THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA CHA MẸ CÓ CON RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

06:19 | 25/02/2026
Phan Văn Hiệp - HVCH - Học viện Quản lý giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Những cha mẹ có con mắc chứng tự kỷ thường trải qua những đau khổ, bối rối căng thẳng, khủng hoảng và khó chấp nhận khi biết con mình bị mắc chứng tự kỷ. Những căng thẳng, khó khăn tâm lý của bậc cha mẹ có con bị tự kỷ cũng bắt đầu xuất hiện từ đó. Bài viết phân tích thực trạng khó khăn tâm lý của cha/mẹ có con tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, làm cơ sở để tiến hành đề xuất các hoạt động hỗ trợ tâm lý

Phan Văn Hiệp -

HVCH - Học viện Quản lý giáo dục

Email: [email protected]

Tóm tắt: Những cha mẹ có con mắc chứng tự kỷ thường trải qua những đau khổ, bối rối căng thẳng, khủng hoảng và khó chấp nhận khi biết con mình bị mắc chứng tự kỷ. Những căng thẳng, khó khăn tâm lý của bậc cha mẹ có con bị tự kỷ cũng bắt đầu xuất hiện từ đó. Bài viết phân tích thực trạng khó khăn tâm lý của cha/mẹ có con tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, làm cơ sở để tiến hành đề xuất các hoạt động hỗ trợ tâm lý giúp cha/mẹ giải quyết những khó khăn trong quá trình chăm sóc và giáo dục con tự kỷ.

Từ khóa: Tự kỷ; khó khăn tâm lý; cha/mẹ có con bị tự kỷ.

  1. Đặt vấn đề.

Tự kỷ hay còn được gọi là rối loạn phổ tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển, xuất hiện ngay từ những năm đầu đời, thường là trước 3 tuổi với những biểu hiện chủ yếu là rối loạn về kỹ năng xã hội, giao tiếp và hành vi của trẻ. Đối với gia đình của trẻ tự kỷ, khi con em của họ được chẩn đoán mắc phải chứng tự kỷ thì đó thực sự sẽ là một cú sốc lớn đối với họ, nhất là đối với cha mẹ của trẻ. Những bậc cha mẹ có con mắc chứng tự kỷ thường trải qua những đau khổ, bối rối căng thẳng, khủng hoảng và khó chấp nhận khi biết con mình bị mắc chứng tự kỷ. Cùng với đó, sự bàn tán của những người xung quanh về tình trạng bệnh của con mình sẽ càng làm cho cha mẹ cảm thấy đau khổ hơn. Quá trình chăm sóc và giáo dục con cái không phải là một công việc dễ dàng, đặc biệt còn là chăm sóc và giáo dục những đứa trẻ tự kỷ lại càng khó hơn, việc thiếu những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm về chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ khiến cho rất nhiều cha mẹ có con tự kỷ không biết phải làm như thế nào để có thể hỗ trợ cho con tốt nhất. Những căng thẳng, khó khăn tâm lý của bậc cha mẹ có con bị tự kỷ cũng bắt đầu xuất hiện từ đó. Chính vì vậy việc nghiên cứu và chỉ ra những biểu hiện khó khăn tâm lý của cha mẹ có con tự kỷ trong quá trình chăm sóc và giáo dục con cái là một trong những cơ sở để tiền hành các hoạt động hỗ trợ nhằm giúp đỡ cho cha mẹ có con tự kỷ giải quyết những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình chăm sóc con, từ đó giúp các bậc cha mẹ tìm được những cách thức và phương thức giải quyết những khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc và giáo dục con tự kỷ góp phần cải thiện đời sống tinh thần và hoạt động chăm sóc giáo dục con tự kỷ của các bậc cha mẹ.

  1. Nội dung nghiên cứu

2.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những biểu hiện về khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc và giáo dục con tự kỷ của cha/mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Khách thể nghiên cứu: Tổng số khách thể nghiên cứu là 86 khách thể (81 cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ và 5 chuyên gia), trong đó: Số lượng khách thể khảo sát là 81 cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; số lượng khách thể phỏng vấn sâu là 10 (05 chuyên gia và 05 mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong nhóm khách thể khảo sát).

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê mô tả. Trong quá trình thực hiện chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với một số cha mẹ có con tự kỷ, các chuyên viên can thiệp cho trẻ tự kỷ, các chuyên gia trong hoạt động hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ có con tự kỷ tại Biên Hòa, Đồng Nai để tìm hiểu thêm thông tin và đánh giá chính xác hơn về những khó khăn tâm lý của cha mẹ có con tự kỷ trong quá trình chăm sóc và giáo dục con cái.

