TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

03:43 | 27/12/2025
Nguyễn Thị Huệ Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Email: [email protected] Tóm tắt: Độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế là tư duy nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng, đường lối đối ngoại thời kì đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, tình hình quốc tế đang có sự chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, yêu cầu về giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế được đặt ra với sự quan tâm đặc biệt. Bài viết tập trung phâ

Nguyễn Thị Huệ

Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt: Độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế là tư duy nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng, đường lối đối ngoại thời kì đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, tình hình quốc tế đang có sự chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, yêu cầu về giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế được đặt ra với sự quan tâm đặc biệt. Bài viết tập trung phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, hợp tác quốc tế và sự vận dụng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; độc lập, tự chủ; hợp tác quốc tế; Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam là hệ thống các nguyên lý, quan điểm, quan niệm về các vấn đề thời đại, thế giới, về đường lối quốc tế, chiến lược, sách lược đối ngoại và ngoại giao Việt Nam. Độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế là quan điểm lớn, trung tâm, nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã làm nên những chiến công oanh liệt, giành lại hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Trong thời kì đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam từng bước triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực. Hiện nay, tình hình quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, đặc biệt là cạnh tranh chiến lược, xung đột lợi ích giữa các cường quốc ngày càng gia tăng. Các nước vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, các quan hệ chính trị - kinh tế đan xen, nhiều chiều phức tạp tạo ra thời cơ và thách thức đối với nước ta. Trước bối cảnh đó, yêu cầu về giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế

Thứ nhất, độc lập là không phụ thuộc, tự chủ là quyền tự quyết định chính sách đối nội, đối ngoại quốc gia

Trong quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” [3, tr.162]. Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã thể hiện được bản chất cả hai nội dung quan trọng đó là “độc lập” và “tự chủ”. Đối với nước ta, độc lập, tự chủ chính là quyền tự quyết định vận mệnh dân tộc của mình, trước hết là giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước đế quốc; quyền tự quyết định con đường cách mạng; quyền tự lựa chọn và quyết định chế độ chính trị - xã hộị; tự chủ trong xây dựng hệ thống pháp luật; tự chủ xây dựng nền kinh tế; tự chủ xây dựng đường lối quốc phòng an ninh.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ chính là trạng thái quốc gia, dân tộc không bị phụ thuộc, không chịu sự khống chế của các thế lực khác mà chủ thể tự quyết định mọi công việc của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Với quan điểm đó, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng và Nhà nước ta đã tự lựa chọn và quyết định đường lối kháng chiến, hạn chế tối đa sự can thiệp từ bên ngoài. Với phương châm và đường lối chỉ đạo đúng đắn, nước ta đã giành được thắng lợi trên mọi mặt trận, nước nhà được độc lập, thống nhất và bước vào thời kì đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, độc lập, tự chủ gắn liền với tự lực, tự cường, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính

Theo Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ gắn liền với tự lực, tự cường, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính có nghĩa là phải tự học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách, biện pháp giải quyết công việc của quốc gia mà không chịu sức ép, không bị chi phối từ bên ngoài. Tư tưởng về độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính được thể hiện xuyên suốt trong các hoạt động chính trị của Người. Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo năm 1921 có viết: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”[1, tr.138]. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” [2, tr.596].

Thứ ba, độc lập, tự chủ không có nghĩa là biệt lập, cô lập mà trái lại phải gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở đầu cho một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại phá tan sự biệt lập giữa các quốc gia, mở ra một mối quan hệ giữa các dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã nắm bắt được đặc điểm này của thời đại và sự ý thức về đoàn kết quốc tế, hợp tác quốc tế, giữa các dân tộc nhỏ yếu, lạc hậu bị áp bức để tạo nên sức mạnh chống đế quốc thực dân.

