TÌM HIỂU VỀ GIÁO DỤC BẮT BUỘC Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

17:25 | 20/10/2025
PGS.TS. Phạm Đức Quang - Ủy viên Tiểu ban Giáo dục phổ thông, Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực Tóm tắt: Ta biết rằng, giáo dục nếu được thực hiện tốt thì sẽ góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội. Vì thế, nhiều nước trên thế giới đã triển khai giáo dục bắt buộc, với một số năm nhất định, tùy theo điều kiện từng quốc gia. Trên cơ sở tham khảo một số tư liệu, bài viết này góp phần làm rõ thêm bức tranh chung về giáo dục bắt buộc ở một số nước. The

PGS.TS. Phạm Đức Quang -

Ủy viên Tiểu ban Giáo dục phổ thông,

Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực

Tóm tắt: Ta biết rằng, giáo dục nếu được thực hiện tốt thì sẽ góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội. Vì thế, nhiều nước trên thế giới đã triển khai giáo dục bắt buộc, với một số năm nhất định, tùy theo điều kiện từng quốc gia. Trên cơ sở tham khảo một số tư liệu, bài viết này góp phần làm rõ thêm bức tranh chung về giáo dục bắt buộc ở một số nước. Theo đó, biết được quan niệm về giáo dục bắt buộc; hình dung được sơ bộ lịch sử giáo dục bắt buộc; biết được số năm thực hiện giáo dục bắt buộc ở từng quốc gia. Những thông tin đó có thể xem như cơ sở cho đề xuất giải pháp chính sách về giáo dục bắt buộc ở nước ta.

Từ khóa: Giáo dục, bắt buộc, dữ liệu thống kê, trên thế giới

1. Quan niệm về giáo dục bắt buộc

1.1. Quan niệm về giáo dục bắt buộc ở một số quốc gia

Giáo dục bắt buộc là quy định, yêu cầu của Nhà nước về chương trình (nội dung) giáo dục tối thiểu đối với công dân.

Giáo dục bắt buộc thường được quy định trong các Công ước quốc tế [2], như: Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người (năm 1984); Quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (năm 1966); Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (năm 1990).

Phần lớn các nước quy định về giáo dục bắt buộc trong các văn bản luật, trong đó đều nêu rõ trách nhiệm của nhà nước, cung cấp các điều kiện học tập và miễn học phí cho người học. Luật giáo dục bắt buộc yêu cầu trẻ em phải học (ở trường công lập hoặc trường tư thục được nhà nước công nhận) trong một khoảng thời gian nhất định (đã định). Có thể có một số ngoại lệ nào đó, như giáo dục tại nhà, nhưng hầu như mỗi quốc gia (hay giữa các tiểu bang trong quốc gia có nhiều bang) đều có quy định riêng về thời điểm (độ tuổi) trẻ em phải bắt đầu đi học và phải học đến bao nhiêu tuổi trước khi rời trường học.

Việc hoàn thành giáo dục bắt buộc không chỉ căn cứ vào số lượng huy động trẻ em đến tuổi đi học hằng năm mà phải căn cứ vào số học sinh tốt nghiệp ra trường sau khi học xong chương trình đã định. Giáo dục bắt buộc khác với việc đi học bắt buộc, tức là, cha mẹ có nghĩa vụ phải gửi con đến trường (đi học), để đảm bảo rằng, con cái họ được dạy dỗ và đặc quyền của mọi trẻ em phải là có học vấn.

Đến nay, trên thế giới, số năm dành cho giáo dục bắt buộc thường không giống nhau. Thông thường, với giáo dục bắt buộc, trẻ em phải bắt đầu đi học lúc đủ 6 tuổi và học liên tục cho đến khi ít nhất 16 tuổi (đủ để tham gia lao động, sản xuất).

