THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY

05:25 | 16/09/2025
NGƯT.TS. Ninh Văn Bình - Giảng viên chính Trường ĐH Trà Vinh Tóm tắt: Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã và đang được tổ chức thực hiện từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở và trung học phổ thông ở tất cả các địa phương. Trong quá trình tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương đang nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn, bất cập. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện nội dung giáo dục địa ph

NGƯT.TS. Ninh Văn Bình -

Giảng viên chính Trường ĐH Trà Vinh

Tóm tắt: Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã và đang được tổ chức thực hiện từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở và trung học phổ thông ở tất cả các địa phương. Trong quá trình tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương đang nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn, bất cập. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, giáo dục địa phương, trường phổ thông.

Nhận bài: 11/9/2025; Biên tập: 15/9/2025; Duyệt đăng: 16/9/2025

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn bản sắc, giáo dục những giá trị sống tốt đẹp của quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ luôn được chú trọng. Bài học thành công của nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Phần Lan, Pháp, Nhật Bản,... cho thấy: Việc coi trọng và thường xuyên đưa nội dung các chủ đề về cuộc sống địa phương vào giảng dạy, chú trọng học qua trải nghiệm đã tạo nên những bước chuyển biến về môi trường học tập tích cực, hứng thú đối với người học.

Khi bàn về đổi mới giáo dục hiện nay, Nghị quyết 29 -NQ/TW ngày 4/11/2013 đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Tại Kết luận số 91- KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, Đảng yêu cầu “Tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới”. Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáo dục gắn với thực tiễn cuộc sống địa phương (Giáo dục địa phương) chính là hướng tiếp cận hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay một cách thiết thực nhất.

Đưa nội dung địa phương vào giảng dạy ở trường phổ thông với những hình thức khác nhau là một phương thức rèn luyện kỹ năng tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề của địa phương, ví như các chủ đề về Văn học địa phương, Địa lý địa phương, Lịch sử địa phương… Từ đó, tạo cho học sinh (HS) sự hứng thú trong học tập, rèn luyện kỹ năng sống, giáo dục trách nhiệm bản thân với cộng đồng địa phương, gắn lý thuyết với thực tiễn cuộc sống. Năm học 2024 - 2025 là năm học mà Chương trình GDPT 2018 đã được triển khai thực hiện trên quy mô toàn quốc cho tất cả các đối tượng học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là dịp cần phải nghiên cứu tổng kết, đánh giá nhìn nhận lại những ưu điểm và hạn chế của Chương trình để có giải pháp điều chỉnh, tiếp tục hoàn thiện nâng cao chất lượng, hiệu quả của Chương trình GDPT 2018 nói chung và từng môn học nói riêng, đặc biệt là về nội dung giáo dục địa phương. Điều này cho thấy nhận thức của các nhà quản lý giáo dục về tầm quan trọng của giáo dục địa phương trong nhà trường phổ thông là rất cần thiết và cấp bách.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Thực trạng về thực hiện nội dung giáo dục địa phương tại các trường phổ thông hiện nay

