Triết lý giáo dục về người Thầy giáo trong dòng chảy văn hóa dân gian Việt nam

11:38 | 27/10/2022
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm và chống sự đồng hóa, dân tộc ta, nhân dân ta đã sản sinh ra dòng văn hóa dân gian. Dưới các triều đại phong kiến, nền văn hóa Việt Nam đã phát triển theo hai hướng chính, đó là dòng văn hóa dân gian và dòng văn hóa bác học

1. Đặt vấn đề

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm và chống sự đồng hóa, dân tộc ta, nhân dân ta đã sản sinh ra dòng văn hóa dân gian. Dưới các triều đại phong kiến, nền văn hóa Việt Nam đã phát triển theo hai hướng chính, đó là dòng văn hóa dân gian và dòng văn hóa bác học. Dòng văn hóa dân gian tuy âm thầm, lặng lẽ nhưng có sức sống khá mãnh liệt, nó góp phần đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa giáo dục, hình thành một dòng văn hóa giáo dục không chính thống tồn tại trong nhân dân. Chính dòng văn hóa giáo dục dân gian đó đã sản sinh ra các quan điểm triết lý giáo dục dân gian mang màu sắc đặc trưng riêng của dân tộc Việt Nam. Sự phát triển của triết lý giáo dục dân gian đã trở thành quan điểm định hướng cho dòng giáo dục dân gian, góp phần gìn giữ bản sắc con người Việt Nam và đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng giáo dục ngoại bang sai trái. Triết lý giáo dục dân gian đã thâm nhập, lan tỏa cả vào nền văn hóa bác học, trở thành môi trường xã hội làm cơ sở nền tảng cho dòng giáo dục chính thống của chế độ xã hội, tác động vào các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Nhờ có sự phát triển của triết lý giáo dục dân gian mà trải qua hàng nghìn năm bắc thuộc nhưng nền văn hóa Việt Nam vẫn đứng vững, không bị đồng hóa.

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, dòng văn hóa giáo dục dân gian đã hòa nhập với dòng văn hóa bác học, triết lý giáo dục dân gian tiếp cận với các quan điểm triết học giáo dục hiện đại, bổ sung cho nhau, phối hợp cùng nhau trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu triết lý giáo dục dân gian về người thày giáo là nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng dân gian trong lịch sử về một thành tố chủ thể quan trọng nhất của quá trình giáo dục. Đây là cơ sở khoa học để mỗi chúng ta hiểu biết rõ hơn về truyền thống “Tôn sư, trọng đạo” của dân tộc, về vai trò, trách nhiệm của người thày giáo trong lịch sử, từ đó có những giải pháp tiếp theo cho sự phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Triết lý về vai trò của người thày giáo trong dòng văn hóa dân gian

Tục ngữ có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; có danh, có vọng nhớ thày năm xưa”. Đó là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” mà mỗi chúng ta dường như ai cũng thuộc. Đạo lý đó đã làm nên truyền thống “tôn sư trọng đạo” và trở thành một tư tưởng triết lý giáo dục việt nam.

Từ xưa, nhân dân đã khẳng định vai trò, công ơn của người thày là rất to lớn: "Không thày đố mày làm nên". Bởi vậy trong giáo dục, dạy dỗ con cái, nhân dân ý thức được rằng: "Muốn khôn thì phải có thày; Không thày dạy dỗ đố mày làm nên". Hoặc: "Dốt kia thì phải cậy thày; Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên".

Từ nhận thức vai trò quan trọng đó, nhân dân đề cao tình nghĩa giữa thày và trò: "Một chữ nên thày, một ngày nên nghĩa", học trò phải biết kính trọng thày."Nhất tự vi sư; bán tự vi sư". Không chỉ học trò kính trọng thày mà xã hội cũng đặt vai trò của người thày lên vị trí "Tam ngôi". Người thày giáo được đặt sau vua và trên cả cha đẻ. Triết lý trong giáo dục về mối quan hệ Quân – Sư – Phụ đã được dân gian hóa thành câu:

"Vua, thày, cha ấy ba ngôi,

Kính thời như một, trẻ ơi ghi lòng".

Quan điểm Nho gia của người Việt Nam được khái quát như sau:

"Nhân hữu tam ân tình, khả sự như nhất.

Phi phụ bất sinh

Phi sư bất thành

Phi quân bất vinh".

Dịch là:

Con người ta có ba ân tình phải coi trọng như nhau.

Không có cha làm sao ta sinh ra được,

Không có thày làm sao ta thành đạt được,

Không có minh quân (vua sáng) làm sao ta hiển vinh được [1, tr.37].

