TÍCH HỢP KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG VÀO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP: MINH CHỨNG TỪ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT NAM - SINGAPORE.

06:43 | 26/02/2026
Nguyễn Anh Tuấn, Lý Ngọc Quang,Võ Ngọc Hương Thảo Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo nghiên cứu việc tích hợp kiểm định chất lượng vào chiến lược phát triển của cơ sở giáo dục nghề nghiệp thông qua nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, dựa trên Báo cáo tóm tắt kết quả đánh giá ngoài năm 2025. Kết quả cho thấy nhà trường đạt 94/100 điểm, phản ánh mức độ đáp ứng cao đối với bộ tiêu chuẩn kiểm định và khẳng định hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ được xây d

Nguyễn Anh Tuấn, Lý Ngọc Quang,Võ Ngọc Hương Thảo

Email: [email protected]

Tóm tắt:

Bài báo nghiên cứu việc tích hợp kiểm định chất lượng vào chiến lược phát triển của cơ sở giáo dục nghề nghiệp thông qua nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, dựa trên Báo cáo tóm tắt kết quả đánh giá ngoài năm 2025. Kết quả cho thấy nhà trường đạt 94/100 điểm, phản ánh mức độ đáp ứng cao đối với bộ tiêu chuẩn kiểm định và khẳng định hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ được xây dựng, vận hành tương đối đồng bộ và hiệu quả, với nhiều tiêu chí thể hiện nền tảng quản trị vững chắc.

Nghiên cứu khẳng định kiểm định chất lượng không chỉ mang ý nghĩa công nhận đạt chuẩn, mà còn là công cụ quản trị chiến lược giúp nhà trường rà soát toàn diện hoạt động đào tạo, nhận diện điểm mạnh, xác định các nội dung cần cải tiến và cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh chính sách, phát triển đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất và hoàn thiện cơ chế quản lý.

Bài báo chỉ ra, khi được tích hợp chặt chẽ vào chiến lược phát triển, kiểm định chất lượng góp phần hình thành văn hóa chất lượng, chuyển đổi tư duy từ “đáp ứng đạt chuẩn” sang “cải tiến liên tục”, đồng thời nâng cao năng lực quản trị theo hướng công khai, minh bạch và bền vững. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong quá trình triển khai kiểm định gắn với chiến lược phát triển dài hạn.

Từ khóa: kiểm định chất lượng; quản trị chất lượng; giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm chất lượng nội bộ; đánh giá ngoài.

Nhận bài: 25/2/2026; Biên tập: 25/2/2026; Duyệt đăng: 26/2/2026

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đang chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị chất lượng, đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ theo hướng cải tiến liên tục và lấy người học, thị trường lao động làm trung tâm. Theo quan điểm của Cedefop (2020), “kiểm định chất lượng là một bộ phận cốt lõi của hệ thống bảo đảm chất lượng, không chỉ nhằm công nhận đạt chuẩn mà còn gắn với đánh giá nội bộ, đánh giá ngoài và yêu cầu cải tiến thường xuyên” (tr 14).

Kiểm định chất lượng cần được nhìn nhận như một công cụ quản trị chiến lược, giúp nhà trường đánh giá toàn diện mức độ thực hiện sứ mạng, mục tiêu, hiệu quả đào tạo và năng lực phát triển bền vững, thay vì chỉ dừng lại ở việc chuẩn bị hồ sơ, minh chứng để đáp ứng yêu cầu công nhận. Thực tiễn cho thấy, góc nhìn về kiểm định vẫn còn thiên về việc đáp ứng yêu cầu tuân thủ, trong khi ý nghĩa của kiểm định như một công cụ thúc đẩy cải tiến và nâng cao chất lượng chưa được phát huy đầy đủ.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu các trường hợp điển hình có kết quả kiểm định cao mang ý nghĩa quan trọng. Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, với tổng điểm 94/100 điểm trong đợt đánh giá ngoài năm 2025, là minh chứng cho hiệu quả vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ và năng lực quản trị theo hướng chuẩn hóa, hiện đại.

Bài báo lựa chọn nghiên cứu trường hợp này nhằm: (1) làm rõ vai trò của kiểm định chất lượng như một công cụ quản trị chiến lược trong giáo dục nghề nghiệp; (2) phân tích mối quan hệ giữa kết quả đánh giá ngoài và hiệu quả quản trị chất lượng nội bộ; và (3) đề xuất các định hướng cải tiến có giá trị tham khảo cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác.