Giáo dục địa phương là môn học cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về văn hoá, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội… của địa phương; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của quê hương. Chương trình giáo dục địa phương đã được phê duyệt và áp dụng trong các cơ sở giáo dục. Ðến thời điểm hiện tại, cơ bản các địa phương đã hoàn thành việc biên soạn tài liệu theo lộ trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Riêng đối với tài liệu giáo dục địa phương các lớp 5, 9, 12 vẫn đang được địa phương hoàn thiện để tổ chức thẩm định. Tuy nhiên, quá trình biên soạn tài liệu Giáo dục địa phương đều phải được xác minh về quyền tác giả và có sự đồng ý của các tác giả hoặc nhà xuất bản sở hữu hình ảnh. Việc này đòi hỏi sự cẩn trọng và đầu tư về mặt thời gian, do ban biên soạn tài liệu cần phối hợp cùng các tác giả, nhà xuất bản nhằm đảm bảo tài liệu được biên soạn đúng quy định. Sở Giáo dục và Ðào tạo giao quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục trong việc phối hợp các nhà xuất bản in ấn theo nhu cầu của học sinh; xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, kế hoạch dạy học trong đó nội dung giáo dục địa phương được dạy lồng ghép, tích hợp cụ thể ở môn học, bài học. Giáo viên đã sử dụng hợp lý và có hiệu quả các thiết bị dạy học, trong đó chú trọng các loại hình như mô hình hiện vật, tranh lịch sử, ảnh, bản đồ, sơ đồ… Ðồng thời, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học để giúp học sinh tự tìm hiểu, tự khám phá; chú trọng rèn luyện cho học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới; tổ chức, hướng dẫn và tạo cơ hội cho học sinh thực hành, trải nghiệm, bảo đảm mục tiêu, yêu cầu cần đạt của môn học.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, thực hiện nội dung giáo dục địa phương, một số trường gặp khó khăn trong quản lý: Các trường học vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai nội dung giáo dục địa phương. Một số vấn đề khác như đào tạo giáo viên chưa đầy đủ về nội dung giáo dục địa phương, và mức độ quan tâm chưa đồng đều giữa các trường học. Trong đó, vì chưa có giáo viên được đào tạo để đảm nhiệm giảng dạy giáo dục địa phương, nên nhà trường dù đang thiếu giáo viên vẫn phải tăng cường thêm thầy cô các bộ môn liên quan kiêm nhiệm giảng dạy. Việc ban hành tài liệu giáo dục địa phương hàng năm còn chậm khiến nhà trường lúng túng trong việc thực hiện chương trình. Thầy cô phải tự tìm hiểu thêm rất nhiều nguồn tài liệu để bổ sung cho bài dạy thêm phong phú. Bên cạnh đó, một số chủ đề đòi hỏi học sinh được trải nghiệm, tham quan nhưng nhà trường không có kinh phí hỗ trợ tổ chức; giáo viên dạy tự bố trí sắp xếp kêu gọi xã hội hoá từ phía phụ huynh học sinh... Mặc dù chương trình đã được đưa vào thực hiện, vẫn còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý, cơ sở vật chất tại một số trường chưa đầy đủ để tổ chức các hoạt động GDĐP hiệu quả. Ngoài ra, việc thiếu đội ngũ giáo viên có chuyên môn về GDĐP cũng là một thách thức lớn.

Tóm lại, việc thực hiện nội dung giáo dục địa phương tại các trường phổ thông đã đạt được một số bước tiến, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần cải thiện để phát huy hiệu quả của chương trình giáo dục này.

2.2. Nguyên nhân khó khăn khi thực hiện nội dung giáo dục địa phương tại các trường phổ thông thành phố Trà Vinh, tỉnh trà Vinh

Việc triển khai nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) tại các trường phổ thông gặp một số khó khăn, bao gồm:

2.2.1. Khó khăn về cơ sở vật chất và tài liệu:

Thiếu hoặc chưa đầy đủ các phòng học bộ môn, phòng làm việc và trang thiết bị dạy học, gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động thực hành, trải nghiệm.

Tài liệu giáo dục địa phương có thể chưa được cung cấp đầy đủ và kịp thời cho giáo viên và học sinh, gây ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy và học tập.

Việc ban hành tài liệu GDĐP hàng năm còn chậm, gây lúng túng trong việc thực hiện chương trình.

Một số địa phương chưa in được tài liệu do vướng cơ chế, giáo viên phải dùng bản thảo lưu hành nội bộ.

2.2.2. Về đội ngũ giáo viên:

Thiếu giáo viên được đào tạo chuyên ngành để giảng dạy GDĐP, dẫn đến việc phải phân công giáo viên các môn khác kiêm nhiệm, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.

Năng lực của một số giáo viên chưa tương xứng với bằng cấp, chưa nỗ lực, sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu.

2.2.3. Về nội dung và hình thức tổ chức:

Khó khăn trong việc biên soạn tài liệu GDĐP, đặc biệt là thiếu đội ngũ tác giả có kinh nghiệm, am hiểu về địa phương và có khả năng viết sách.

Thiếu kinh phí cho việc biên soạn, thẩm định tài liệu GDĐP.

Việc nội dung GDĐP không được dạy theo tiết mà theo chủ đề, gây khó khăn cho cả giáo viên và học sinh.

Một số chủ đề đòi hỏi học sinh được trải nghiệm, tham quan nhưng nhà trường không có kinh phí hỗ trợ.

2.2.4. Về các yếu tố khác:

Việc học sinh còn ngại chuyển đổi số, một số phần mềm, ứng dụng triển khai chưa hiệu quả, người dân chưa thấy được lợi ích khi sử dụng, gây khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

Việc thu hút học sinh đến trường còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện địa lý tự nhiên, một số vùng nông thôn, nhu cầu gửi trẻ dưới 5 tuổi của phụ huynh chưa nhiều.

