Quyền tiếp cận giáo dục tiểu học bắt buộc cho trẻ khuyết tật

23:41 | 07/06/2023
Bài viết đi từ việc phân tích chính sách quốc tế, quốc gia và những điều kiện, phương thức thực hiện đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ khuyết tật nói chung (tập trung vào trẻ khuyế tật tiểu học); một vài con số thực tế để thấy được những cố gắng, nỗ lực giáo dục đã đạt được trong những năm qua và những thách thức trong thời gian tới. Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị và cách thức giải quyết giáo dục tiểu học bắt buộc cho nhóm trẻ khuyết tật đặc biệt nặng và nặng.

Tóm tắt

Bài viết đi từ việc phân tích chính sách quốc tế, quốc gia và những điều kiện, phương thức thực hiện đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ khuyết tật nói chung (tập trung vào trẻ khuyế tật tiểu học); một vài con số thực tế để thấy được những cố gắng, nỗ lực giáo dục đã đạt được trong những năm qua và những thách thức trong thời gian tới. Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị và cách thức giải quyết giáo dục tiểu học bắt buộc cho nhóm trẻ khuyết tật đặc biệt nặng và nặng.

1. Các khái niệm và thuật ngữ

Trẻ em khuyết tật là trẻ em có những khiếm khuyết về cấu trúc, suy giảm về chức năng cơ thể dẫn tới những hạn chế trong các hoạt động cá nhân, xã hội và học tập. Đây là một trong những nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội vì những hạn chế trong tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và thường bị phân biệt đối xử, không được tham gia các hoạt động xã hội (UNICEF, 2018). Tuy nhiên, càng ngày thì quyền của trẻ em khuyết tật, trong đó quyền được tiếp cận giáo dục đã ngày càng được các quốc gia ghi nhận và cam kết thực hiện. Năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em được 196 quốc gia phê chuẩn; trong đó Điều 23 của Công ước quy định “đảm bảo rằng trẻ em khuyết tật được nhận sự giáo dục, đào tạo, các dịch vụ y tế và dịch vụ phục hồi chức năng… theo cách thức có lợi cho việc trẻ em có thể hòa nhập tối đa vào xã hội…”.

Tiếp cận giáo dục bao gồm việc tuyển sinh đúng độ tuổi và sự tiến bộ theo lịch trình của người học ở độ tuổi thích hợp; tình trạng đi học thường xuyên; kết quả học tập phù hợp với các tiêu chí thành tích quốc gia; môi trường học tập đủ an toàn cho việc học; và các cơ hội học tập được phân bổ công bằng (Lewin, 2015: 29). Hiểu một cách cơ bản, quyền tiếp cận giáo dục là quyền được học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân - là một trong những quyền quan trọng và cơ bản của con người (Thanh Giang, 2022).

Công bằng trong giáo dục: Chỉ mức độ mà ở đó sự tiếp cận giáo dục và cơ hội học tập cho trẻ em và người lớn là công bằng và phù hợp. Điều này hàm ý giảm sự chênh lệch, khác biệt dựa trên giới tính, nghèo đói, cư trú, dân tộc, ngôn ngữ và các đặc điểm khác.

Giáo dục chuyên biệt: Là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em có các dạng khuyết tật khác nhau vào các cơ sở giáo dục riêng. Đây là mô hình giáo dục xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật. Nó được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 11 tại các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một số nước châu Âu khác. Mỗi loại khuyết tật lại được chia thành những loại nặng nhẹ khác nhau (rất nặng, nặng, trung bình, nhẹ) được dạy trong những lớp học, những trường riêng theo những nội dung, phương pháp riêng tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân.

Giáo dục hòa nhập: Mô hình này lần đầu tiên xuất hiện ở một số nước châu Âu như Bắc Mỹ, New Zealand với ý tưởng tôn trọng giá trị và bình đẳng cho mọi người. Với mục tiêu giúp trẻ khuyết tật hòa nhập với cộng đồng, tư tưởng giáo dục hòa nhập sớm được cộng đồng quốc tế ủng hộ. Mô hình giáo dục hòa nhập tôn trọng tính đa dạng, nhu cầu và khả năng của mỗi trẻ khuyết tật. Trẻ được theo học trong các trường phổ thông ngay tại nơi sinh sống. Nội dung chương trình và phương pháp dạy học được điều chỉnh nhằm phát huy tối đa những khả năng của trẻ.

