QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

06:28 | 15/05/2026
ThS Vũ Hương Giang Giáo viên tiếng Anh, Trường THCS Lê Lợi, Hà Đông, Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh; phân tích thực trạng

ThS Vũ Hương Giang

Giáo viên tiếng Anh, Trường THCS Lê Lợi, Hà Đông, Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh; phân tích thực trạng năng lực số, công tác tổ chức, quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trường trung học cơ sở công lập ở Hà Nội hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù đội ngũ giáo viên tiếng Anh đã từng bước thích ứng với môi trường dạy học số, song vẫn còn những hạn chế về nhận thức, kỹ năng khai thác công nghệ, thiết kế học liệu số và quản lý hoạt động dạy học trên nền tảng số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất năm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.

Từ khóa: Quản lý giáo dục; năng lực số; giáo viên tiếng Anh; trung học cơ sở; chuyển đổi số; Hà Nội.

QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

1. Mở đầu

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (1). Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Đảng và Nhà nước ta xác định chuyển đổi số trong giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới phương thức quản trị và tổ chức dạy học. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/QĐ-TTg về “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Đối với giáo dục trung học cơ sở, giáo viên tiếng Anh là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc triển khai các phương pháp dạy học hiện đại, khai thác học liệu mở và ứng dụng công nghệ số trong dạy học ngoại ngữ. Thành phố Hà Nội hiện có hơn 600 trường trung học cơ sở công lập với hàng nghìn giáo viên tiếng Anh đang trực tiếp tham gia giảng dạy. Những năm gần đây, ngành giáo dục Thủ đô đã chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng số, triển khai các nền tảng học tập trực tuyến và tổ chức bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chất lượng và hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh vẫn còn những bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.

Từ thực tiễn đó, nghiên cứu vấn đề quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo hiện nay.

2. Những vấn đề lý luận, thực tiễn về quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Năng lực số “là khả năng sử dụng công nghệ số một cách thành thạo, an toàn, sáng tạo và có trách nhiệm trong học tập, làm việc và đời sống xã hội” (2). Năng lực số của giáo viên được hiểu là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng khai thác, sử dụng công nghệ số trong quản lý, tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá và phát triển chuyên môn nghề nghiệp. Đối với giáo viên tiếng Anh, năng lực số không chỉ bao gồm khả năng sử dụng công nghệ thông tin thông thường mà còn thể hiện ở việc thiết kế bài giảng điện tử, khai thác học liệu số, sử dụng trí tuệ nhân tạo, nền tảng học tập trực tuyến và các công cụ hỗ trợ phát triển kỹ năng ngoại ngữ cho học sinh.

Quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều hành, kiểm tra và đánh giá hoạt động bồi dưỡng để nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên. Nội dung quản lý bao gồm: xây dựng kế hoạch bồi dưỡng; tổ chức thực hiện; chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức bồi dưỡng; huy động nguồn lực; kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng và phát triển môi trường học tập số trong nhà trường.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” (3). Thực tiễn hiện nay cho thấy, việc triển khai chuyển đổi số trong giáo dục ở Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hầu hết các trường trung học cơ sở công lập đã được trang bị internet, phòng học thông minh, hệ thống quản lý học tập trực tuyến; tỷ lệ giáo viên sử dụng bài giảng điện tử và phần mềm hỗ trợ dạy học ngày càng tăng. Theo thống kê của ngành giáo dục Hà Nội, trên 90% giáo viên đã sử dụng nền tảng số trong quản lý và giảng dạy hiện nay. Tuy nhiên, mức độ khai thác công nghệ giữa các trường còn chưa đồng đều; nhiều giáo viên tiếng Anh còn hạn chế về kỹ năng thiết kế học liệu số, tổ chức lớp học trực tuyến và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học ngoại ngữ.

Bên cạnh đó, công tác quản lý bồi dưỡng năng lực số còn bộc lộ một số hạn chế như: “Nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi” (4), nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của năng lực số chưa đầy đủ; nội dung bồi dưỡng còn dàn trải, thiếu tính chuyên sâu; hình thức tổ chức bồi dưỡng chưa đa dạng; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng giáo dục chưa thật chặt chẽ; điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực phục vụ chuyển đổi số ở một số trường còn khó khăn. Đây là những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu và giải quyết đồng bộ trong thời gian tới.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Để nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định chất lượng và hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh. Thực tiễn cho thấy, nơi nào cấp ủy, ban giám hiệu, tổ chuyên môn và giáo viên nhận thức đúng vị trí, vai trò của chuyển đổi số thì ở đó hoạt động bồi dưỡng được triển khai đồng bộ, hiệu quả; ngược lại, nhận thức chưa đầy đủ sẽ dẫn đến biểu hiện hình thức, thiếu chủ động và chưa gắn với yêu cầu đổi mới giáo dục. Năng lực số của giáo viên tiếng Anh không chỉ là khả năng sử dụng công nghệ thông tin mà còn là năng lực khai thác, ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ quá trình dạy học ngoại ngữ như thiết kế học liệu số, tổ chức lớp học trực tuyến, kiểm tra đánh giá trên môi trường số và sử dụng các nền tảng hỗ trợ học tập. Vì vậy, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ, giải pháp: “Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện (5). Để thực hiện tốt giải pháp này, trước hết, các cấp quản lý giáo dục cần tăng cường tuyên truyền, quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số giáo dục, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ các nghị quyết, văn bản hướng dẫn của thành phố Hà Nội về chuyển đổi số, năng lực số trong giáo dục, đào tạo. Qua đó giúp cán bộ quản lý, giáo viên nhận thức rõ phát triển năng lực số là yêu cầu tất yếu của giáo dục hiện đại và là tiêu chí quan trọng trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên.