2. Cơ sở lý luận về kiểm định chất lượng và quản trị giáo dục nghề nghiệp

Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp là quá trình đánh giá toàn diện, có hệ thống và dựa trên minh chứng, nhằm xác định mức độ đáp ứng của cơ sở đào tạo đối với bộ tiêu chuẩn do cơ quan quản lý nhà nước ban hành. Bản chất của kiểm định không chỉ dừng lại ở việc xác nhận sự phù hợp về mặt pháp lý, mà còn hướng đến việc thúc đẩy cải tiến chất lượng và nâng cao hiệu quả quản trị đào tạo. Từ góc độ quản trị hiện đại, kiểm định chất lượng gắn liền với ba chức năng cốt lõi: (i) đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) - xác nhận cơ sở đào tạo đạt mức chuẩn tối thiểu; (ii) cải tiến chất lượng (Quality Improvement) - chỉ ra các điểm mạnh để phát huy và các hạn chế để khắc phục; và (iii) trách nhiệm giải trình (Accountability) - minh bạch hóa chất lượng đào tạo với xã hội, người học và cơ quan quản lý. Ba chức năng này cho thấy kiểm định vừa là công cụ kiểm soát chất lượng, vừa là động lực thúc đẩy phát triển tổ chức và nâng cao uy tín của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Quản trị chất lượng trong giáo dục nghề nghiệp được hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát và cải tiến toàn bộ hoạt động đào tạo dựa trên một hệ thống tiêu chí chất lượng rõ ràng và các minh chứng xác thực. Trong mô hình này, kiểm định đóng vai trò là “cơ chế phản hồi bên ngoài”, giúp nhà trường đánh giá một cách khách quan mức độ hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ, từ đó điều chỉnh chiến lược và các giải pháp quản trị phù hợp.

Khác với mô hình quản lý hành chính truyền thống chủ yếu dựa trên mệnh lệnh và tuân thủ quy trình, quản trị chất lượng nhấn mạnh đến tư duy hệ thống, ra quyết định dựa trên minh chứng, vận hành theo chu trình cải tiến liên tục (Plan - Do - Check - Act Pdca) và sự tham gia của toàn thể cán bộ quản lý, giảng viên cùng các bên liên quan. Cách tiếp cận này giúp chất lượng trở thành trách nhiệm chung của toàn bộ tổ chức, chứ không chỉ là nhiệm vụ của một bộ phận chuyên trách.

Do đó, khi kiểm định chất lượng được tích hợp vào hoạt động quản trị nhà trường, nó không còn là một sự kiện mang tính thời điểm nhằm “đạt chuẩn”, mà trở thành một thành tố thường trực trong chiến lược phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gắn với quá trình tự đánh giá, cải tiến liên tục và nâng cao năng lực cạnh tranh của nhà trường.

Về phương diện pháp lý ở Việt Nam, theo quy định tại Thông tư số 14/2024/TT BLĐTBXH ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp là hoạt động đánh giá và công nhận mức độ đáp ứng của cơ sở đào tạo đối với bộ tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng do Nhà nước ban hành. Mỗi tiêu chí phản ánh một mức độ yêu cầu cần đạt đối với từng nội dung cụ thể và kết quả kiểm định được xác định thông qua việc chấm điểm các tiêu chí, tiêu chuẩn dựa trên minh chứng. Đặc biệt, việc xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ được xác định là yêu cầu bắt buộc trong bộ tiêu chí kiểm định, cho thấy kiểm định gắn chặt với quản trị chất lượng và cải tiến liên tục trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tiếp cận trên cũng tương đồng với quan điểm quốc tế về bảo đảm chất lượng bên ngoài trong giáo dục. Theo European Association for Quality Assurance in Higher Education-Enqa (Hiệp hội Bảo đảm chất lượng giáo dục đại học châu Âu), “cơ chế bảo đảm chất lượng bên ngoài bao gồm các hoạt động đánh giá, kiểm định và kiểm toán chất lượng ở cấp cơ sở đào tạo hoặc cấp chương trình đào tạo, được triển khai nhằm nhiều mục đích khác nhau tùy theo bối cảnh. Các mục đích đó có thể bao gồm: hỗ trợ các cơ sở giáo dục trong việc phát triển và nâng cao chất lượng; bảo đảm trách nhiệm giải trình trước xã hội và công chúng; bảo vệ người học khỏi các cơ sở đào tạo kém chất lượng; nâng cao mức độ phù hợp của văn bằng, chứng chỉ với nhu cầu thị trường lao động; và bảo đảm các chương trình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ đạt các tiêu chuẩn tối thiểu. Các mục tiêu này không loại trừ lẫn nhau mà thường được kết hợp trong cùng một hệ thống bảo đảm chất lượng bên ngoài” (Enqa, 2011, p. 133).