Những khó khăn này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, từ việc đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng giáo viên, hoàn thiện tài liệu, đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy và tăng cường sự tham gia của cộng đồng để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc triển khai nội dung GDĐP.

2.3. Một số giải pháp thực hiện nội dung giáo dục địa phương tại các trường phổ thông hiện nay

Giải pháp 1: Xây dưng̣ nội dung giáo dục địa phương phù hợp phù hợp với từng cấp học, môn học và đặc điểm địa phương.

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, việc tích hợp nội dung GDĐP có ý nghĩa sâu sắc và to lớn đối với sự phát triển toàn diện của học sinh. Nội dung GDĐP không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa và kinh tế của địa phương mình, mà còn giúp họ phát triển những phẩm chất và năng lực cốt lõi cần thiết để đối mặt với thách thức trong cuộc sống và học tập.

Mục tiêu chính của nội dung GDĐP là tạo điều kiện cho học sinh hiểu biết về nguồn gốc và quá trình hình thành của địa phương. Từ việc tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển, danh nhân văn hóa, di tích lịch sử đến việc tham gia vào các lễ hội truyền thống, học sinh có cơ hội trải nghiệm và tiếp xúc trực tiếp với những giá trị văn hóa độc đáo của địa phương mình. Điều này giúp họ phát triển sự tự hào và tôn trọng đối với nguồn cội của mình.

Không chỉ dừng lại ở khía cạnh văn hóa và lịch sử, nội dung GDĐP còn tập trung vào việc giúp học sinh hiểu về kinh tế và xã hội của địa phương. Tìm hiểu về thị trường lao động, các ngành nghề truyền thống, và tiềm năng kinh tế địa phương giúp học sinh nhận thức về các cơ hội và thách thức trong tương lai. Điều này có thể kích thích sự sáng tạo và định hướng nghề nghiệp cho họ.

Ngoài ra, nội dung giáo dục địa phương còn đóng góp vào việc xây dựng tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Thông qua việc áp dụng kiến thức địa phương vào việc giải quyết các vấn đề thực tế, học sinh có cơ hội phát triển kỹ năng sống và tư duy cần thiết cho cuộc sống hàng ngày.

Một khía cạnh quan trọng khác của nội dung GDĐP là việc xây dựng giá trị đạo đức và tư tưởng cho học sinh. Những giá trị này được hình thành dựa trên nền văn hóa, truyền thống và lịch sử địa phương, giúp học sinh hiểu về đạo đức và lòng yêu nước.

Trong việc tích hợp nội dung GDĐP vào quá trình dạy học, giáo viên đóng vai trò quan trọng. Việc vận dụng phương pháp giảng dạy tích hợp giúp học sinh kết nối kiến thức từ nhiều môn học với thực tế địa phương. Điều này đảm bảo rằng kiến thức không chỉ là khô khan trên giấy, mà còn có ý nghĩa và áp dụng được trong cuộc sống hàng ngày.

Mục tiêu của CTGDPT 2018 là đảm bảo rằng nội dung GDĐP được tích hợp một cách tốt trong cả hoạt động trải nghiệm và quá trình dạy học các môn học cụ thể. Mục tiêu này nhằm hỗ trợ giáo viên trong việc hiểu rõ và áp dụng đúng tư liệu phù hợp, cũng như sử dụng hiệu quả các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích hợp, nhằm thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh. Do đoa, nội dung GDĐP cho HS cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh và đáp ứng yêu cầu của CTGDPT 2018, trong việc tổ chức lồng ghép vào trong các môn học và hoạt động giáo dục.

Giải pháp 2: Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện đồ dùng dạy học và tài liệu phục vụ cho việc tổ chức giáo dục địa phương cho học sinh phổ thông

Để đảm bảo rằng họ có cơ hội phát triển toàn diện và bước chân vào thế giới học đầy tự tin, việc đảm bảo các điều kiện tổ chức giáo dục địa phương cho học sinh PT trở thành nhiệm vụ bất cứ không gì khác ngoài cốt lõi của việc xây dựng một nền giáo dục chất lượng.