Quyền tiếp cận giáo dục tiểu học bắt buộc cho trẻ khuyết tật

Lãnh đạo Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục thăm, tặng quà cho trẻ khuyết tật tại Hải Phòng

2. Các văn bản luật và dưới luật liên quan đến tiếp cận giáo dục cho trẻ em khuyết tật

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách, chương trình nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em khuyết tật. Chính phủ Việt Nam cam kết tạo mọi điều kiện cần thiết để mọi công dân, trong đó bao gồm cả trẻ khuyết tật, đều được bình đẳng về cơ hội học tập và Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Sau khi phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào năm 1991. Đây được xem là văn bản pháp luật quốc gia đầu tiên của nước ta đề cập trực tiếp đến các quyền của trẻ em, trong đó có quyền được học tập của trẻ em khuyết tật như thể hiện trong Điều 6 của Luật “Trẻ em tàn tật, trẻ em có khuyết tật được Nhà nước và xã hội giúp đỡ trong việc điều trị, phục hồi chức năng để hòa nhập vào cuộc sống xã hội; được thu nhận và các trường, lớp đặc biệt”. Hiến pháp năm 1992 cũng lần đầu đề cập tới quyền học tập của trẻ em khuyết tật, cụ thể ở Điều 59 “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hóa và học nghề phù hợp”. Các văn bản pháp luật sau đó như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 2004), Luật Giáo dục (2009), Luật Người khuyết tật (2010), Luật Trẻ em (2016) lần lượt khẳng định và làm rõ hơn các quyền của trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Cụ thể, Điều 13, Luật Giáo dục (2019) nhấn mạnh về quyền bình đẳng được tiếp cận giáo dục của mọi công dân và ưu tiên phân bổ nguồn lực như giáo viên, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và ngân sách cho các trường, lớp dạy học sinh khuyết tật. Năm 2010, Quốc hội thông qua Luật Người khuyết tật - đây là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo quyền bình đẳng và cơ hội giáo dục đầy đủ cho người khuyết tật ở Việt Nam. Những quy định cụ thể về giáo dục đối với người khuyết tật được nói rõ hơn trong các điều từ Điều 27 đến Điều 32 của Luật này. Căn cứ Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Trẻ em năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1438/QĐ-TTg ngày 29 tháng 10 năm 2018 “Phê duyệt Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025”. Ngày 28 tháng 05 năm 2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1463/QĐ-BGDĐT về ban hành kế hoạch thực hiện “Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025”, bao gồm các nhiệm vụ liên quan tới khảo sát thực trạng và nghiên cứu các mô hình giáo dục phù hợp cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam; và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021 - 2030 trong đó phấn đấu đến năm 2030 xây dựng chương trình, sách giáo khoa cho trẻ em khuyết tật. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành các văn bản quy định về các chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục cho trẻ em khuyết tật như Nghị định số 86/2015/NĐ-CP và Nghị định số 81/2021/NĐ- CP có nội dung về miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em khuyết tật... Có thể nói rằng, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống khung pháp lý, các quy định pháp luật, chính sách khá chặt chẽ bảo đảm và thúc đẩy quyền của trẻ em khuyết tật trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó giáo dục luôn được xem là quyền cơ bản và quan trọng (UNICEF, 2018).

3. Các chính sách giáo dục hòa nhập

3.1. Ưu tiên trong nhập học và tuyển sinh

Ưu tiên trong nhập học: Trẻ khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung là 3.

Ưu tiên trong tuyển sinh: Đối với cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, trẻ khuyết tật được hưởng chế độ tuyển thẳng vào trung học phổ thông như đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú và học sinh là người dân tộc ít người.

3.2. Chính sách khi tham gia các chương trình giáo dục

3.2.1. Miễn giảm một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục.

Trẻ khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập: Người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học hoặc một số môn học, hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong kế hoạch giáo dục cá nhân.

Trẻ khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục chuyên biệt: Chương trình học phù hợp với từng dạng khuyết tật. Trường hợp trẻ không đáp ứng được chương trình thì người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong Kế hoạch giáo dục cá nhân.