Như vậy, xét cả về phương diện lý luận và pháp lý, kiểm định chất lượng không chỉ là công cụ xác nhận mức độ đạt chuẩn mà còn là một cấu phần chiến lược của hệ thống quản trị chất lượng trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Kiểm định cung cấp cơ sở minh chứng khách quan để nhà trường đánh giá hiệu quả hoạt động, điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và xác lập trọng tâm cải tiến theo hướng khoa học và bền vững. Đồng thời, kiểm định tạo khuôn khổ cho chu trình cải tiến liên tục (PDCA), góp phần hình thành văn hóa chất lượng và tăng cường trách nhiệm giải trình đối với Nhà nước, xã hội và người học. Vì vậy, xét dưới góc độ lý luận quản trị giáo dục, kiểm định chất lượng cần được tiếp cận như một cơ chế điều tiết chiến lược của hệ thống quản trị nhà trường, trong đó các chuẩn mực chất lượng và kết quả đánh giá ngoài đóng vai trò là cơ sở khoa học cho việc tái cấu trúc mô hình quản lý, chuyển dịch từ cách tiếp cận quản lý hành chính - tuân thủ sang cách tiếp cận quản trị chất lượng dựa trên minh chứng, định hướng cải tiến liên tục và phát triển bền vững.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài báo sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) kết hợp với phân tích tài liệu và phân tích nội dung báo cáo đánh giá ngoài. Đối tượng nghiên cứu là Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở trực tiếp phân tích Báo cáo tóm tắt kết quả đánh giá ngoài năm 2025 của Công ty Cổ phần Kiểm định và Tư vấn Giáo dục Việt Nam. Việc lựa chọn nghiên cứu trường hợp nhằm làm rõ chiều sâu của quá trình “tích hợp kiểm định vào quản trị chiến lược”, hơn là hướng tới mục tiêu tìm kiếm tính đại diện mang tính thống kê.

Các phương pháp cụ thể gồm:

- Phân tích tài liệu: nghiên cứu nội dung các tiêu chí, tiêu chuẩn và điểm đánh giá của từng tiêu chí trong báo cáo đánh giá ngoài, từ đó xác định mức độ đáp ứng của nhà trường đối với bộ tiêu chuẩn kiểm định.

- Phân tích so sánh: đối chiếu giữa các nhóm tiêu chí đạt điểm tối đa và các tiêu chí cần có định hướng cải tiến nhằm làm rõ vai trò của kiểm định trong việc nhận diện điểm mạnh và những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện của hệ thống quản trị.

- Phân tích tổng hợp: khái quát ý nghĩa của kết quả kiểm định đối với quản trị chất lượng và chiến lược phát triển nhà trường. Cách tiếp cận này cho phép làm rõ kiểm định chất lượng không chỉ như một kết quả đánh giá, mà như một nguồn dữ liệu quản trị có giá trị khoa học và thực tiễn cao trong điều hành hoạt động đào tạo.

4. Phân tích kết quả đánh giá ngoài và ý nghĩa đối với quản trị chất lượng

4.1. Nhóm tiêu chí đạt điểm tối đa - nền tảng của quản trị chiến lược

Kết quả đánh giá cho thấy lãnh đạo nhà trường đã hình thành và triển khai một chiến lược quản trị tổng thể, có tính hệ thống, công khai, hiện đại và định hướng dài hạn, trong đó sứ mạng và mục tiêu phát triển được xác định rõ ràng, nhất quán, làm cơ sở định hướng cho toàn bộ hoạt động đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ và mở rộng hợp tác. Công tác tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý được xây dựng đồng bộ, gắn với hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ vận hành hiệu quả, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho quản trị chiến lược của nhà trường.

Song song đó, chương trình đào tạo và giáo trình được phát triển theo hướng chuẩn hóa, tiếp cận chuẩn đầu ra, gắn chặt với Khung trình độ quốc gia và nhu cầu của thị trường lao động, với sự tham gia của doanh nghiệp và các bên liên quan, thể hiện sự chuyển biến từ quản lý nội dung sang quản trị chương trình theo năng lực.