Quảng cáo

Việc cải thiện cơ sở vật chất và phương tiện học tập là một phần không thể thiếu nhằm tạo lập môi trường học tập tốt về mặt vật chất, có đủ phòng học, bàn ghế, trang thiết bị giảng dạy cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc khơi dậy niềm hứng thú và tò mò của học sinh. Những tài liệu và phương tiện học tập đáp ứng mức độ phát triển tinh thần và thể chất của các em, tạo nền tảng cho sự khám phá và học hỏi.

Hợp tác chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội là cơ hội để huy động tài chính và nguồn lực hỗ trợ. Thông qua việc tương tác với các đối tượng này, chúng ta không chỉ đảm bảo nguồn lực cần thiết cho giáo dục mà còn thể hiện cam kết và tầm nhìn xây dựng một cộng đồng giáo dục bền vững. Qua việc hợp tác, cộng đồng địa phương có thể tham gia vào quá trình GDĐP cho HS, đảm bảo tính đa dạng và phản ánh đúng bản chất của cộng đồng.

Việc đào tạo và nâng cao năng lực cho giáo viên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện giải pháp này. Giáo viên cần được cung cấp kiến thức, kỹ năng và phương pháp giảng dạy phù hợp với mô hình GDĐP. Qua việc đào tạo, họ có cơ hội tiếp cận các phương pháp dạy học tiến bộ và nắm vững những kỹ năng mới để đảm bảo rằng họ có thể tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả nhất.

Trong việc nâng cao chất lượng GDĐP và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác, không thể không nhấn mạnh tầm quan trọng của CBQL và GV trong việc đảm bảo môi trường học tập tích cực cho học sinh. Để làm được điều này, CBQL và GV cần phải năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chấp nhận trách nhiệm. Điều này đòi hỏi họ phải có tầm nhìn chiến lược rõ ràng về việc xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDĐP cho học sinh.

Đối với CBQL nhà trường cần có kế hoạch bổ sung, nâng cấp, mua sắm mới cho CSVC hàng năm, đồng thời phải đảm bảo sự hiệu quả và tiết kiệm trong việc sử dụng nguồn tài chính. Việc tận dụng tối đa cơ sở vật chất và thiết bị dạy học hiện cho hoạt động GDĐP, cùng với việc chống thất thoát và lãng phí tài nguyên, là yếu tố không thể thiếu. Đồng thời, việc sử dụng nguồn kinh phí phải tuân theo nguyên tắc tài chính qui định và thực hiện một cách dân chủ và công khai.

Ngoài việc huy động nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước và học phí, việc xây dựng quỹ hoạt động từ nhiều nguồn khác nhau cũng là một phần quan trọng. Các nguồn này bao gồm quỹ Hội Cha mẹ học sinh, sự đóng góp từ nhà tài trợ, hỗ trợ từ chính quyền địa phương và cộng đồng. Việc huy động quỹ này không chỉ giúp đảm bảo nguồn tài chính ổn định mà còn thể hiện sự tham gia và cam kết của cả xã hội trong việc hỗ trợ, tham gia vào quá trình GDĐP cho học sinh.

Giải pháp 3: Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về tổ chức giáo dục địa phương

Việc đổi mới về giáo dục và áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học và giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, trong khi đó nội dung GDĐP bao gồm các hình ảnh và các biểu tượng cụ thể. Do đó, việc bồi dưỡng cho giáo viên trong việc sử dụng công nghệ giáo dục để tạo ra các tài liệu và hoạt động học tập hấp dẫn, phù hợp với nội dung GDĐP là hết sức cần thiết. Tạo cơ hội cho giáo viên thực hiện các hoạt động giảng dạy thực tế trong môi trường lớp học, đồng thời cung cấp phản hồi xây dựng là cách giúp họ ngày càng hoàn thiện.

Để thực hiện được những nội dung trên, trước hết cần thực hiện việc phân tích đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, khảo sát nhu cầu bồi dưỡng của GV. Từ đó, có cơ sở để lựa chọn các hình thức đào tạo và hướng dẫn phù hợp như thông qua các khóa đào tạo, hội thảo, và buổi tập huấn. Những khóa đào tạo này không chỉ giúp giáo viên tiếp cận kiến thức mới mà còn khuyến khích họ thử nghiệm trong thực tế giảng dạy.

Thực hành và phản hồi là bước quan trọng để giáo viên thấy rõ hơn về cách triển khai kiến thức trong lớp học. GV cần được cơ hội áp dụng những gì họ học được vào thực tế và nhận phản hồi từ đồng nghiệp hoặc chuyên gia. Thông qua hoạt động dự giờ và phân tích bài học sẽ giúp cho GV điều chỉnh và cải thiện phương pháp giảng dạy.