Theo Hồ Chí Minh, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chính là để đảm bảo được độc lập, tự chủ. Sức mạnh dân tộc là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh thần, trước hết là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự lực, tự cường dân tộc; sức mạnh của tinh thần đoàn kết, của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất hy sinh cho độc lập, tự do. Sức mạnh đó đã giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc, dựng nước và giữ nước. Sức mạnh thời đại là sức mạnh của những xu thế lớn tiến bộ trên thế giới trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ; của phong trào cách mạng thế giới. Đó còn là sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin được xác lập bởi thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới, tạo điều kiện gắn cách mạng Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từng bước phát hiện ra sức mạnh vĩ đại tiềm ẩn trong phong trào cách mạng thế giới mà Việt Nam cần tranh thủ. Các phong trào đó được liên kết, tập hợp trong khối đoàn kết quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh to lớn trên thế giới. Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa ra quan điểm Việt Nam là bộ phận cách mạng thế giới và sớm xác định phong trào cách mạng Việt Nam phải gắn với phong trào cách mạng thế giới: Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người cho rằng, cách mạng Việt Nam chỉ thành công khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế sau này được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng và phát triển trong đường lối đối ngoại.

Với nhãn quan sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của độc lập, tự chủ với hợp tác quốc tế. Độc lập, tự chủ luôn giữ vai trò quyết định, là nền tảng vững chắc để thực hiện hợp tác quốc tế và hợp tác quốc tế thành công sẽ phát huy sức mạnh nội lực quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ. Trên cơ sở những chỉ dẫn quý báu về độc lập, tự chủ, gắn liền với hợp tác quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc, từng bước tiến hành xây dựng và triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại Việt Nam nhất là từ thời kì đổi mới đến nay.

2.2. Sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời kì đổi mới

Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế trong quá trình cách mạng nước ta, đặc biệt là trong thời kì đổi mới.

Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) có ý nghĩa lịch sử vì đã mở đầu sự nghiệp đổi mới. Trên tinh thần đổi mới tư duy về kinh tế, cải cách mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, Đảng ta đã chủ trương đổi mới và mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình khôi phục và bình thường hóa quan hệ với các nước: “Tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững độc lập tự chủ, tăng cường hợp tác quốc tế, ra sức làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân thế giới" [4, tr.84]

Tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa …” [4, tr.331]. Đại hội VII là bước phát triển mới trong việc hình thành chính sách đối ngoại đổi mới với nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cũng trong Đại hội VII, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra phương châm: Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển, đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Nhà nước Việt Nam.

Trong Đại hội VIII (năm 1996), Đảng ta đã mở rộng cách tiếp cận tới độc lập tự chủ từ nâng cao ý thức độc lập tự chủ đến yêu cầu tạo lập được vị thế độc lập tự chủ và giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế. Trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây chính là điểm khởi đầu quan trọng cho chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế - đến nay là hội nhập quốc tế.

Tiếp theo, Đại hội IX (năm 2001) đã bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Tại Đại hội này, Đảng ta đưa ra chủ trương: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường.

Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục bổ sung đường lối đối ngoại đổi mới với tuyên bố: Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Đại hội bổ sung quan điểm hội nhập quốc tế với chủ trương: chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Với chủ trương này, quan hệ đối ngoại Việt Nam không ngừng được mở rộng, nhất là trong quan hệ ngoại giao với các nước, quan hệ kinh tế thương mại với các quốc gia và vùng lãnh thổ được thiết lập nhanh chóng thu hút được nhiều nguồn lực thuận lợi cho phát triển đất nước.

Đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta đã thể hiện bước phát triển tư duy nhận thức về độc lập tự chủ của Việt Nam. Đại hội đã thống nhất dùng cụm từ “độc lập, tự chủ” thay cho cụm từ “độc lập tự chủ” thể hiện vai trò và tầm quan trọng của hai mặt đó là “độc lập” và “tự chủ” của chủ quyền quốc gia trong phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội này, Đảng ta xác định mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là: vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cũng tại Đại hội XI, Đảng ta đã chuyển nội dung trọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế sang hội nhập quốc tế một cách toàn diện.

Trên cơ sở nhận thức về xu thế thời đại và cục diện thế giới, Đại hội XII (năm 2016) đã kế thừa những nội dung đối ngoại trước đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” [5, tr.153]. Như vậy, Đại hội XII của Đảng đã khẳng định mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là một trong các mối quan hệ lớn phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết.

Quảng cáo

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực có nhiều biến động phức tạp về an ninh và đại dịch Covid-19 tác động đến các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đại hội đã xác định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam” [6, tr.1117-118].