Bên cạnh đó, nhà trường cũng xác lập rõ định hướng phát triển nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến và chuyển giao công nghệ gắn với thực tiễn đào tạo và sản xuất, hướng tới xây dựng mô hình “nhà trường định hướng đổi mới sáng tạo”, trong đó hoạt động nghiên cứu trở thành động lực quan trọng nâng cao chất lượng giảng dạy nghề.

Đồng thời, chiến lược quản trị lấy người học làm trung tâm được triển khai nhất quán thông qua các chính sách hỗ trợ học tập, tư vấn, hướng nghiệp và kết nối việc làm, bảo đảm quyền lợi và sự phát triển toàn diện của người học. Đặc biệt, hệ thống giám sát và đánh giá chất lượng được tổ chức bài bản, dựa trên dữ liệu và cơ chế thu thập phản hồi thường xuyên từ các bên liên quan, khẳng định kiểm định chất lượng đã được tích hợp như một bộ phận hữu cơ trong chu trình quản trị, phục vụ cải tiến liên tục và phát triển bền vững.

Tổng thể các nội dung trên cho thấy lãnh đạo nhà trường đã xây dựng được một nền tảng quản trị chiến lược vững chắc, tạo tiền đề quan trọng để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, khẳng định vị thế trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp và phát triển ổn định, bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

4.2. Nhóm tiêu chí cần ưu tiên cải tiến để bảo đảm phát triển bền vững

Bên cạnh những kết quả tích cực và các điểm mạnh đã đạt được, kết quả đánh giá ngoài cho thấy một số tiêu chí vẫn còn những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, tuy nhiên đây không phải là những hạn chế mang tính tiêu cực mà chính là những cơ hội quan trọng để nhà trường nâng cao chất lượng quản trị và đào tạo theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong đó, đối với hoạt động đào tạo, yêu cầu đặt ra là mở rộng tư duy quản trị từ tổ chức giảng dạy sang quản trị toàn diện quá trình tuyển sinh và bảo đảm chất lượng đầu vào, qua đó nâng cao hiệu quả đào tạo ngay từ khâu tuyển chọn người học. Đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, việc tiếp tục chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ chính là cơ hội để đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và chuyển đổi số.

Quảng cáo

Đối với cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo, việc hoàn thiện công tác quản lý, bảo trì, bảo dưỡng và bảo đảm tính đồng bộ của thiết bị mở ra khả năng nâng cao hiệu quả quản trị tài sản, tối ưu hóa việc khai thác hạ tầng hiện có và từng bước hiện đại hóa môi trường đào tạo. Từ góc độ quản trị chiến lược, các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện này chính là cơ sở khoa học để nhà trường xác định đúng trọng tâm ưu tiên đầu tư, điều chỉnh chính sách và hoạch định các giải pháp phát triển trong giai đoạn tiếp theo, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững và tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín của nhà trường trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

5. Thảo luận

Từ kết quả đánh giá ngoài, có thể khẳng định rằng kiểm định chất lượng tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore đã vượt ra khỏi ý nghĩa của một hoạt động “công nhận đạt chuẩn”, để trở thành một công cụ quản trị chiến lược trong điều hành và phát triển nhà trường.

Thứ nhất, kiểm định giúp chuyển đổi tư duy quản lý từ hành chính sang quản trị chất lượng.

Thay vì tập trung vào việc tuân thủ quy trình, hồ sơ, kiểm định thúc đẩy nhà trường tiếp cận toàn bộ hoạt động đào tạo theo logic chất lượng: từ sứ mạng, mục tiêu, chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất đến kết quả đầu ra. Điều này giúp các quyết định quản lý được đưa ra trên cơ sở minh chứng và dữ liệu, thay vì dựa vào cảm tính hay kinh nghiệm cá nhân.

Thứ hai, kiểm định góp phần hình thành và củng cố văn hóa chất lượng trong nhà trường.

Kiểm định góp phần hình thành và củng cố văn hóa chất lượng trong nhà trường. Việc nhiều tiêu chí đạt điểm tuyệt đối cho thấy chất lượng không còn là nhiệm vụ riêng của phòng bảo đảm chất lượng, mà đã trở thành trách nhiệm chung của toàn hệ thống, bao gồm lãnh đạo, giảng viên, cán bộ quản lý và người lao động. Văn hóa “làm việc có minh chứng” và “đánh giá để cải tiến” từng bước được hình thành, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của nhà trường.

Thứ ba, kiểm định tạo cơ chế phản hồi khách quan từ bên ngoài.