Chính vì vậy mà đã thành truyền thống trong dân gian về câu thành ngữ mỗi khi tết đến xuân về: "Mồng một tết cha, mồng ba tết thày". Câu thành ngữ đó về sau được phát triển thành: "Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thày", với hàm ý là mồng một, mồng hai là ngày báo hiếu cha mẹ, mồng ba là ngày đền đáp công ơn dưỡng dục của thày.

Xã hội đề cao vai trò của người thày nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực của người thày. Người thày giáo có vai trò rất quan trọng, song người thày giáo muốn dạy được học trò, muốn được kính trọng, đề cao thì phải có kiến thức vững vàng. Bởi vậy, nhân dân đặt ra yêu cầu đối với người học nhưng cũng là yêu cầu đối với người thày giáo:

"Muốn sang thì bắc cầu ô,

Muốn làm thày đồ phải học cho hay".

Ngày nay, nhà giáo được vinh danh là kỹ sư tâm hồn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Người thày giáo tốt - thày giáo xứng đáng là thày giáo - là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những thày giáo tốt là những anh hùng vô danh”. Người thày luôn tượng trưng cho những gì chuẩn mực nhất, là “khuôn vàng, thước ngọc” cho học sinh noi theo.

Được coi trọng như vậy, người thày phải đáp ứng yêu cầu rất cao của xã hội về phẩm chất đạo đức, nhân cách và năng lực. Người thày phải là tấm gương mẫu mực để người học noi theo. Sự gương mẫu của người thày trong thời đại ngày nay không phải chỉ giới hạn về đạo đức nhân cách mà còn ở tài năng trong lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp, trên các mặt hoạt động thực tiễn chính trị, xã hội, thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Nhà giáo lão thành Đặng Quốc Bảo đã graph hóa phẩm chất, năng lực của người thày giáo bằng ba đỉnh của một hình tam giác: “Sư đạo” – “Sư đức” – “Sư thuật” để tạo thành “Sư hinh”. Thày giáo thật sự xứng đáng là thày giáo thì phải thường xuyên học tập, rèn luyện

Quảng cáo

2.2. Triết lý về vai trò của thày giáo thông qua các thành tố của quá trình giáo dục

Việc tìm hiểu triết lý giáo dục Việt Nam qua ca dao, tục ngữ là điều vô cùng quan trọng. Bởi vì triết lý giáo dục đã được người dân chấp nhận, sử dụng trong đời sống hàng ngày và phát huy sức mạnh thực tế của nó. Tìm hiểu kho tàng văn hoá dân gian, nhất là tục ngữ, ca dao, ta thấy rất nhiều vấn đề quan trọng của những lý thuyết, phương châm, nguyên tắc giáo dục được hình thành một cách trọn vẹn và sinh động trong đông đảo quần chúng nhân dân, và mang tính triết lý sâu sắc. Đó là những luận điểm mang tính triết lý đặt ra yêu cầu đối với hoạt động giáo dục của xã hội nói chung và đối với người thày giáo nói riêng.

- Triết lý về mục đích học tập. Người dân Việt Nam thường quan niệm mục đích học là để làm người. Bởi vậy dù khó khăn đến mấy người dân vẫn cố gắng cho con em mình đi học. Học trước hết để làm người, sau mới làm việc đời, giúp nước. Cho nên, mục đích quan trọng hàng đầu mà ông cha ta đã khẳng định là: "Có dăm ba chữ để làm người". Từ khi cha mẹ sinh ra đã là người, nhưng muốn trở thành con người Việt Nam như một nhân cách thì phải qua giáo dục. Triết lý này định hướng cho hoạt động của người thày là dạy học không phải chỉ dạy chữ, mà cái quan trọng là phải dạy người. Trong mối quan hệ giữa tài với đức, nền văn hóa giáo dục Việt Nam từ xưa tới nay luôn đặt vấn đề giáo dục đạo đức lên đầu “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Dưới chế độ phong kiến, đặc biệt dưới sự cai trị của các thế lực ngoại xâm thì thày giáo phải dạy cho trẻ cách làm người Việt Nam, theo chuẩn mực đạo đức của xã hội Việt Nam.

- Triết lý về vị trí, vai trò của việc học. Từ xa xưa, cha ông ta đã khẳng định vai trò của việc học: "Nên thợ nên thày nhờ có học" và rất coi trọng, đề cao chữ thánh hiền: "Một chữ ông thánh bằng một gánh vàng", hoặc: "Một kho vàng không bằng một nang chữ". Thật là sâu sắc khi cha ông ta đã lấy một vật có giá trị nhất (đó là vàng) để so sánh với chữ (kiến thức), và hơn thế nữa, cả "một kho vàng" vẫn "không bằng một nang chữ ". Người có chữ, có kiến thức còn hơn có cả kho vàng. Đề cao vai trò của việc học cũng là đề cao vai trò của người thày giáo và đề cao vai trò của nghề dạy học. Người thày giáo đã góp phần chủ yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực “nên thợ, nên thày”. Đồng thời thông qua đào tạo nguồn nhân lực mà người thày giáo đã góp phần tạo ra sản phẩm cho xã hội.