Luật giáo dục bắt buộc được đưa ra không chỉ để cải thiện tỷ lệ về người biết chữ (xoá mù chữ) mà còn để ngăn chặn tình trạng lạm dụng lao động trẻ em (trước tuổi lao động) trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Tuy nhiên, bên cạnh luồng ý kiến cho rằng, giáo dục bắt buộc cần được coi trọng và thấy hữu ích (ở nhiều quốc gia), thì vẫn còn một số nơi (một số người) lại coi đó là quan điểm lỗi thời và phản tác dụng trong thế giới ngày nay. Vì thế, giáo dục bắt buộc đã nhiều lần bị chỉ trích gay gắt. Những người chỉ trích giáo dục bắt buộc cho rằng, làm như vậy là vi phạm quyền tự do của trẻ em; chỉ là một cách thức kiểm soát của chính quyền; không hiệu quả trong việc dạy trẻ em cách đối phó với những phức tạp của thế giới thực bên ngoài trường học; có thể có tác động tiêu cực ngày càng cao hơn đến trẻ em, như tỷ lệ thờ ơ, bắt nạt, căng thẳng và trầm cảm…

1.2. Quan niệm về giáo dục bắt buộc ở Việt Nam

Theo khoản 9, Điều 5, Luật Giáo dục 2019 [22] thì Giáo dục bắt buộc được hiểu là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện.

Khoản 1, Điều 14, Luật Giáo dục năm 2019, quy định giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc.

Điểm a, khoản 1, Điều 28, Luật Giáo dục năm 2019, quy định Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm.

Như thế, giáo dục tiểu học (ở Việt Nam) là bắt buộc, có nghĩa là mọi công dân trong độ tuổi này bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định. Bởi lẽ giáo dục tiểu học được xem là điều kiện cơ bản, nền móng ban đầu để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước, nguồn nhân lực có chất lượng cao trong tương lai cho xã hội.

2. Sơ bộ nguồn gốc của giáo dục bắt buộc

Từ xa xưa, ở Judea cổ đại, ngay trước khi cuốn “Nền cộng hòa” (The Republic) của Plato phổ biến ý tưởng về giáo dục bắt buộc, các nhà lãnh đạo Do Thái đã yêu cầu các bậc cha mẹ, tối thiểu phải cung cấp một sự giáo dục (có thể không chính thức) cho con cái của họ. Trên thực tế, các giáo sĩ Do Thái đã thành lập một số trường học khắp khu vực và khuyến khích các bậc cha mẹ cho con cái họ đến trường, bắt đầu từ 6 tuổi.

Liên minh Bộ ba Aztec (cai trị miền trung Mexico ngày nay), vào thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, được công nhận rộng rãi là quốc gia đầu tiên bắt buộc mọi trẻ em phải đi học.

Ở châu Âu, với cuộc Cải cách (bắt đầu từ năm 1524), Martin Luther đã kêu gọi Luật giáo dục bắt buộc để đảm bảo nhiều người Cơ Đốc giáo có thể tự đọc Kinh thánh. Cải cách này được lan rộng khắp châu Âu, kéo theo việc ban hành Luật giáo dục bắt buộc cũng được mở rộng theo. Riêng Scotland thiết lập một nhiệm vụ giáo dục riêng cho trẻ em của các gia đình đặc quyền vào năm 1496 (mà không dành cho nhóm trẻ của thường dân), cho đến khi Đạo luật thành lập trường học được ban hành năm 1616.

Theo đó, giáo dục bắt buộc dần được lan rộng ra những nơi khác trên thế giới, chủ yếu dựa trên các hệ thống do Phổ thiết lập, vào năm 1763.

Ở Nhật Bản, giáo dục bắt buộc được thành lập không lâu sau Cải cách Minh Trị năm 1868. Ban đầu, nó bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Hệ thống giáo dục nước Phổ. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nó được tái xây dựng ở mức độ lớn và nền giáo dục mới hiện đại, bị ảnh hưởng lớn bởi mô hình giáo dục Hoa Kỳ.