Ban giám hiệu các trường cần cụ thể hóa yêu cầu phát triển năng lực số trong kế hoạch năm học, chương trình công tác và tiêu chí đánh giá giáo viên; xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng cá nhân trong tổ chức và tham gia bồi dưỡng. Đồng thời, cần khắc phục nhận thức coi chuyển đổi số là nhiệm vụ riêng của bộ phận công nghệ thông tin hoặc hoạt động mang tính phong trào.

Đối với giáo viên tiếng Anh, cần phát huy vai trò chủ thể trong tự học, tự bồi dưỡng, chủ động tiếp cận công nghệ mới và đổi mới phương pháp dạy học. Tổ chuyên môn cần tăng cường sinh hoạt chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ giáo viên ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy ngoại ngữ.

Bên cạnh đó, cần gắn kết quả bồi dưỡng năng lực số với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thi đua, khen thưởng và đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao trách nhiệm, tạo động lực thúc đẩy giáo viên tích cực tham gia bồi dưỡng, góp phần xây dựng môi trường giáo dục số trong nhà trường hiện nay.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục đối với hoạt động bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Đây là giải pháp giữ vai trò định hướng, bảo đảm cho hoạt động bồi dưỡng năng lực số được triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong các nhà trường. Thực tiễn cho thấy, nơi nào cấp ủy, ban giám hiệu và cơ quan quản lý giáo dục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ thì ở đó hoạt động bồi dưỡng được tổ chức nền nếp, có chiều sâu và đạt kết quả thiết thực; ngược lại, nếu thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo sẽ dẫn đến tình trạng triển khai thiếu thống nhất, nội dung dàn trải, hiệu quả chưa cao.

Để thực hiện tốt giải pháp này, trước hết, các cơ quan quản lý giáo dục cần cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục về chuyển đổi số thành các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và nhà trường. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cần bảo đảm tính thống nhất giữa mục tiêu phát triển năng lực số với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới.

Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở cần đưa nội dung bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch năm học và chương trình công tác trọng tâm của nhà trường. Đồng thời, cần xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, chỉ tiêu và lộ trình thực hiện; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân trong tổ chức và quản lý hoạt động bồi dưỡng. Cùng với đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng năng lực số; kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập để điều chỉnh phù hợp. Quá trình đánh giá cần bảo đảm khách quan, thực chất, gắn với kết quả ứng dụng công nghệ số của giáo viên trong hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.

Tổ chuyên môn tiếng Anh cần phát huy vai trò tham mưu, hướng dẫn và tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng ứng dụng công nghệ số; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ giáo viên tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai dạy học trên môi trường số. Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng cơ chế động viên, khuyến khích giáo viên tích cực tham gia bồi dưỡng và đổi mới sáng tạo trong ứng dụng công nghệ số. Kịp thời biểu dương, nhân rộng những tập thể, cá nhân có cách làm hiệu quả; đồng thời chấn chỉnh biểu hiện hình thức, thiếu trách nhiệm trong triển khai thực hiện.

Quảng cáo

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục sẽ tạo cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh, góp phần thực hiện hiệu quả chuyển đổi số trong giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Đây là giải pháp trực tiếp nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và chuyển đổi số hiện nay. Thực tiễn cho thấy, nội dung và phương thức bồi dưỡng nếu chậm đổi mới, thiếu tính thực tiễn sẽ không tạo được động lực và khả năng vận dụng của giáo viên trong quá trình dạy học.

Để thực hiện tốt giải pháp này, cần xây dựng nội dung bồi dưỡng theo hướng thiết thực, hiện đại, bám sát yêu cầu dạy học ngoại ngữ trong môi trường số. Trọng tâm là bồi dưỡng kỹ năng thiết kế học liệu số, sử dụng nền tảng dạy học trực tuyến, khai thác trí tuệ nhân tạo, tổ chức kiểm tra, đánh giá trên môi trường số và ứng dụng công nghệ trong phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh.

Hình thức bồi dưỡng cần đa dạng, linh hoạt, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến; giữa bồi dưỡng tập trung với tự học, tự nghiên cứu có hướng dẫn. Đồng thời, cần phát huy hiệu quả sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu bài học, xây dựng cộng đồng học tập số nhằm tăng cường trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ giáo viên trong thực tiễn giảng dạy.