3.2.2. Đánh giá kết quả học tập

Nguyên tắc đánh giá: Động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ của người học.

Đối với học sinh tiểu học:

+ Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hòa nhập: Đánh giá như đối với học sinh không khuyết tật có điều chỉnh yêu cầu hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.

+ Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt: Đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.

3.2.3. Xét lên lớp và cấp bằng tốt nghiệp

Đối với giáo dục phổ thông: Căn cứ kết quả học tập các môn học, hoạt động giáo dục của người khuyết tật trong từng chương trình giáo dục, người có thẩm quyền (người đứng đầu cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục) quyết định xác nhận hoặc cấp bằng tốt nghiệp hoàn thành chương trình tiểu học, cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

3.3. Chính sách ưu đãi đối với trẻ khuyết tật trong việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập

3.3.1. Đối tượng được miễn, giảm học phí

Đối tượng không phải đóng học phí:

Học sinh tiểu học.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên khuyết tật thuộc diện hộ nghèo hoặc cận nghèo.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.

3.3.2. Hỗ trợ chi phí học tập

Đối tượng: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông khuyết tật thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo.

Mức hỗ trợ: 100.000 đồng/học sinh/tháng để mua sách vở và đồ dùng khác.

Thời gian được hưởng: Theo thời gian học thực tế và không quá 09 tháng/năm học.

4. Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trẻ khuyết tật

Quyền tiếp cận giáo dục tiểu học bắt buộc cho trẻ khuyết tật

Lãnh đạo Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục gặp gỡ động viên cán bộ, giáo viên Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật tại Hải Phòng

4.1. Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trực tiếp giảng dạy, quản lý trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục chuyên biệt

Quảng cáo

4.1.1. Đối tượng áp dụng

Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trực tiếp giảng dạy, quản lý trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục chuyên biệt trong cơ sở giáo dục chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập;

Nhà giáo trực tiếp giảng dạy trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục chuyên biệt trong các cơ sở giáo dục khác.

4.1.2. Phụ cấp, trợ cấp được hưởng

Trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

Hỗ trợ 100% tiền học phí, phụ cấp đi lại, nhà ở và hỗ trợ tiền mua tài liệu học tập cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác tại các trường chuyên biệt khi được cử đi học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ.

Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học được nhà nước cấp kinh phí tạo điều kiện đi tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị trong nước mỗi năm ít nhất 1 lần..

4.1.3. Phụ cấp ưu đãi

Mức phụ cấp 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường, lớp dành cho trẻ khuyết tật.

4.1.4. Phụ cấp trách nhiệm và các chế độ khác

Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm 0,3 so với mức lương cơ sở.

Chính sách đối với nhà giáo trực tiếp giảng dạy, quản lý trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập: Phụ cấp ưu đãi giảng dạy trẻ khuyết tật = Tiền lương 01 giờ dạy của giáo viên x 0,2 x Tổng số giờ thực tế giảng dạy ở lớp có trẻ khuyết tật.

Được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu về giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.

Được tính giảm định mức giờ chuẩn hoặc trợ cấp giảng dạy tùy theo điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục. Giáo viên, giảng viên có thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục hòa nhập được khen thưởng.

5. Thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ khuyết tật

Báo cáo kết quả điều tra cấp quốc gia về người khuyết tật của Tổng cục Thống kê (2018) cho thấy, trẻ em khuyết tật ít có cơ hội tiếp cận trường học so với trẻ em không khuyết tật và sự chênh lệch này càng tăng lên ở các cấp học cao hơn.

Bảng 1. Tỷ lệ trẻ em, thanh thiếu niên khuyết tật hòa nhập ở các cơ sở giáo dục phổ thông

HS phổ thông

Tiểu học

THCS

THPT

Đúng độ tuổi (%)

Tổng (%)

Đúng độ tuổi (%)

Tổng (%)

Đúng độ tuổi (%)

Tổng (%)

Tổng học sinh

95,59

99

88,01

93,78

68,01

75,17

HS khuyết tật

81,69

88

67,43

74,68

33,56

39,35

HS không khuyết tật

96,05

100

88,59

94,32

68,65

75,83

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2018)

Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nêu rõ, “Đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở tiểu học là 99%, THCS là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.”. Trong khi tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học (97,3%) và THCS (92,1%) và trung học phổ thông (72%) của trẻ em và thanh thiếu niên không khuyết tật đang tiến rất gần với mục tiêu đặt ra thì con số này ở nhóm trẻ em và thanh thiếu niên có khuyết tật lại khá khiêm tốn.