Để đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của những cha mẹ trong quá trình chăm sóc và giáo dục con tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở xin ý kiến của các chuyên gia tâm lý học; chuyên gia tham vấn tâm lý và quá trình quan sát thực tiễn, chúng tôi tiến hành lập bảng hỏi các nội dung biểu hiện khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc và giáo dục con của cha mẹ có con tự kỷ. Mỗi câu hỏi trong bảng hỏi gồm 04 phương án trả lời: Không khó khăn; Khó khăn ít; Khó khăn trung bình; Rất khó khăn với thang điểm từ 0 đến 3 điểm. Điểm trung bình của mỗi câu trả lời thể hiện mức độ khó khăn tâm lý của cha mẹ trong quá trình chăm sóc, giáo dục con tự kỷ và được quy ước thành 4 mức độ, khoảng cách giữa các mức độ là 0,75 điểm, cụ thể như sau:

- 0 ≤ ĐTB ≤ 0.75: Không khó khăn

- 0.75 < ĐTB ≤ 1.50: Khó khăn ít

- 1.50 < ĐTB ≤ 2.25: Khó khăn trung bình

- 2.25 < ĐTB ≤ 3.00: Rất khó khăn.

2.3. Thực trạng khó khăn tâm lý của cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Sự phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho đời sống vật chất, tinh thần của con người ngày càng được nâng cao, tuy nhiên, sự phát triển ấy cũng khiến cho đời sống tâm lý của con người bị tác động, ảnh hưởng rất lớn, đặc biệt là đối với trẻ em. Những tác động tiêu cực của xã hội hiện đại khiến cho trẻ dễ mắc phải các chứng bệnh về tâm lý, trong đó rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em là một chứng bệnh tâm lý điển hình. Tự kỷ không chỉ gây ra những khó khăn cho chính những đứa trẻ mắc phải chứng bệnh này mà nó còn gây ra những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về tâm lý cho cha mẹ của trẻ trong quá trình chăm sóc và giáo dục con mình.

Có khá nhiều nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đề cập đến những khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ. Các tác giả Tara Murphy & Kevin Tiemey (2005) chỉ ra rằng, cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ thường gặp phải những khó khăn trong việc tìm kiếm các thông tin về nguyên nhân, biểu hiện, các tiêu chí đánh giá và phương pháp can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ [7]. Nghiên cứu của Charnsil & Bathia (2010) đã đề cập đến yếu tố cảm xúc tiêu cực của cha mẹ trẻ tự kỷ, đặc biệt là chứng trầm cảm ổn định theo thời gian khiến cho cha mẹ trẻ tự kỷ luôn phải sống trong trạng thái tâm lý căng thẳng, ức chế [5]. Nghiên cứu của Michelle A M M van Tongerloo và các cộng sự (2014) cũng cho rằng, cha mẹ của trẻ gặp khó khăn trong việc giải tỏa các cảm xúc tiêu cực nảy sinh trong quá trình chăm sóc trẻ tự kỷ [6].

Tại Việt Nam, cũng có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về những khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ, đặc biệt là những khó khăn trong quá trình chăm sóc, giáo dục con bị tự kỷ. Nguyễn Thị Mai Lan (2013) cho rằng, cha mẹ có con bị tự kỷ thường gặp phải những khó khăn như: khó khăn trong quá trình chăm sóc sức khỏe, thăm khám, trị liệu cho con; khó khăn khi xin học cho con và dạy con học; khó khăn trong việc cho con vui chơi và giao tiếp với những đứa trẻ bình thường khác; khó khăn về kinh tế và khó khăn trong các mối quan hệ [1]. Nghiên cứu của Vũ Thu Trang (2015) cũng đề cập đến một số khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỷ như: khó khăn về nhận thức, tình cảm và khó khăn về hành vi trong ứng xử với trẻ tự kỷ và với những người xung quanh [4]. Lê Thị Phương Nga (2018) trong cuốn hồi kí “Đưa con trở lại thiên đường” đã đề cập đến những khó khăn trong quá trình chăm sóc đứa con bị tự kỷ của chính mình như: khó khăn khi người khác kỳ thị, đối xử không công bằng với con và với bản thân mình; khó khăn khi thiếu các kỹ năng, kiến thức về tự kỷ; khó khăn trong kiểm soát cảm xúc tiêu cực khi tiếp xúc với con... [3].

Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2019), trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước, đã khái quát khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỷ trên 5 khía cạnh: Khó khăn tâm lý trong việc giải tỏa cảm xúc tiêu cực; Khó khăn tâm lý trong việc đòi hỏi đối xử bình đẳng, tránh kỳ thị cho trẻ tự kỷ và cha mẹ trẻ tự kỷ; Khó khăn tâm lý thiếu kiến thức liên quan đến tự kỷ; Khó khăn tâm lý thiếu kỹ năng chăm sóc trẻ tự kỷ; Khó khăn tâm lý tiếp cận dịch vụ xã hội - giáo dục [2].

Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, mục tiêu mà chúng tôi hướng đến là ứng dụng liệu pháp nhận thức - hành vi trong việc hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ nhằm giúp cho họ giảm bớt những khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc, giáo dục con tự kỷ. Chính vì vậy, chúng tôi chỉ quan tâm đến những khó khăn tâm lý của cha mẹ ở các khía cạnh biểu hiện về nhận thức, cảm xúc và hành vi trong quá trình chăm sóc và giáo dục con bị tự kỷ. Do đó, cùng với việc kế thừa những kết quả nghiên cứu trên, kết hợp với xin ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Khó khăn tâm lý của cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ là những yếu tố tâm lý nảy sinh trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ bao gồm các biểu hiện cụ thể như: khó khăn trong nhận thức về chứng tự kỷ, khó khăn về cảm xúc khi con bị tự kỷ và khó khăn về kỹ năng chăm sóc, giáo dục con bị tự kỷ.

Trong đó, khó khăn trong nhận thức về chứng rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ thường được biểu hiện qua những vấn đề cơ bản như: Khó khăn trong việc nhận diện các biểu hiện của chứng tự kỷ; khó khăn trong việc hiểu đúng về các nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ; khó khăn trong việc tìm hiểu các cách thức chăm sóc trẻ tự kỷ; khó khăn trong việc tìm hiểu các cách thức giáo dục trẻ tự kỷ và khó khăn trong việc tìm hiểu các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho trẻ tự kỷ.

Khó khăn về cảm xúc của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ thường biểu hiện qua các cảm xúc tiêu cực như: Lo lắng, sợ hãi khi con mình bị tự kỷ; sự chán nản trong quá trình chăm sóc con bị tự kỷ; sự tự ti, mặc cảm khi người khác nhắc đến chứng bệnh của con mình; sự lo lắng về tương lai của con; và thường nễ nóng giận khi người khác nói về tình trạng của con mình.

Quảng cáo

Khó khăn về kỹ năng chăm sóc, giáo dục con bị tự kỷ thường biểu hiện ở các khía cạnh như: Khó khăn trong việc chăm sóc con tại nhà; khó khăn trong giao tiếp với con; khó khăn trong việc dạy con học tại nhà; khó khăn trong việc đánh giá sự phát triển của con; và khó khăn trong việc lựa chọn cũng như ứng dụng các phương pháp hỗ trợ và can thiệp cho con tại nhà.

Căn cứ vào các biểu hiện đã được xác định trên, kết hợp xin ý kiến chuyên gia, chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi và tiến hành khảo sát trên 81 cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ sau:

Biểu đồ 1: Thực trạng khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ

THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA CHA MẸ CÓ CON RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Từ kết quả nghiên cứu trong Biểu đồ 1 cho thấy, hầu hết cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ đều gặp phải các khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc, giáo dục con bị tự kỷ (ĐTB Chung = 2.23; ĐLC = 0.50). Trong đó, mức độ biểu hiện khó khăn cao nhất là là khó khăn về cảm xúc khi con bị tự kỷ (ĐTB = 2.28; ĐLC =0.40); thứ hai là khó khăn về hành vi chăm sóc, giáo dục con bị tự kỷ (ĐTB = 2.22; ĐLC = 0.89), mức độ biểu hiện khó khăn thấp nhất khó khăn trong nhận thức về chứng rối loạn phổ tự kỷ (ĐTB = 2.18; ĐLC = 0.69). Tiến hành phân tích các biểu hiện khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ ở các biểu hiện cụ thể, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Khó khăn trong nhận thức về chứng rối loạn phổ tự kỷ

Kết quả nghiên cứu khó khăn trong nhận thức về chứng rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1: Thực trạng khó khăn trong nhận thức về chứng rối loạn phổ tự kỷ