Các nhà trường cần đẩy mạnh ứng dụng hệ thống quản lý học tập (LMS), xây dựng kho học liệu số dùng chung và khai thác hiệu quả các nền tảng giáo dục mở phục vụ hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Quá trình tổ chức bồi dưỡng phải gắn lý luận với thực hành, lấy năng lực vận dụng công nghệ số trong dạy học làm thước đo đánh giá kết quả.

Bên cạnh đó, cần chú trọng đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng thực chất, khách quan; kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá theo sản phẩm và hiệu quả ứng dụng trong thực tiễn giảng dạy. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh, đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thời kỳ chuyển đổi số hiện nay.

Bốn là, phát huy vai trò của giáo viên tiếng Anh trong tự bồi dưỡng và lan tỏa năng lực số trong nhà trường

Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên tiếng Anh trong nâng cao năng lực số và thích ứng với môi trường giáo dục hiện đại. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, giáo viên không chỉ là đối tượng của hoạt động bồi dưỡng mà còn là chủ thể trực tiếp quyết định hiệu quả ứng dụng công nghệ số trong dạy học ngoại ngữ.

Để thực hiện tốt giải pháp này, mỗi giáo viên tiếng Anh cần chủ động xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực bản thân; tích cực cập nhật kiến thức, kỹ năng công nghệ mới, khai thác hiệu quả các nền tảng số và học liệu mở phục vụ giảng dạy. Trọng tâm là nâng cao năng lực thiết kế bài giảng điện tử, tổ chức lớp học trực tuyến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công cụ số trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Các nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tham gia các khóa học trực tuyến, diễn đàn chuyên môn và hoạt động trao đổi học thuật về đổi mới dạy học ngoại ngữ trong môi trường số. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên có năng lực công nghệ tốt trong hỗ trợ, hướng dẫn đồng nghiệp; xây dựng môi trường chia sẻ kinh nghiệm, học liệu và phương pháp dạy học số trong tổ chuyên môn.

Bên cạnh đó, cần gắn trách nhiệm tự bồi dưỡng năng lực số với đánh giá chuẩn nghề nghiệp, kết quả thi đua và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của giáo viên. Qua đó tạo động lực thúc đẩy giáo viên không ngừng học tập, đổi mới và nâng cao năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số giáo dục hiện nay.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Đây là giải pháp quan trọng nhằm huy động đồng bộ các nguồn lực tham gia quản lý và tổ chức bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh. Thực tiễn cho thấy, hoạt động bồi dưỡng chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường, tổ chuyên môn, gia đình, xã hội và các tổ chức liên quan.

Để thực hiện tốt giải pháp này, các cơ quan quản lý giáo dục cần tăng cường phối hợp với các trường đại học, cơ sở đào tạo giáo viên, trung tâm ngoại ngữ và doanh nghiệp công nghệ trong xây dựng chương trình, tổ chức tập huấn và hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho giáo viên tiếng Anh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong tuyên truyền, động viên giáo viên tích cực tham gia chuyển đổi số và tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp.

Các nhà trường cần chủ động huy động các nguồn lực xã hội hóa để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và hạ tầng công nghệ phục vụ hoạt động dạy học và bồi dưỡng giáo viên. Trong đó, ưu tiên xây dựng hệ thống internet ổn định, phòng học thông minh, kho học liệu số và các nền tảng hỗ trợ quản lý, giảng dạy ngoại ngữ. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa nhà trường với phụ huynh học sinh trong tạo lập môi trường học tập số, hỗ trợ giáo viên và học sinh khai thác hiệu quả công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Đồng thời, đẩy mạnh chia sẻ kinh nghiệm, liên kết chuyên môn giữa các trường nhằm hình thành mạng lưới hỗ trợ và cộng đồng học tập số cho giáo viên tiếng Anh trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng sẽ tạo điều kiện bảo đảm cả về cơ chế, nguồn lực và môi trường thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.

4. Kết luận

Quản lý bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục hiện nay. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và hội nhập quốc tế trong giáo dục. Thực tiễn cho thấy, mặc dù công tác quản lý bồi dưỡng năng lực số đã đạt được một số kết quả tích cực, song vẫn còn những hạn chế về nhận thức, nội dung, phương thức tổ chức và điều kiện bảo đảm thực hiện. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng cao nhận thức, tăng cường lãnh đạo, đổi mới nội dung và hình thức bồi dưỡng đến phát huy vai trò của giáo viên và sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục. Trong thời gian tới, ngành giáo dục Hà Nội cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ chế quản lý linh hoạt, hiện đại; chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh có phẩm chất, năng lực và kỹ năng số đáp ứng yêu cầu giáo dục thông minh, giáo dục mở và học tập suốt đời. Đây là cơ sở quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Thủ đô trong thời kỳ mới.

Chú thích:

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.379.

(2) Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT ngày 27/3/2026 ban hành Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, Hà Nội, tr.3.

(3), (4), (5) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, tr.1-2, 1, 4.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT ngày 27/3/2026 ban hành Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.

5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. UNESCO (2019), ICT Competency Framework for Teachers, UNESCO Publishing.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.