Như vậy, với những lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế, trải qua các kì Đại hội Đảng trong thời kì đổi mới, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn và vận dụng sáng tạo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện và đã đạt được những thành tựu quan trọng, thể hiện trên các lĩnh vực sau:

Một là, Việt Nam đã giữ vững được độc lập, tự chủ về chính trị. Hiện nay, nước ta đã có hệ thống chính trị vững mạnh, ổn định, an ninh được đảm bảo; độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, quốc phòng - an ninh; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, năng lực quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Với tinh thần chủ động, tích cực, có trách nhiệm, Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng, đóng góp ngày càng đa dạng vào giải quyết các công việc chung của thế giới; Việt Nam được tín nhiệm, lựa chọn là nơi tổ chức nhiều hội nghị quốc tế quan trọng tầm cỡ khu vực và toàn cầu. Việc giữ vững được độc lập, tự chủ về chính trị, và chủ động tiến hành hội nhập với thế giới đã góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định và phát triển; nâng cao vai trò, vị thế chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hai là, Việt Nam đã giữ vững được độc lập, tự chủ về kinh tế. Giữ vững được độc lập, tự chủ về kinh tế chính là thể hiện Việt Nam độc lập, tự chủ trong xây dựng đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động thiết lập và nâng cấp các mối quan hệ đối tác song phương và đa phương, đặc biệt là đối với các tổ chức quốc tế, nước lớn trên thế giới. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã tích cực chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Với gần 40 năm đổi mới, nước ta đã có cơ cấu kinh tế hợp lý, tốc độ phát triển nhanh, đời sống nhân dân được nâng cao; tham gia kí kết nhiều hiệp định, thỏa thuận hợp tác về kinh tế ở các cấp độ song phương và toàn cầu. Việt Nam đã có quan hệ với hơn 70 tổ chức đa phương quốc tế, khu vực, có quan hệ thương mại với hơn 230 thị trường trên thế giới [7, tr.92]. Tại các cơ chế đa phương, Việt Nam luôn thực hiện tốt vai trò tham gia chủ động, tích cực và đề xuất các sáng kiến ý tưởng hợp tác mới và được các nước, cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã đăng cai tổ chức thành công nhiều sự kiện đa phương quốc tế được các nước trên thế giới tín nhiệm và ghi nhận.

Ba là, Việt Nam đã giữ vững được độc lập, tự chủ về quốc phòng, an ninh. Giữ vững độc lập, tự chủ về quốc phòng, an ninh thể hiện nước Việt Nam độc lập, tự chủ trong xây dựng và triển khai đường lối quốc phòng, an ninh. Việt Nam đã trở thành thành viên chủ động, năng động, tích cực và có trách nhiệm cao trong các cơ chế, diễn đàn và các hoạt động hợp tác đa phương về an ninh, quốc phòng ở khu vực và từng bước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu. Việt Nam đã tranh thủ tối đa các cơ hội từ hội nhập quốc tế để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, Việt Nam đã đạt nhiều thành công lớn trên phương diện ngoại giao và có nhiều đóng góp tích cực, trách nhiệm cho xu thế hòa bình và hợp tác. Việt Nam phát huy tốt vai trò là thành viên của tổ chức Liên hợp quốc và ASEAN, Phong trào Không liên kết. Việt Nam có tiếng nói quan trọng trong các diễn đàn, đối thoại chính trị, quốc phòng - an ninh của tổ chức ASEAN. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kì 2008 - 2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021. Việt Nam là nước chủ nhà Hội nghị Thượng đỉnh APEC năm 2006 và năm 2017. Việt Nam đã tham gia vào giải quyết nhiều vấn đề lớn của khu vực và trên thế giới.

Như vậy, với những chỉ dẫn quý báu của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sáng suốt vận dụng, triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ thúc đẩy hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành tựu. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [6, tr.25]. Tuy nhiên, tình hình thế giới hiện nay đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều khó khăn thách thức mới ảnh hưởng, tác động tới các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Vì vậy, để tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cần phải có những giải pháp thích ứng, phù hợp.