- Triết lý về nguyên tắc chỉ đạo hoạt động dạy và học. Thể hiện trong thành ngữ quen thuộc: “Tiên học lễ, hậu học văn". Điều này xuất phát từ mục đích đề cao nhân cách con người của nhân dân ta. Trước khi học chữ, học kiến thức, học sinh phải học phép tắc, lễ nghĩa, nhân cách làm người trước, bởi nếu không, việc học sẽ trở thành vô dụng đối với những con người kém đạo đức. Chữ “lễ” được hiểu theo nghĩa rộng là các mối quan hệ xã hội, là những chuẩn mực đạo đức của xã hội được quy định thành phép tắc mà mọi người phải tuân theo. Đây là triết lý về mối quan hệ giữa đức và tài trong giáo dục. Nguyên tắc này thống nhất với triết lý về mục đích giáo dục đã được xác định. Triết lý này định hướng cho hoạt động giáo dục của thày giáo là phải gắn dạy chữ với dạy người, dạy chữ phải hướng vào dạy người “nét chữ là nét người”.

- Triết lý về nội dung giáo dục. Về nội dung giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh được khái quát bằng câu “Trai thì trung hiếu làm đầu, gái thì trinh tiết làm câu dặn dò”. Trung, hiếu là phẩm chất tối thượng của người quân tử, đồng thời cũng là phẩm chất quan trọng đầu tiên của người con trai trong xã hội phong kiến. Trung là trung thành với vua, hiếu là hiếu thảo với cha mẹ. Trung hiếu được thể hiện qua câu “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung”; “Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu”. Phẩm chất của người con gái là “trinh tiết”, là “Tam tòng, tứ đức”. Tam tòng là “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Tứ đức là “công – dung – ngôn – hạnh”. Đó là bốn phẩm chất của người phụ nữ.

Mặc dù nội dung “trung hiếu” và “tam tòng, tứ đức” theo quan niệm của chế độ phong kiến còn nhiều điều phải bàn luận nhưng xét về một khía cạnh tích cực có thể thấy sự phân chia các chuẩn mực giá trị đạo đức theo đối tượng, theo giới tính để giáo dục đã có tác dụng định hướng cho hoạt động giáo dục cả trong dân gian và trong các nhà trường. Giáo dục đạo đức không phải chỉ bằng các bài giảng lý thuyết chung chung qua các bài lên lớp của ông thày mà phải có chuẩn mực đạo đức rõ ràng.

Nội dung về dạy chữ được dân gian đặt ra phải học một cách toàn diện. Quan điểm đó được thâu tóm trong câu: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Học ăn, học nói theo quan niệm của nhân dân là: "Ăn nên đọi, nói lên lời", "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng". Và dù có đói cũng phải giữ được phẩm chất "Đói cho sạch, rách cho thơm". Lời nói có một ý nghĩa rất quan trọng "Lời nói gói vàng". Bởi vậy, ông cha ta luôn nhắc nhở: "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Khi nói cũng cần phải có mức độ, bởi "Những lời nói lắm dẫu hay cũng nhàm". Học ăn, học nói vừa là dạy chữ là dạy làm người. Học phải biết vận dụng vào cuộc sống thường ngày. Học không chỉ trong sách vở mà phải học trong thực tiễn cuộc sống, sinh hoạt, học trong công việc.

“Học gói, học mở” vừa là học thực hành, học làm việc, vừa là học cách gói lại và mở ra trong các tình huống cụ thể. Học phải biết gói lại kiến thức cơ bản, đồng thời phải biết mở rộng ra các nội dung khác.

Có thể nói, những lời răn dạy trên không qua sách vở, không qua những bài giảng có bài bản trên lớp, nhưng bất cứ ai là con người Việt Nam cũng đều luôn thường trực trong suy nghĩ của mình về cách ăn, cách nói, cách mặc, cách làm…Phải có tính triết lý sâu sắc thì những câu tục ngữ, ca dao ấy mới có sức sống mãnh liệt, trường tồn trong đời sống đến thế. Triết lý về nội dung giáo dục trong dân gian đã định hướng cho người thày giáo về cách lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học.

- Triết lý về phương pháp giáo dục. Từ xa xưa, nhân dân đã hiểu rất rõ rằng, muốn dạy người phải hiểu được tâm lý của con người. Bởi vậy tục ngữ có câu: "Dạy con từ thủa còn thơ". Nghĩa là phải giáo dục trẻ con ngay từ khi đứa trẻ còn thơ dại, non nớt, giống như "Tre non dễ uốn", vì kinh nghiệm cho thấy rằng "Non chẳng uốn, già nổ đốt","Bé không vin, lớn gẫy cành". Đó là triết lý định hướng về phương pháp giáo dục theo lứa tuổi.