Để đảm bảo sự liên tục và bền vững trong quá trình tổ chức GDĐP cho HS, giáo viên cần thúc đẩy việc tự học và nghiên cứu. GV cần được khuyến khích và tạo điều kiện để tham gia vào các hoạt động chuyên môn, từ đó cập nhật kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp tục nâng cao năng lực của mình.

Bên cạnh đó, việc đánh giá là bước không thể thiếu, để đảm bảo hiệu quả của biện pháp, cần thường xuyên đánh giá và điều chỉnh để đảm bảo sự phù hợp với nội dung GDĐP và đáp ứng nhu cầu thực tế của học sinh.

Giài pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên trong tổ GDĐP cho học sinh đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện cho HS. Sự đầu tư thời gian, nỗ lực và tư duy sáng tạo từ cả giáo viên và người quản lý giáo dục là yếu tố quyết định trong việc xây dựng một môi trường học tập thú vị và phù hợp với địa phương, từ đó giúp HS phát triển tối đa tiềm năng của mình.

Giải pháp 4: Đảy mạnh sự phối hợp và huy động nguồn lực xã hội để hỗ trợ Giáo dục Địa phương

GDĐP cần sự tham gia của nhiều bên: Nội dung GDĐP liên quan đến nhiều lĩnh vực (lịch sử, văn hóa, địa lý, kinh tế, xã hội...) nên cần sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Nhưng nguồn lực nhà nước có hạn: Nguồn lực đầu tư cho GDĐP từ ngân sách nhà nước còn hạn chế, cần huy động thêm nguồn lực từ xã hội để đảm bảo chất lượng GDĐP tạo sự gắn kết giữa nhà trường và xã hội để phối hợp và huy động nguồn lực xã hội giúp tăng cường sự gắn kết giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, tạo môi trường giáo dục toàn diện cho học sinh.

Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc thực hiện GDĐP.

GDĐP cần sự tham gia của nhiều bên: Nội dung GDĐP liên quan đến nhiều lĩnh vực (lịch sử, văn hóa, địa lý, kinh tế, xã hội...) nên cần sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Nguồn lực nhà nước có hạn: Nguồn lực đầu tư cho GDĐP từ ngân sách nhà nước còn hạn chế, cần huy động thêm nguồn lực từ xã hội để đảm bảo chất lượng GDĐP.

Tạo sự gắn kết giữa nhà trường và xã hội: Sự phối hợp và huy động nguồn lực xã hội giúp tăng cường sự gắn kết giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, tạo môi trường giáo dục toàn diện cho học sinh.

Nâng cao nhận thức về GDĐP: Thông qua sự phối hợp và huy động nguồn lực, nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò, ý nghĩa của GDĐP trong việc giáo dục thế hệ trẻ.

Huy động các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để đầu tư cho GDĐP.

Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh.

Tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền về GDĐP để nâng cao nhận thức của cộng đồng.

Giải pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá đối với công tác giáo dục địa phương trong nhà trường

Để đảm bảo tính đa dạng và toàn diện trong việc kiểm tra và đánh giá, cần áp dụng nhiều hình thức khác nhau như kiểm tra đột xuất hoặc kiểm tra định kỳ theo kế hoạch. Bên cạnh đó, trong quá trình kiểm tra, đánh giá cần tuân theo các nguyên tắc gồm:

+ Đảm bảo tính kế hoạch: Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra và đánh giá cần phải thích hợp với điều kiện của nhà trường và được tích hợp vào kế hoạch tổng thể của trường.

+ Đảm bảo tính hiệu quả: Thời gian và nguồn lực tham gia trong quá trình kiểm tra và đánh giá cần phải được sắp xếp sao cho đạt được hiệu quả tối ưu.

+ Đảm bảo tính khách quan: Quá trình kiểm tra và đánh giá cần dựa trên các yếu tố và điều kiện thực tế, tránh ảnh hưởng của các yếu tố không liên quan.

+ Đảm bảo tính giáo dục: Trong quá trình nhận xét và đánh giá, cần phải đúng với khả năng thực tế của các cá nhân, đồng thời cung cấp động viên và hỗ trợ để tạo điều kiện cho họ có thể phát huy tối đa.