So sánh tỷ lệ trẻ nam, nữ có khuyết tật tiếp cận với giáo dục cho thấy, không có sự khác biệt lớn ở cấp tiểu học. Tỷ lệ trẻ nữ có khuyết tật tiếp cận giáo dục giảm mạnh ở cấp THCS và THPT. Trẻ nữ có khuyết tật khó tiếp cận giáo dục ở các cấp học cao.

Trong số trẻ khuyết tật đang đi học, có tới 93,96% trẻ tham gia phương thức giáo dục hòa nhập; 6,04% trẻ tham gia phương thức giáo dục chuyên biệt. Số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo thu được từ các Sở Giáo dục và Đào tạo hằng năm cho thấy: Từ năm 2015 đến năm 2020, trong khi số lượng trẻ khuyết tật tham gia học hòa nhập tăng đều từng năm thì số lượng trẻ khuyết tật học tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt khá ổn định.

Như vậy, có thể thấy rằng: Số trẻ khuyết tật đi học và đi học đúng độ tuổi ở tất cả các cấp học ít hơn nhiều so với trẻ em không khuyết tật. Tình trạng chênh lệch về cơ hội đến trường càng đáng lo ngại hơn ở các cấp học cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trẻ khuyết tật nặng, đặc biệt nặng, trẻ khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt hoặc sinh sống ở những khu vực khó khăn và trẻ khuyết tật nữ là đối tượng khó tiếp cận giáo dục hơn. Có sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ trẻ khuyết tật tham gia các phương thức giáo dục khác nhau. Đến cuối năm 2020, mục tiêu 70% trẻ khuyết tật được đi học chưa đạt được.

Các cơ sở giáo dục vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu học tập của trẻ khuyết tật trong thực tiễn. Theo báo cáo về hỗ trợ người khuyết tật trong giai đoạn 2012 - 2020, cả nước chỉ có khoảng 2,9% trường có thiết kế phù hợp với trẻ em khuyết tật, 8,1% cơ sở giáo dục có lối đi riêng biệt dành cho người khuyết tật. Nhiều trường vẫn không có đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị phù hợp để cung cấp dịch vụ giáo dục cho trẻ em khuyết tật; giáo viên dạy và hỗ trợ trẻ em khuyết tật còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng; các thiết bị trợ giúp và tài liệu dạy và học cho học sinh khuyết tật hầu như rất ít (UNICEF, 2018). Gần ¾ trường học trên khắp cả nước thiếu giáo viên giảng dạy học sinh khuyết tật, chỉ có 14,1% giáo viên bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở được đào tạo để dạy cho học sinh khuyết tật (UNICEF Việt Nam, 2021). Tính đến tháng 12/2020, Việt Nam đã hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục cấp tỉnh và cấp huyện ở 20 tỉnh/thành phố; đã có 17 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập cấp tỉnh, và cấp huyện, 7 trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, 105 cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập. Trong số 105 trường chuyên biệt công lập dành cho trẻ khuyết tật, có tới 96 trường chuyên biệt cấp tiểu học, 3 trường chuyên biệt cấp THCS và chỉ có 03 trường liên cấp (cấp 1, cấp 2, cấp 3).

Về chương trình sách giáo khoa và học liệu dành cho trẻ khuyết tật, Báo cáo giám sát công tác giáo dục người khuyết tật của Ban Chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn chỉ rõ: 100% các cơ sở giáo dục công lập, có học sinh khuyết tật tham gia học tập, thiếu trang thiết bị và đồ dùng dạy học.

Về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên tham gia giáo dục trẻ khuyết tật, Luật Người khuyết tật 2010 chỉ rõ: Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật. Giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt được thực hiện trong trường hợp chưa đủ điều kiện để người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập. Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục người khuyết tật, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu giáo dục người khuyết tật.