Ở Trung Quốc, năm 1986, đã ban hành Luật Giáo dục bắt buộc 9 năm. Tuy nhiên, do quá đông dân nên Trung Quốc không thể thực hiện miễn phí THCS ngay, mà thực hiện từng bước, nơi thuận lợi làm trước, nơi khó khăn làm sau, mãi đến năm 2006, Trung Quốc mới miễn phí ở THCS 100% trên phạm vi toàn quốc.

Ở Hoa Kỳ, Luật giáo dục bắt buộc có từ khá sớm. Massachusetts trở thành bang đầu tiên của Hoa Kỳ ban hành Luật giáo dục bắt buộc, vào năm 1852, sau đó đã thông qua luật mới (tương tự) vào năm 1917, khi đó vẫn còn là thuộc địa của Anh. Luật năm 1852 yêu cầu mọi thành phố và thị trấn phải có trường tiểu học, tập trung vào dạy Ngữ pháp và Số học cơ bản. Nếu bậc cha mẹ (nào đó) mà từ chối cho con đi học thì sẽ bị phạt tiền và (trong một số trường hợp) bị tước quyền làm cha mẹ, khi đó con cái của họ phải đi học nghề (do người khác chỉ dạy).

Cũng trong khoảng thời gian đó, nhiều bang của Hoa Kỳ đã ban hành Luật giáo dục bắt buộc để đưa giáo dục thoát khỏi kiểm soát của các trường giáo xứ và dành cho các trường công do nhà nước điều hành. Động thái này được thực hiện chủ yếu để đối phó với tình trạng gia tăng người nhập cư và tư tưởng của Giáo hội Công giáo. Tòa án Tối cao sau đó đã bác bỏ cái gọi là bắt buộc học sinh chỉ được học tại các trường công lập. Mississippi là bang cuối cùng của Mỹ thông qua Luật bắt buộc phải đi học, vào năm 1917.

Tuy nhiên, việc thực thi Luật này của các tiểu bang hầu như không hiệu quả cho đến khi họ thực sự nhận ra giá trị của lực lượng lao động đã qua giáo dục (tức là nguồn nhân lực có chất lượng cao, được đào tạo cơ bản).

3. Tổng hợp về giáo dục bắt buộc từ một số kết quả nghiên cứu

Đến nay, có khá nhiều nghiên cứu và qua các công bố (mà chúng tôi có được) bước đầu cho thấy bức tranh chung về giáo dục bắt buộc.

Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (Nguyễn Lộc, Đào Thái Lai, Nguyễn Thị Hồng Vân)[1], đã tìm hiểu, tham khảo về giáo dục của một số quốc gia, cho thấy: Hầu hết các nước quy định giáo dục cơ bản bắt buộc (khoảng 9 - 10 năm). Chẳng hạn, giáo dục bắt buộc ở các nước: Hungary, Bắc Ireland, Hà Lan, là 12 năm; ở Anh, Bắc Ailen, Scotland, Xứ Wales, Nga, là 11 năm; ở Ireland, Phần Lan, Pháp, Đức, New Zealand, Singapore, Mỹ, là 10 năm; ở Canada, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Nam Phi, Ý, là 9 năm.

Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy [10]:

- Hầu hết các nước quy định tuổi vào học lớp một là 6 tuổi, một số nước như Anh, xứ Wales, Bắc Ailen, Hà Lan, New Zealand, Úc, học sinh đi học lớp một từ 5 tuổi; một vài nước như Phần Lan, Nam Phi, học sinh đi học lớp một từ 7 tuổi; còn ở các nước Pháp, Đức, Hungary, Ý, Thụy điển, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, học sinh đi học lớp một từ 6 tuổi; có một số nước, như Malaysia, Pháp... giáo dục bắt buộc ngay từ tiểu học, thậm chí là bắt đầu từ một vài lớp cuối ở mầm non.