TT

Khó khăn trong nhận thức

ĐTB

ĐLC

1

Nhận diện các biểu hiện của chứng tự kỷ

2,01

0,94

2

Hiểu đúng về các nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ

1,93

0,91

3

Tìm hiểu các cách thức chăm sóc trẻ tự kỷ

2,17

0,81

4

Tìm hiểu các cách thức giáo dục trẻ tự kỷ

2,35

0,80

5

Tìm hiểu các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho trẻ tự kỷ

2,44

0,74

ĐTB Chung

2,18

0,69

Từ kết quả trong Bảng 1, cho thấy, các biểu hiện khó khăn trong nhận thức về chứng rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ trẻ đều ở mức độ khó khăn (ĐTB Chung = 2,18; ĐLC = 0,69). Trong đó, khó khăn trong việc tìm hiểu các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho trẻ tự kỷ (ĐTB = 2,44; ĐLC = 0,74) và khó khăn trong việc tìm hiểu các cách thức giáo dục trẻ tự kỷ (ĐTB = 2,35; ĐLC = 0,80), đây là biểu hiện ở mưc độ cao nhất (mức độ rất khó khăn) và thấp nhất là những khó khăn trong việc hiểu đúng về các nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ (ĐTB = 1,93; ĐLC = 0,91) nhưng vẫn ở mức độ khó khăn.

Kết quả nghiên cứu được lý giải đó là: Khi một đứa trẻ mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ sẽ có những biểu hiện không bình thường (về nhận thức, giao tiếp, hành vi…) so với những đứa trẻ khác, do đó, cha mẹ của trẻ sẽ gặp phải những khó khăn trong việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tự kỷ, đặc biệt là việc tìm hiểu các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho trẻ tự kỷ và tìm hiểu các cách thức giáo dục trẻ tự kỷ để có thể chăm sóc và giáo dục tốt cho con mình. Chỉ có một số ít người không gặp khó khăn khi con họ được chẩn đoán bị rối loạn phổ tự kỷ, đó là vì họ đã có những hiểu biết nhất định về chứng bệnh này và có thể biết cách tự tìm hiểu các phương pháp chăm sóc, giáo dục con.

Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn chị N (P. Tân Mai) được biết: từ khi con được chuẩn đoán tự kỷ, chị đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tự kỷ, đặc biệt là thông tin về các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho trẻ tự kỷ và các cách thức giáo dục trẻ tự kỷ. Chị đã tìm kiếm thông tin trên internet và dò hỏi ở những người có cùng hoàn cảnh, đồng thời cũng tìm đến các trung tâm chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ để nhờ tư vấn. Tuy nhiên ở mỗi nơi chị lại nhận được những câu trả lời khác nhau, càng khiến chị trở nên lo lắng và không biết làm cách nào để có thể giúp con vượt qua chứng bệnh này”.

Khó khăn về cảm xúc khi con bị rối loạn phổ tự kỷ

Kết quả nghiên cứu khó khăn về cảm xúc của cha mẹ khi con bị rối loạn phổ tự kỷ được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2: Thực trạng khó khăn về cảm xúc của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ

TT

Khó khăn về cảm xúc

ĐTB

ĐLC

1

Sự nóng giận khi người khác nói về tình trạng của con

2,58

0,49

2

Sự mặc cảm, tự ti và tội lỗi khi con bị tự kỷ

2,30

0,45

3

Tâm trạng chán nản khi chăm sóc con bị tự kỷ

2,25

0,43

4

Giảm hứng thú với mọi thứ khi nghĩ đến tình trạng của con mình

2,16

0,36

5

Kiểm soát sự lo lắng về tương lai của con

2,11

0,92

ĐTB Chung

2,28

0,39

Từ kết quả trong Bảng 2, cho thấy, các biểu hiện khó khăn về cảm xúc của cha mẹ chứng rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ trẻ đều ở mức độ khó khăn (ĐTB Chung = 2,28; ĐLC = 0,39). Các biểu hiện cụ thể đều ở mức độ khó khăn và rất khó khăn. Trong đó, có 02 biểu hiện ở mức độ rất khó khăn đó là kiểm soát sự nóng giận khi người khác nói về tình trạng của con (ĐTB = 2,58; ĐLC = 0.47) kiểm soát sự mặc cảm, tự ti và tội lỗi khi con bị tự kỷ (ĐTB = 2,30; ĐLC = 0.46). Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, một chuyên gia chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ cho biết: Thực tế làm việc với cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ, chúng tôi nhận thấy, khi con mình được chẩn đoán mắc phải chứng rối loạn phổ tự kỷ, hầu hết ở các cha mẹ đều xuất hiện các cảm xúc tiêu cực, đặc biệt là họ rất khó kiểm soát được trạng thái cảm xúc của bản thân, họ sẵn sàng nổi nóng khi nghe được người khác bàn tán về tình trạng của con mình. Nhiều cha mẹ cảm thấy mặc cảm, tự ti, thậm chí là có cảm giác tội lỗi vì cho rằng bản thân đã không chăm sóc tốt cho con nên đã làm cho con bị tự kỷ. Cũng có nhiều người thể hiện sự chán nản trong quá trình chăm sóc con vì cảm thấy mặc dù mình đã cố gắng hết sức để chăm sóc, giao tiếp và tương tác với con nhưng mãi không nhìn thấy được sự tiến bộ của con. Chính từ những trạng thái cảm xúc đó đã làm cho nhiều cha mẹ cảm thấy giảm hứng thú với mọi thứ xung quanh như công việc, các mối quan hệ xã hội…vì trong suy nghĩ của họ lúc nào cũng chỉ thường trực có sự lo lắng về tương lai của con mình (ThS N.T.M, Trung tâm tự kỷ HĐ, Biên Hòa).

Như vậy, có thể nói, khi con được chẩn đoán bị rối loạn phổ tự kỷ, ở cha mẹ sẽ xuất hiện những biểu hiện khó khăn tâm lý về cảm xúc, thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau nhưng chủ yếu theo hướng tiêu cực như sự nóng giận, sự mặc cmar, tự ti, cảm giác tội lỗi, sự lo lắng hay giảm hứng thú…Do đó, ở họ xuất hiện nhu cầu được hỗ trợ tâm lý bởi các nhà chuyên môn để giúp họ có thể kiểm soát, vượt qua được những khó khăn tâm lý khi con bị rối loạn phổ tự kỷ, giúp họ nhận thức tốt hơn về chứng tự kỷ và hướng dẫn họ các phương pháp, cách thức để họ có thể đồng hành cùng con vượt qua chứng rối loạn phổ tự kỷ.

Khó khăn về hành vi chăm sóc, giáo dục con bị rối loạn phổ tự kỷ

Khảo sát về hành vi trong quá trình chăm sóc, giáo dục con của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ, chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3: Thực trạng khó khăn về hành vi trong quá trình chăm sóc, giáo dục con của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ

TT

Khó khăn về hành vi

ĐTB

ĐLC

1

Khó khăn trong việc chăm sóc con tại nhà

2,06

0,95

2

Khó khăn trong giao tiếp với con

2,32

0,89

3

Khó khăn trong việc dạy con học tại nhà

2,40

0,80

4

Khó khăn trong việc đánh giá sự phát triển của con

2,00

0,96

5

Khó khăn trong việc lựa chọn và ứng dụng các phương pháp hỗ trợ và can thiệp cho con tại nhà

2,32

0,85

ĐTB Chung

2,22

0,74

Từ kết quả trong Bảng 3, cho thấy, các biểu hiện khó khăn về hành vi trong quá trình chăm sóc, giáo dục con của cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ cũng đều ở mức độ khó khăn (ĐTB Chung = 2,22; ĐLC = 0,74). Các biểu hiện cụ thể cũng đều ở mức độ khó khăn và rất khó khăn. Trong đó, có 03 biểu hiện ở mức độ rất khó khăn đó là khó khăn trong việc dạy con học tại nhà (ĐTB = 2,40; ĐLC = 0,80); khó khăn trong giao tiếp với con (ĐTB = 2,32; ĐLC = 0,89) và khó khăn trong việc lựa chọn, ứng dụng các phương pháp hỗ trợ và can thiệp cho con tại nhà (ĐTB = 2,32; ĐLC = 0,85). Thực tế cho thấy, một đứa trẻ mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ sẽ có những biểu hiện không bình thường cả về nhận thức, giao tiếp, hành vi…, làm cho cha mẹ của trẻ sẽ gặp phải những khó khăn rất lớn trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ, đặc biệt là những khó khăn trong việc dạy con học tại nhà, trong quá trình giao tiếp với con cũng như những khó khăn trong việc lựa chọn và ứng dụng các phương pháp hỗ trợ và can thiệp cho con tại nhà. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, một người mẹ có con bị tự kỷ cho biết: “Khi biết con mình bị tự kỷ, chị đã tìm hiểu các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cũng như chăm sóc trẻ tự kỷ bằng cách tìm đọc các tài liệu trên internet và hỏi những người xung quanh. Tuy nhiên chị vẫn không biết làm cách nào để có thể dạy con đúng cách, cũng như giao tiếp với con một cách hiệu quả. Hơn nữa khi tìm hiểu thì thấy có rất nhiều các phương pháp can thiệp khác nhau nên chị cũng không biết phải áp dụng phương pháp nào cho phù hợp với tình trạng của con mình” (Chị P.T.Q.., P. An Bình).