Báo cáo đánh giá ngoài không chỉ ghi nhận những điểm mạnh mà còn chỉ ra các lĩnh vực cần ưu tiên cải tiến như: công tác tuyển sinh, chuẩn hóa đội ngũ và quản lý thiết bị đào tạo. Đây chính là nguồn dữ liệu chiến lược để nhà trường xây dựng kế hoạch hành động trung hạn và dài hạn.

Thứ tư, kiểm định gắn chặt với chu trình cải tiến liên tục.

Khi kết quả kiểm định được sử dụng để điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và đổi mới phương thức quản trị, kiểm định trở thành một mắt xích trong chu trình PDCA (Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Cải tiến), qua đó bảo đảm chất lượng được nâng cao liên tục, chứ không dừng lại hay “đóng khung” tại thời điểm được công nhận đạt chuẩn.

Từ những phân tích trên, có thể thấy kiểm định chất lượng đã đóng vai trò như một “bản đồ chiến lược” cho quản trị nhà trường, giúp xác định rõ vị trí hiện tại, mục tiêu phát triển và con đường cải tiến trong tương lai.

Như vậy, kiểm định chất lượng tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore đã được chuyển hóa từ công cụ “đánh giá đạt chuẩn” thành công cụ “điều hành chiến lược”, góp phần định hình tư duy quản trị dựa trên minh chứng, thúc đẩy quá trình chuẩn hóa và nâng cao năng lực tự hoàn thiện của tổ chức, qua đó củng cố nền tảng cho sự phát triển ổn định và dài hạn của nhà trường.

6. Định hướng cải tiến và phát triển

Từ kết quả nghiên cứu trường hợp, có thể rút ra một số định hướng mang tính gợi mở nhằm hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp từng bước nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng đào tạo. Trước hết, kiểm định chất lượng cần được xác định là một bộ phận thường xuyên trong hoạt động quản lý nhà trường, gắn chặt với định hướng phát triển lâu dài, thay vì chỉ được triển khai như một nhiệm vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của từng chu kỳ đánh giá. Khi kiểm định được tích hợp vào hoạt động quản trị hằng ngày, nhà trường có điều kiện hình thành và củng cố văn hóa chất lượng, đồng thời nuôi dưỡng tinh thần cải tiến liên tục trong toàn bộ hệ thống.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục hoàn thiện và vận hành hiệu quả hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ có ý nghĩa then chốt, giúp kết nối các hoạt động đào tạo, quản lý và phát triển theo một trục thống nhất. Hệ thống này không chỉ hỗ trợ công tác kiểm định mà còn là công cụ quan trọng để nhà trường chủ động tự đánh giá, điều chỉnh và nâng cao chất lượng.

Kết quả đánh giá ngoài cũng cần được nhìn nhận như một nguồn thông tin khoa học có giá trị, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất và cải tiến chương trình đào tạo. Việc sử dụng kết quả đánh giá theo hướng này giúp các quyết định quản lý trở nên khách quan, sát với thực tiễn và có tính bền vững cao hơn.

Đồng thời với các giải pháp trên, công tác tuyển sinh cần được chuẩn hóa theo hướng đồng bộ, minh bạch và gắn chặt với chiến lược phát triển ngành, nghề của nhà trường. Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm chất lượng đầu vào mà còn tạo nền tảng nâng cao hiệu quả đào tạo ngay từ giai đoạn khởi đầu.

Cùng đó, việc tăng cường quản lý, bảo trì và bảo dưỡng hệ thống thiết bị đào tạo theo quy trình định kỳ, khoa học sẽ giúp khai thác tối đa hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, bảo đảm điều kiện học tập ổn định, an toàn và bền vững cho người học trong dài hạn.

Nhìn chung, những định hướng trên được xây dựng theo tinh thần tích cực và khả thi, không chỉ phù hợp với Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore mà còn có thể được vận dụng linh hoạt tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác, như một cách tiếp cận nhẹ nhàng nhưng hiệu quả trong quá trình cải tiến chất lượng và phát triển bền vững.

7. Kết luận

Nghiên cứu trường hợp tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore cho thấy kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp không chỉ mang ý nghĩa công nhận mức độ đạt chuẩn, mà còn thể hiện rõ vai trò như một công cụ quản trị chiến lược trong quá trình điều hành và phát triển nhà trường. Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng được trao cho nhà trường không chỉ thể hiện sự ghi nhận chính thức về mặt pháp lý, mà còn là minh chứng khoa học khẳng định năng lực quản trị, uy tín và mức độ đáp ứng các chuẩn mực quốc gia của cơ sở đào tạo. Khi được tiếp cận đúng bản chất, kiểm định trở thành phương tiện giúp nhà trường nhìn nhận toàn diện thực trạng hoạt động, củng cố năng lực ra quyết định dựa trên minh chứng và nâng cao hiệu quả quản trị một cách có hệ thống.