- Số năm học ở tiểu học về cơ bản là 6 năm (và cũng là giáo dục bắt buộc), một số nước như Pháp, Nga, tiểu học có 5 năm học. Tuy nhiên, tiểu học ở Trung Quốc có thể 5 năm (vùng dân tộc) và 6 năm (ở phần lớn các vùng khác).

- Riêng ở Hàn Quốc, giáo dục bắt buộc là 9 năm (giai đoạn ở tiểu học và THCS). Trẻ em từ 3 - 5 tuổi thuộc giai đoạn mẫu giáo, không bắt buộc đến lớp; trẻ bắt đầu vào lớp một khi đủ 6 tuổi. Tiểu học kéo dài 6 năm học, từ 6 - 12 tuổi; THCS 3 năm học, từ 13 - 15 tuổi; THPT 3 năm học, từ 16 - 18 tuổi.

- Ở Đức, giáo dục cả ngày là bắt buộc tới tận 15 - 16 tuổi. Sau đó, thanh thiếu niên bắt buộc phải tới trường, ít nhất là ở các cơ sở nửa ngày, đến tận 19 tuổi.

- Ở Hà Lan, học sinh nào rời trường học cả ngày ở tuổi 16 phải tiếp tục học ở các cơ sở giáo dục nửa ngày (nào đó), đến tận 18 tuổi.

- Ở Malaysia, giáo dục phổ thông hiện nay là 11 năm chia thành 2 bậc (tiểu học và trung học); trong đó, ở tiểu học, trẻ em đi học từ 7 tuổi, thời gian dành cho giáo dục tiểu học bắt buộc là 6 năm. Tiểu học được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 gồm 3 năm (từ lớp một đến lớp ba), giai đoạn 2 gồm 3 năm (từ lớp bốn đến lớp sáu). Hết lớp sáu, học sinh phải trải qua kỳ thi cuối cấp tiểu học.

- Ở Nga, giáo dục phổ thông bắt buộc gồm 11 năm (từ 6 - 17 tuổi), bao gồm 3 giai đoạn: tiểu học (lớp 1 - 4), THCS (lớp 5 - 9), THPT (lớp 10 - 11). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, học sinh có thể rời trường sau 15 tuổi nếu cha mẹ hoặc chính quyền cho phép.

- Ở Phần Lan, giai đoạn giáo dục cơ sở từ 7 - 16 tuổi, tại trường phổ thông “hỗn hợp” trong 9 năm, là giáo dục bắt buộc. Sau khi kết thúc giai đoạn giáo dục cơ sở và nhận chứng chỉ, học sinh có thể tiếp tục học lên THPT hoặc học trung học nghề.

4. Dữ liệu thống kê của ngân hàng thế giới và UNESCO về giáo dục bắt buộc

Dữ liệu về giáo dục theo quốc gia từ UNESCO và Ngân hàng Thế giới5 (được thống kê bởi Viện Thống kê của UNESCO và được xuất bản bởi Ngân hàng Thế giới), cho thấy:

- Venezuela là nước có số năm giáo dục bắt buộc cao nhất, với 17 năm, trẻ đi học bắt đầu từ khi còn nhỏ (được liệt kê là 0 tuổi) và bắt buộc cho đến khi 16 tuổi.

Quảng cáo

- Đứng thứ hai là Guatemala (một quốc gia Nam Mỹ), yêu cầu 16 năm học bắt buộc (từ 1 tuổi).

- Đứng thứ ba là nhóm 6 quốc gia yêu cầu học sinh của họ phải hoàn thành 15 năm giáo dục bắt buộc, gồm: Cộng hòa Dominica, Pháp, Israel, Ecuador, Tonga, El Salvador.

- Đứng thứ tư là nhóm 9 quốc gia, (chủ yếu là vùng Mỹ Latinh), quy định 13 năm học bắt buộc, gồm: Nhóm nói tiếng Hà Lan của Sint Maarten, Curacao, Nauru, Mexico, Argentina, Peru, Urugoay, Brazil, Bolivia.