Để hiểu rõ hơn về thực trạng này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu một chuyên gia tâm lý có thời gian khá dài trong việc tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ có con bị rối loạn phổ tự kỷ, được biết: “Thông thường, cha mẹ trẻ tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc, giáo dục con, bởi những đứa trẻ tự kỷ thường có những biểu hiện khác thường so với những đứa trẻ khác về nhận thức, giao tiếp, hành vi, … chẳng hạn như: khả năng nhận biết hạn chế hơn, thu mình, ít giao tiếp, hành vi hiếu động, khả năng chú ý kém, không hợp tác, tăng động…Do đó, cha mẹ sẽ rất khó có thể giao tiếp bình thường với trẻ, khó dạy cho trẻ học. Thêm nữa, những phương pháp can thiệp trẻ tự kỷ rất phong phú và không có một phương pháp chung, cụ thể để can thiệp cho tất cả trẻ tự kỷ mà cần phải căn cứ vào những dạng rối loạn cụ thể mới có thể áp dụng, việc này nên được thực hiện bởi các chuyên gia. Do đó, cha mẹ trẻ tự kỷ gặp phải khó khăn trong việc lựa chọn các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho con cũng là điều dễ hiểu” (ThS T.P, Trung tâm tâm lý học ứng dụng HĐ, Biên Hòa).

  1. Kết luận

Kết quả khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý của 81 cha mẹ có con tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cho thấy, đa số cha mẹ có con tự kỷ đều gặp phải những biểu hiện khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ như: Khó khăn trong việc tìm hiểu các phương pháp hỗ trợ, can thiệp cho trẻ tự kỷ; khó khăn trong việc tìm hiểu cách thức chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ; khó khăn trong việc nhận diện các biểu hiện và hiểu đúng về nguyên nhân gây ra tự kỷ; khó khăn trong việc kiểm soát sự nóng giận khi người khác nói về tình trạng của con; Tâm trạng chán nản khi chăm sóc con tự kỷ, mặc cảm, tự ti và tội lỗi khi con bị tự kỷ; Những khó khăn trong việc chăm sóc, giao tiếp, dạy học cho con tại nhà..., các nội dung biểu hiện trên đều ở mức độ khó khăn (mức độ cần phải có sự can thiệp và hỗ trợ từ phía những nhà tâm lý để cha mẹ có thể giải quyết những khó khăn ấy). Từ kết quả nghiên cứu này đã đặt ra vấn đề là các trung tâm tâm lý, trung tâm chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ tại thành phố Biên Hòa, tình Đồng Nai cần phải tiến hành các hoạt động hỗ trợ, tham vấn tâm lý nhằm giúp cha mẹ có con tự kỷ ứng phó kịp thời và có hiệu quả khi gặp phải những khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc và giáo dục con tự kỷ.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thị Mai Lan, (2013), Trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay, một vài lý luận và thực tiễn, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

  2. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2019), Nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỷ, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Học viện khoa học xã hội.

  3. Lê Thị Phương Nga (2018), Đưa con trở lại thiên đường, NXB Phụ nữ, Hà Nội.

  4. Vũ Thu Trang (2015), Khó khăn tâm lý của cha mẹ có con tự kỷ, Tạp chí tâm lý học số tháng 12 (2015).

  5. Charnsil, C., and Bathia, N. (2010). Prevalence of depressive disorders among caregivers of children with autism in Thailand. Asian J. Psychiatr 11.

  6. Michele A M M van Tongerloo, Patricia J M van Wijingaarden, Rutger Jan van der Gaag, Antoine L M Lagro-Janssen (2014), Raising a child with an Autism Spectrum Disorder: ‘If this were a partner relationship, I would have quit ages ago, Family Practice, Volume 32, Issue 1.

  7. Tara Murphy & Kevin Tiemey (2005), Parents of Children with Autistic Spectrum Disorders (ASD): A Survey of Information needs, Report to the National Council for Special Education Special Education Research Initiative.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.