Khi giáo dục, dạy bảo con người, phải biết dùng những lời nói ngọt ngào có tình có lý, nhằm thuyết phục người nghe, bởi "Nói ngọt lọt đến xương". Điều đó mang lại hiệu quả cao hơn là sự "thét mắng" hay dùng "roi vọt": "Lọ là thét mắng cặp rèn; Một lời xiết cạnh bằng nghìn roi song"

Việc dạy và học phải thông qua hoạt động thực tiễn trong đời sống. Học theo lối trải nghiệm thực tiễn "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Câu tục ngữ này chẳng những đúc rút kinh nghiệm học tập của người xưa, mà còn khái quát một điều có tính qui luật về hoạt động nhận thức.

Học theo lối trực quan "Trăm nghe không bằng một thấy". Học phải hành, phải làm, phải biết ứng dụng lý thuyết vào thực tế vì "Trăm thấy không bằng một làm", "Trăm hay không bằng tay quen", "Nói hay không tày làm tốt".

Học mọi lúc, mọi nơi, học hỏi không sợ xấu hổ. Trong Luận ngữ, Khổng Tử có viết: “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên. Trạch kì thiện giả nhi tòng chi, kì bất thiện giả nhi cải chi”. Câu ấy có nghĩa là: Trong ba người cùng đi đường, nhất định có người mà mình đáng học tập. Hãy lựa chọn ưu điểm của họ để tăng cường học tập, phát hiện ra nhược điểm của họ để loại bỏ, từ đó có thể sửa đổi mình, hoàn thiện nhân cách mình. Tư tưởng đó của Khổng Tử đã được dân gian hóa thành triết lý về phương pháp giáo dục dân gian.

Có thể nói, những quan điểm về phương pháp giáo dục, giảng dạy của nhân dân ta thật là sâu sắc. Nhiều quan điểm đã trở thành phương châm, nguyên lý chỉ đạo nền giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, những vấn đề như trực quan trong dạy học, học gắn với hành dường như vẫn còn nằm trên lý thuyết mà vẫn chưa đi vào thực tiễn dạy học. Tình trạng học chay, học chưa gắn với hành đang là một trong những điểm yếu trong việc đổi mới phương pháp dạy học thời nay.

- Triết lý dân gian về mối quan hệ giữa thày giáo với học sinh và gia đình học sinh. Khổng Tử đã khái quát mối quan hệ thầy trò là “Giáo học tương trưởng”. Nghĩa là, cả người dạy và người học tác động qua lại lẫn nhau, cùng nhau phát triển. Trong dạy và học thày trò phải cùng nhau cố gắng “Học không biết chán, dạy không biết mỏi". Một quá trình dạy học thật sự khoa học sẽ dẫn dắt hoạt động dạy phối hợp với hoạt động học, gắn kết người dạy với người học.

Về mối quan hệ giữa thầy giáo với cha mẹ học sinh được thể hiện trong câu ca dao: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thày”. Đây như một lời nhắc nhở khi nào cuộc sống còn cần kiến thức, con người còn văn minh thì người thày còn được tôn trọng, đồng thời mong muốn thế hệ sau phải biết gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp này.

3. Kết luận

Thày giáo và hoạt động dạy là một thành tố quan trọng nhất của quá trình dạy học. Từ xưa tới nay, thày giáo luôn được xã hội tôn vinh, kính trọng. Theo chuẩn mực giá trị đạo đức của người dân Việt Nam đòi hỏi học trò phải tôn kính thày dạy của mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống để làm người tử tế.

Nghiên cứu triết lý giáo dục về người thày giáo trong văn hóa dân gian cho ta thấy vai trò vị trí quan trọng của người giáo viên. Giáo viên là người tác động, điều khiển tất cả các thành tố cấu trúc của quá trình giáo dục, trực tiếp thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục. Với lý do đó có thể khẳng định rằng chất lượng giáo dục cao hay thấp phần chủ yếu thuộc về phẩm chất, năng lực của người giáo viên.

Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác. Chính vì vậy, Nhà giáo dục nổi tiếng Comenxki đã khẳng định: “Dưới ánh mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Minh Giản, Đặng Quốc Bảo (2021), Người thày, người cán bộ quản lý giáo dục và những tấm gương sáng người thày trong dòng chảy giáo dục Việt Nam, Nxb Thông tin và truyền thông.

2. Phạm Minh Hạc (2011), Triết lí giáo dục, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội

3. Trần Đình Tuấn (2012), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb. QĐND. HN.

4. Trần Đình Tuấn (2013), Tập bài giảng Triết lí giáo dục, dùng cho đào tạo sau đại học, Học viện Chính trị.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.