- Đứng thứ năm là nhóm 13 quốc gia triển khai 13 năm giáo dục bắt buộc.

- Đứng thứ sáu là nhóm hơn 20 quốc gia (bao gồm cả Hoa Kỳ) yêu cầu 12 năm học bắt buộc.

- Đứng thứ bảy là nhóm có 16 quốc gia mong muốn học sinh hoàn thành 11 năm giáo dục bắt buộc (UK nằm trong số những quốc gia mong muốn học sinh của mình được hưởng nền giáo dục bắt buộc 11 năm).

- Đứng thứ tám là nhóm có 41 quốc gia bắt buộc học sinh của họ phải hoàn thành 10 năm học bắt buộc.

- Đứng thứ chín là nhóm có 41 quốc gia khác có chương trình giáo dục bắt buộc kéo dài 9 năm.

- Đứng thứ mười là nhóm có 12 quốc gia yêu cầu 8 năm học bắt buộc.

- Đứng thứ mười một là nhóm có 10 quốc gia yêu cầu 7 năm học bắt buộc.

- Đứng thứ mười hai là nhóm có 18 quốc gia yêu cầu giáo dục 6 năm.

- Đứng thứ mười ba là nhóm có 3 quốc gia chỉ cần học sinh của họ hoàn thành 5 năm giáo dục bắt buộc (số năm học bắt buộc ít nhất theo báo cáo), gồm: Myanmar, Bangladesh, Madagascar.

- Cuối cùng, có 22 quốc gia (và vùng lãnh thổ) không có dữ liệu báo cáo về số năm giáo dục bắt buộc.

Số liệu thống kê trên cho thấy, số năm dành cho giáo dục bắt buộc dao động trong khoảng từ 5 - 17 năm, tùy theo quốc gia. Tuy nhiên, đa số các nước dành 9 - 10 năm cho giáo dục bắt buộc (có thể hiểu là từ lớp một đến lớp chín hoặc lớp mười). Ngoài 22 quốc gia không có số liệu, có thể thấy, hầu hết các quốc gia đều thực hiện giáo dục tiểu học là bắt buộc (với khoảng 5 - 6 năm).

Lý do chính để thực hiện giáo dục bắt buộc là hầu hết các quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã qua đào tạo (có chất lượng cao). Hơn nữa, bắt buộc đi học tiểu học còn góp phần giảm tình trạng lạm dụng lao động sớm ở trẻ em.

5. thay cho lời kết

Lịch sử giáo dục thế giới nói chung, lịch sử giáo dục bắt buộc nói riêng, cho thấy tư tưởng giáo dục bắt buộc dành cho trẻ xuất hiện khá sớm, từ xa xưa, ở Judea cổ đại, sau đó thực sự thành luật (bắt buộc ở một số quốc gia) khoảng từ thế kỷ 16 đến nay.

Hiện nay, (theo dữ liệu năm 2021 của Ngân hàng Thế giới và UNESCO) thì trên thế giới, số năm giáo dục bắt buộc thường là 9 - 10 năm (từ lớp một đến lớp chín hoặc mười), cũng có những nước dành ít hơn 9 năm cho giáo dục bắt buộc và cũng có những nước dành từ 10 năm trở lên (thậm chí 16 - 17 năm) cho giáo dục bắt buộc.

Với hầu hết các quốc gia, giáo dục tiểu học là bắt buộc (với khoảng 5 - 6 năm, tùy điều kiện cụ thể từng nước).

Ở hầu hết các quốc gia, lý do chính để thực hiện giáo dục bắt buộc là do đã nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực được qua đào tạo (được xoá mù chữ). Nếu chỉ là lao động giản đơn, thủ công thì không bắt buộc người lao động phải biết chữ, nhưng khi khoa học kỹ thuật phát triển, lực lượng sản xuất phát triển, lao động có sử dụng công cụ, máy móc, thì bắt buộc người lao động phải biết chữ mới có thể điều khiển, vận hành được. Hơn nữa, đó còn được xem như giải pháp góp phần giảm tình trạng lạm dụng lao động ở trẻ em (chưa đến tuổi lao động).

