.95.

[2]. Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr83.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, Hà Nội, tr.129.

[4]. Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Hội thảo “Lý luận về chủ nghĩa tư bản Nhà nước của VI. Lênin và sự vận dụng ở Việt Nam”, Hà Nội, 2009.

[5]. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr.276.

[6]. VI. Lênin, Toàn tập, tập 44 Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978.

[7]. VI. Lênin, Toàn tập, tập 46 Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978.

[8]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Sự thật, H.1987

[9]. Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên), Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.21.

[10]. Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 26

Bùi Tiến Phúc, Lê Đình Thụ

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.