2.3. Giải pháp giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế trong thời gian tới

Một là, xác định lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao nhất của đối ngoại thời kì mới. Trong giai đoạn hiện nay, lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc là phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; Bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, công tác đối ngoại trước hết phải vì lợi ích quốc gia dân tộc. Đó chính là mục tiêu cao nhất, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Hai là, phải chú trọng phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Trong tình hình mới, để giữ vững được độc lập, tự chủ và thúc đẩy hội nhập quốc tế thì trước hết phải phát triển nền kinh tế nhanh, bền vững, đáp ứng được các yêu cầu trong nước và quốc tế; tập trung vào đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đẩy mạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường nguồn nhân lực; phát triển nền kinh tế tri thức; thúc đẩy quá trình chuyển đổi số; nâng cao chất lượng hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp theo, phải tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Việt Nam cần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chú trọng phát triển đồng bộ lực lượng có thể đáp ứng tác chiến trên các mặt trận; trang bị các vũ khí, chế tài mạnh nhất, hiện đại nhất, đủ sức ngăn chặn mọi cuộc tấn công của kẻ địch; chủ động các phương án tác chiến cụ thể, khoa học để không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp theo, Việt Nam cần tập trung vào phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm của sự phát triển.

Ba là, thực hiện tốt đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các nước và các tổ chức quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để phát huy sức mạnh; nêu cao chủ nghĩa hòa bình và phát triển. Hội nhập quốc tế là chủ trương nhất quán và rộng mở, gắn Việt Nam với toàn thế giới và đảm bảo cho Việt Nam phát triển phù hợp với các xu thế chung. Toàn cầu hóa đã trở thành hiện thực khách quan lôi cuốn hầu hết tất cả các quốc gia. Theo đó, mỗi quốc gia không thể tách rời khỏi môi trường quốc tế, vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện đoàn kết và hợp tác quốc tế để tận dụng tối đa sức mạnh thời đại, vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để từng bước nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế.

Bốn là, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao, nâng cao năng lực dự báo ứng phó. Trong thời gian tới, để theo sát những diễn biến của tình hình quốc tế khu vực, nhất thiết phải chú trọng, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao có chuyên môn và nghiệp vụ cao đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu dự báo đặc biệt là dự báo chiến lược. Nắm bắt kịp thời các chuyển động cục diện thế giới, khu vực; chiến lược của các nước lớn; sự chuyển dịch của quyền lực trong quan hệ quốc tế; quá trình tập hợp lực lượng và các liên kết mới. Đánh giá những tác động tích cực, tiêu cực, thời cơ và thách thức, kịp thời đề xuất kiến nghị, đối sách, biện pháp, phương án chủ động thích ứng với những biến động trong quá trình hội nhập quốc tế.

3. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế là tài sản vô cùng quý giá mà Người dành cho Đảng và Nhân dân Việt Nam. Những chỉ dẫn của Người về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tể đã trở thành kim chỉ nam soi đường cho sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước. Trong quá trình lãnh đạo, với gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và hợp tác quốc tế và đã đạt được nhiều thành công. Hiện nay, toàn cầu hóa đã phát triển, lợi ích của các quốc gia, dân tộc trên thế giới được đề cao. Tình hình quốc tế, khu vực thường xuyên biến động nhanh, khó lường, khó dự báo. Vì vậy, giữ vững độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế chính là cơ sở quan trọng góp phần xây dựng, phát triển đất nước, vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Tài liệu tham khảo

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.138.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.596.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.162.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2008. tr.84.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016. tr.153.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 tr.117-118.

[7] Hoàng Phúc Lâm, Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2022, tr.92.

.............................................................................

HO CHI MINH’S IDEOLOGY ON INDEPENDENCE, SELF-RELIANCE AND INTERNATIONAL COOPERATION

AND ITS APPLICATION BY THE COMMUNIST PARTY AND THE STATE OF VIETNAM

Nguyen Thi Hue

Academy of Politics Region I, Ho Chi Minh National Academy of Politics

Email: [email protected]

Abstract: Independence, self-reliance and international cooperation are prominent thoughts in Ho Chi Minh’s ideology, serving as a consistent guiding thread throughout the revolutionary line and the foreign policy of the Communist Party and the State of Vietnam during the “Doi Moi” (Renovation) period. In the current context, the international situation is undergoing rapid and complex changes, posing heightened requirements for maintaining independence, self-reliance and international integration. This article focuses on analyzing Ho Chi Minh’s ideology on independence, self-reliance and international cooperation, as well as its current application by the Communist Party and the State of Vietnam.

Keyword: Ho Chi Minh’s ideology; independence, self-reliance; international cooperation; Communist Party of Vietnam; State of Vietnam.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.