Tài liệu tham khảo

Tài liệu Tiếng Việt

1. Nguyễn Lộc và cộng sự (2011), Kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục phổ thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

2. Trịnh Thị Anh Hoa và cộng sự (2022), “Chính sách giáo dục bắt buộc tại một số quốc gia và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, DOI: https://doi. org/10.15625/2615-8957/12220304

Tài liệu tiếng nước ngoài

3. Compulsory Education Source (1875), New England Journal of Education, January 30, 1875, Vol. 1, No. 5 (January 30, 1875), p. 52 Published by: Sage Publications, Inc. Stable URL: https://www.jstor.org/stable/44763565

4. David N. Camp (1871), “Compulsory Education Source”, The Connecticut School Journal, MAY, 1871, Vol. 1, No. 5 (MAY, 1871), pp. 181- 184 Published by: Sage Publications, Inc. Stable URL: https://www.jstor.org/stable/44649076

5. Micheal S.Katz (1976), A History of Compulsory Education Law, Library of Congress Catalog Card Number: 76-1693 ISBN 0-87367-075-2 Copyright 1976 by The Phi Delta Kappa Educational Foundation Bloomington, Indiana

6. Nan Li (2020), An Inquiry Into the Evolution of German Compulsory Education Law. Advances in Social Science, Education and Humanities Research, volume 416 4th International Conference on Culture, Education and Economic Development of Modern Society (ICCESE 2020). Copyright © 2020 The Authors. Published by Atlantis Press SARL. This is an open access article distributed under the CC BY-NC 4.0 license -http://creativecommons.org/ licenses/by-nc/4.0/

7. Ramsey, David E. (1985), “A Historical Review of the Origins, Developments and Trends in Compulsory Education in the United States, 1642-1984”, Electronic Theses and Dissertations. Paper 2964. https://dc.etsu.edu/etd/2964

8. Wallace L. Jones Jr (1967), A History of Compulsor y of Compulsory School A y School Attendance and Visiting T ttendance and Visiting Teacher Services in Louisiana, LSU Historical Dissertations and Theses. 1340.

Các tài liệu số (hay tư liệu từ các trang web)

9.https://thanhnien.vn/cac-giai-phap-giao-duc-bat-buoc-va-mien-phi-9-nam-185740282.htm

10. https://avnuc.vn/gioi-thieu-mot-nen-giao-duc-tren-gioi/

11.https://www.oecdilibrary.org/sites/399475acen/index.html?itemId=/content/component/399475ac-en

12.https://en.wikipedia.org/wiki/Compulsory_education

13.https://www.findlaw.com/education/education-options/compulsory-education-laws-background.html#:~:text=Early%20Compulsory%20Education %20Laws%20in,on%20 grammar%20and%20basic%20arithmetic.

14. https://data.worldbank.org/indicator/SE.COM.DURS

15.https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_b%E1%BA%AFt_ bu%E1%BB%99c

16.https://www.nationmaster.com/country-info/stats/Education/Duration-of-compulsory- education

17.https://wonderingmaps.com/compulsory-education/

18.https://learningportal.iiep.unesco.org/en/issue-briefs/improve learning/learning -and- teaching-materials

19.https://www.bentre.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1365:kinh-nghim-quc-t-v-xay-dng-chng-trinh-giao-dc-ph-thong&catid=22:tin-t-cac-bao&Itemid=69

20.https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=8200

21.https://www.bentre.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1365:kinh-nghim-quc-t-v-xay-dng-chng-trinh-giao-dc-ph-thong&catid=22:tin-t-cac-bao&Itemid=69

22.https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Luat-giao-duc-2019-367665.aspx

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hóa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hóa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.