TÍCH HỢP KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG VÀO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP: MINH CHỨNG TỪ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT NAM - SINGAPORE.

Kết quả đánh giá ngoài năm 2025 với mức điểm cao phản ánh không chỉ chất lượng đào tạo ổn định mà còn cho thấy mức độ trưởng thành của hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đây là cơ sở quan trọng để nhà trường khẳng định thương hiệu, gia tăng niềm tin của người học, xã hội và doanh nghiệp sử dụng lao động. Đồng thời, những tiêu chí chưa đạt mức tối ưu tuyệt đối cần được xem như các “chỉ báo quản trị”, cung cấp dữ liệu đầu vào cho việc hoàn thiện chính sách, điều chỉnh chiến lược và xác lập các ưu tiên cải tiến trong giai đoạn tiếp theo.

Đóng góp mới của bài báo không chỉ dừng lại ở việc mô tả và phân tích kết quả kiểm định, mà quan trọng hơn là đề xuất và luận chứng cho cách tiếp cận kiểm định chất lượng như một mô hình quản trị chiến lược trong giáo dục nghề nghiệp Việt Nam. Theo cách tiếp cận này, kiểm định được tích hợp trực tiếp vào chu trình hoạch định - thực thi - giám sát - cải tiến (PDCA), trở thành “trục vận hành” của hệ thống quản trị chất lượng, thay vì chỉ là một hoạt động đánh giá mang tính thời điểm.

Từ góc độ học thuật và thực tiễn, nghiên cứu góp phần làm rõ rằng kiểm định chất lượng, khi được gắn chặt với chiến lược phát triển và duy trì hiệu lực của giấy chứng nhận kiểm định, sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành văn hóa chất lượng, nâng cao năng lực quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững. Qua đó, kiểm định không chỉ là một công cụ kỹ thuật hay yêu cầu hành chính, mà thực sự trở thành nền tảng quản trị cho sự phát triển dài hạn của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và chuyển đổi số giáo dục hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. (2024). Thông tư số 14/2024/TT BLĐTBXH ngày 31 tháng 12 năm 2024 quy định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

[2] Công ty Cổ phần Kiểm định và Tư vấn Giáo dục Việt Nam. (2025). Báo cáo tóm tắt kết quả đánh giá ngoài Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore.

[3] Công ty Cổ phần Kiểm định và Tư vấn Giáo dục Việt Nam. (2026). Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore (Số đăng ký: 04/2026, Quyết định số: 07/QĐ-KĐGDVN).

[4] CEDEFOP. (2020). Developments in vocational education and training policy in 2015–19: Northern Ireland. Publications Office of the European Union.

[5] Magna Charta Observatory. (2011). Contemporary threats and opportunities: Proceedings of the conference of the Magna Charta Observatory, 15–16 September 2011. Bononia University Press.

[6] Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore. (2025). Báo cáo tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

INTEGRATING QUALITY ACCREDITATION INTO THE DEVELOPMENT STRATEGY OF VOCATIONAL EDUCATION INSTITUTIONS: EVIDENCE FROM VIETNAM - SINGAPORE VOCATIONAL COLLEGE.

Abstract:

This paper examines the integration of quality accreditation into the development strategy of vocational education institutions through a case study of Vietnam–Singapore Vocational College, based on the 2025 external assessment summary report. The results show that the institution achieved a score of 94/100, reflecting a high level of compliance with the accreditation standards and confirming that its internal quality assurance system has been developed and operated in a relatively coherent and effective manner, with many criteria demonstrating a solid governance foundation. The study affirms that quality accreditation is not merely a process of formal recognition of compliance with standards, but also a strategic management tool that enables institutions to comprehensively review training activities, identify strengths, determine areas for improvement, and provide a scientific basis for policy adjustment, staff development, investment in facilities, and the refinement of management mechanisms. The paper further indicates that when quality accreditation is closely integrated into the development strategy, it contributes to the formation of a quality culture, shifts institutional thinking from “meeting standards” to “continuous improvement,” and 1 enhances governance capacity in a transparent, accountable, and sustainable manner. The findings offer valuable references for vocational education institutions in implementing accreditation in alignment with long-term development strategies.

Keywords: quality accreditation, quality management, vocational education, internal quality assurance, external evaluation.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.