Quá trình kiểm tra cần được ghi nhận trong biên bản kiểm tra và các hồ sơ kiểm tra cần được lưu trữ để có thể tra cứu và theo dõi. Trong việc thực hiện kiểm tra và đánh giá, Hiệu trưởng có thể thực hiện trực tiếp hoặc giao nhiệm vụ cho Ban chỉ đạo có trách nhiệm tổ chức GDĐP cho học sinh. Ban chỉ đạo này cần được hình thành từ những người có uy tín, năng lực và kiến thức chuyên môn. Nhiệm vụ của họ bao gồm việc kiểm tra việc thực hiện GDĐP và đưa ra biện pháp giải quyết kịp thời đối với những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

Trong quá trình kiểm tra và đánh giá, cần xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực cụ thể để định tính hoặc định lượng kết quả. Khác với các hoạt động dạy học thông thường, nội dung giáo dục địa phương có tính đa dạng về hình thức tổ chức và môi trường hoạt động. Do đó, không tồn tại các chuẩn chung áp dụng cho tất cả các hoạt động. Khi xây dựng tiêu chí đánh giá, Ban chỉ đạo cần phải tùy thuộc vào mục đích cụ thể của từng hoạt động để xây dựng các tiêu chí đánh giá tương ứng. Điều này là cơ sở để thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả và rút ra kinh nghiệm.

Quá trình kiểm tra và đánh giá cần được tổng kết và kết hợp với việc đánh giá thi đua và khen thưởng theo các mức độ khác nhau. Sau đó, từ các kết quả thu được, cần rút ra bài học và kinh nghiệm. Điều này bao gồm việc kiểm tra việc thực hiện các công việc đã được nêu trong kế hoạch. Kết quả kiểm tra này chỉ ra những việc đã thực hiện và những việc chưa được thực hiện, đồng thời xác định nguyên nhân gây ra hiện trạng đó. Quá trình kiểm tra cũng so sánh kết quả đã đạt được với những kết quả đã được quan sát, kiểm tra. Mục đích của việc kiểm tra là đảm bảo rằng hoạt động GDĐP đang thực hiện đúng theo mục tiêu yêu cầu.

Đối với giáo viên, quá trình kiểm tra và đánh giá cụ thể hơn là kiểm tra kế hoạch thực hiện hoạt động GDĐP cho học sinh hàng tuần. Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm hàng tháng cũng cần được kiểm tra để đảm bảo lựa chọn nội dung hoạt động phù hợp với mục tiêu địa phương. Mục tiêu là tạo động lực kích thích cho hoạt động xây dựng nội dung giáo dục địa phương của giáo viên và học sinh.

3. Kết luận

Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng và nguyên nhân về quản lý hoạt động giáo dục địa phương cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12, bài viết đã đề xuất 5 giải pháp. Hệ thống các giải pháp đề xuất trong bài viết là có cơ sở khoa học, có tính thực tiễn và tính khả thi cao. Mỗi giải pháp đều có vị trí, vai trò và chức năng khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại hỗ trợ nhau. Vấn đề đặt ra là nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng trường trên địa bàn. Điều quan trọng hơn cả là sự năng động và tích cực của đội ngũ CBQL trường phổ thông trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện các giải pháp trên trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Giáo dục địa phương là một nhiệm vụ quan trọng, cần được sự quan tâm và đầu tư hơn nữa của các cấp lãnh đạo, các nhà trường và toàn xã hội. Tin rằng, với sự chung tay của tất cả mọi người, chương trình giáo dục địa phương sẽ ngày càng phát triển và đạt được những thành công lớn hơn.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2024). Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04.11.2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI5..

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Số: 5889/BGDĐT-GDTH V/v tăng cường công tác chỉ đạo về việc biên soạn, tổ chức dạy học, in và phát hành tài liệu giáo dục địa phương.

4. Bộ GD-ĐT (2024). Kỉ yếu hội nghị “Linh hoạt triển khai tổ chức dạy học nội dung giáo dục địa phương”.

5. Nguyễn Văn Hùng (2021). Giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới. NXB Đại học Sư phạm.

6. Nguyễn Ngọc Bích Trâm (2023). Quản lí hoạt động giáo dục địa phương cho học sinh các trường tiểu học ở Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tạp chí Thiết bị giáo dục: Quản lí giáo dục, 1(298), 145-147.

7. Nguyễn Thị Hạnh (2021). Tích hợp giáo dục địa phương vào chương trình tiểu học. NXB Đại học Sư phạm.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.