Cùng với sự hạn chế về cơ sở hạ tầng, phương tiện, học liệu dạy học; thiếu ngân sách công dành cho giáo dục trẻ khuyết tật, thì thiếu giáo viên, nhân viên, cán bộ được đào tạo đầy đủ về giáo dục đặc biệt được xác định là khó khăn chính cản trở việc tiếp cận và công bằng giáo dục của trẻ khuyết tật. Vì thế, có thể thấy rằng, nếu không có những biện pháp và chính sách kịp thời trong thời gian tới thì hiện trạng thiếu giáo viên, nhân viên có chuyên môn dạy trẻ khuyết tật, là một thực tiễn mà ngành Giáo dục cần phải đối mặt.

6. Khuyến nghị

-Nhà nước cần rà soát và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp hơn với bối cảnh và đặc điểm của trẻ em khuyết tật ở nước ta. Ví dụ: Xây dựng và ban hành Thông tư về Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ và phát triển giáo dục hòa nhập.

-Xây dựng bộ dữ liệu quốc gia và địa phương về trẻ em khuyết tật với các dạng tật, mức độ khuyết tật, khả năng học tập... một cách có hệ thống làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách, chương trình hỗ trợ phù hợp hơn cho từng nhóm khuyết tật, từng địa phương và từng giai đoạn.

-Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cho giáo dục học sinh khuyết tật. Đảm bảo mọi sinh viên sư phạm đều được đào tạo các học phần cơ bản về giáo dục trẻ khuyết tật. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành mã ngành Đào tạo nhân viên Hỗ trợ giáo dục người khuyết tật, tuy nhiên, đây là mã ngành mới và hiện có ít cơ sở giáo dục tuyển sinh mã ngành này, vì thế, nhà nước cần có chế tài cụ thể để có thể cung cấp được nguồn nhân lực trong lĩnh vực này trong thời gian sớm nhất.

-Nâng cao nhận thức của gia đình và trẻ em khuyết tật về tầm quan trọng của giáo dục. Đặc biệt, các địa phương cần có chính sách, chương trình giúp trẻ em khuyết tật tăng tính tự tin và động lực đi học.

-Phối hợp với với Ủy ban nhân dân các tỉnh thúc đẩy thực hiện thống nhất chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo dạy người khuyết tật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng tinh thần Nghị định số 28/2012/NĐ-CP. Các địa phương và cơ sở giáo dục cần vận động và thu hút sự tham gia của các bên liên quan ở các cấp, lĩnh vực vào xây dựng và phát triển môi trường giáo dục thuận lợi và hiệu quả cho trẻ em khuyết tật.

-Riêng đối với việc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục tiểu học bắt buộc cho học sinh khuyết tật: 1) Tập trung vào nhóm trẻ khuyết tật nặng: Cần có mục tiêu khác biệt cho nhóm trẻ này và có chương trình chuyên biệt, cũng như tổ chức học tập theo nhóm nhỏ tại nhà, cộng đồng hoặc trường tiểu học chuyên biệt. 2) Nhà nước, địa phương cần có ngân sách riêng để hỗ trợ nhóm trẻ này.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Báo cáo quốc gia về giáo dục cho mọi người 2015.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Báo cáo phân tích ngành Giáo dục.

3. Nguyễn Thị Hoàng Yến và Đào Thị Bích Thủy (2016), “Giáo dục hòa nhập Việt Nam: Đánh giá từ việc thực thi chính sách”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, tr. 139 - 147.

4. Thanh Giang (2022), “Thúc đẩy quyền tiếp cận giáo dục”, Tạp chí Tuyên giáo (tuyengiao.vn)

5. Tổng cục Thống kê (2018), Điều tra quốc gia người khuyết tật năm 2016, NXB Thống kê, Hà Nội.

6. UNICEF (2018), Trẻ em khuyết tật ở Việt Nam: Kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật Việt Nam 2016 - 2017, Tổng cục Thống kê.

7. UNICEF Việt Nam (2021), “Mọi trẻ em đều có quyền tới trường và đi học”, www. unicef.org/vietnam/

8. Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (2019), Báo cáo kết quả công tác về người khuyết tật năm 2019 - Phương hướng, nhiệm vụ năm 2020.

9. Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (2020), Báo cáo kết quả thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 (Đề án 1019).

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.