PHÁT TRIỂN TRÍ NHỚ NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN TẠI TRƯỜNG MẦM NON

05:42 | 19/04/2026
Tống Thị Khánh An, Nguyễn Ngọc Tuyền, Hà Thị Lưu Ly Trường Đại học Sài Gòn Email: [email protected] Tóm tắt: Phát triển trí nhớ ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục mầm non, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi - giai đoạn chuẩn bị cho trẻ bước vào bậc tiểu học. Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng giáo viên mầm non sử dụng các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ của trẻ qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại trường mầm non. Kết quả nghiên cứu

Tống Thị Khánh An, Nguyễn Ngọc Tuyền, Hà Thị Lưu Ly

Trường Đại học Sài Gòn

Email: [email protected]

Tóm tắt: Phát triển trí nhớ ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục mầm non, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi - giai đoạn chuẩn bị cho trẻ bước vào bậc tiểu học. Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng giáo viên mầm non sử dụng các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ của trẻ qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại trường mầm non. Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo viên đã sử dụng nhiều biện pháp để phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ nhưng hiệu quả các biện pháp vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học trong các cơ sở giáo dục mầm non.

Từ khóa: Giáo dục mầm non, trí nhớ ngôn ngữ, trẻ 5-6 tuổi, hoạt động kể chuyện, biện pháp.

Abstract: Developing verbal memory is one of the important tasks in early childhood education, especially for preschool children aged 5 to 6-a preparation stage for children entering primary school. This article presents the survey results on the current practices of early childhood teachers in using instructional measures to develop children's verbal memory through literature-based activities in preschools. The research findings show that although teachers have utilized various measures to foster children's verbal memory, the effectiveness of these measures remains limited. Based on these findings, the article proposes several directions to enhance the effectiveness of verbal memory development for preschool children aged 5 to 6 through literature-based activities in early childhood educational institutions.

Keywords: Early childhood education, verbal memory, 5-6 year-old children, storytelling activities, instructional strategies.

1. Đặt vấn đề

Giai đoạn 5-6 tuổi được xem là thời kỳ bản lề đối với sự phát triển ngôn ngữ và nhận thức, đặt nền tảng tất yếu cho việc chuyển giao sang bậc học tiểu học. Ở độ tuổi này, trí nhớ ngôn ngữ (TNNN) - khả năng ghi nhớ, lưu giữ và tái hiện thông tin ngôn ngữ đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành tư duy, phát triển giao tiếp và tiếp thu tri thức. Theo quan điểm của Baddeley (2003), trí nhớ làm việc đóng vai trò trung tâm trong quá trình xử lý và tiếp nhận các cấu trúc ngôn ngữ phức tạp. Đồng thời, Vygotsky (1978) cũng khẳng định ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ của tư duy, thúc đẩy sự phát triển nhận thức của trẻ thông qua các tương tác xã hội. Tại Việt Nam, đặc điểm tâm lý và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này đã được hệ thống hóa rõ nét trong các nghiên cứu về tâm lý học học đường (Nguyễn Xuân Thức, 2017). Trong giáo dục mầm non, hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, đặc biệt là kể chuyện, được xem là phương tiện hiệu quả nhất để phát triển TNNN. Thông qua việc nghe và kể lại, trẻ không chỉ mở rộng vốn từ mà còn nâng cao khả năng hiểu và diễn đạt ngôn ngữ nói (Isbell et al., 2004)). Hoạt động kể chuyện tương tác giúp trẻ hệ thống hóa nội dung, từ đó củng cố khả năng lưu giữ thông tin ngôn ngữ một cách bền vững (Mol et al., 2009). Bên cạnh đó, các tác động giáo dục dựa trên hoạt động kể chuyện còn góp phần phát triển năng lực tự sự và khả năng tổ chức ý tưởng mạch lạc cho trẻ (Nicolopoulou et al., 2021). Tuy nhiên, việc triển khai các biện pháp phát triển TNNN trong thực tế vẫn đối mặt với nhiều rào cản về phương pháp và hình thức tổ chức trong các cơ sở giáo dục mầm non (Justice & Pullen, 2003).

Để tìm hiểu thực trạng giáo viên mầm non (GVMN) trong việc sử dụng các biện pháp phát triển TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh, bài viết tiến hành khảo sát, đồng thời phân tích những thuận lợi và khó khăn mà GV gặp phải khi tổ chức hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các định hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển TNNN cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục ngôn ngữ trong bối cảnh hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát 123 GVMN đang trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các khu vực: xã Củ Chi, xã Nhà Bè, phường Gò Vấp, phường Bàn Cờ, phường Thủ Đức, phường Chợ Quán, phường Sài Gòn, phường Cầu Ông Lãnh và phường Bến Thành. Nghiên cứu được triển khai thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi, kết hợp với quan sát và trao đổi trực tiếp trong quá trình tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học nhằm tìm hiểu các biện pháp phát triển TNNN cho trẻ. Thời gian khảo sát được thực hiện trong 3 tháng, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2025, bao gồm các giai đoạn: xây dựng công cụ khảo sát, tiến hành điều tra bằng bảng hỏi, quan sát hoạt động giáo dục tại lớp, phỏng vấn sâu và thống kê, phân tích kết quả nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy một số nội dung đáng chú ý như sau:

2.1. Hình thức, biện pháp giáo viên mầm non sử dụng nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ trong hoạt động kể chuyện

2.1.1. Hình thức tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

a. Hình thức sử dụng phổ biến trong tổ chức hoạt động kể chuyện

Trong tổ chức hoạt động kể chuyện, GV sử dụng nhiều hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ phát triển TNNN cho trẻ, tuy nhiên vẫn có xu hướng tập trung vào một số hình thức quen thuộc. Trong đó, hình thức được sử dụng phổ biến nhất là kể chuyện theo tranh, hình ảnh, sách truyện với 88/123 GV lựa chọn (71,54%). Điều này cho thấy GV ưu tiên khai thác các phương tiện trực quan nhằm hỗ trợ trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện. Bên cạnh đó, hình thức kể chuyện bằng đồ dùng trực quan như rối, mô hình, sa bàn cũng được sử dụng khá phổ biến với 73 ý kiến (59,35%), thể hiện sự chú trọng đến việc kết hợp hình ảnh và hành động nhằm tăng cường khả năng ghi nhớ cho trẻ. Ngoài ra, hình thức đóng vai, đóng kịch được 45,53% GV lựa chọn, góp phần giúp trẻ nhập vai và ghi nhớ nội dung sâu sắc hơn thông qua trải nghiệm. Tuy nhiên, các hình thức mang tính phát triển cao vẫn chưa được khai thác tương xứng. Cụ thể, kể chuyện sáng tạo chỉ chiếm 33,33%, kể chuyện theo nhóm/cá nhân chiếm 26,02%, đặc biệt là kể chuyện kết hợp công nghệ chỉ chiếm 19,51%. Các hình thức như trò chơi ngôn ngữ hoặc tổ chức kể chuyện ở mọi lúc, mọi nơi còn có tỉ lệ thấp hơn (dưới 20%). Những số liệu này cho thấy mặc dù hình thức tổ chức đã có sự đa dạng nhất định nhưng vẫn thiên về các phương pháp truyền thống, trong khi các hình thức phát huy tính chủ động, sáng tạo và trải nghiệm của trẻ chưa được khai thác đầy đủ.

b. Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức

Xét về mức độ sử dụng các hình thức tổ chức, GV có xu hướng vận dụng linh hoạt nhiều cách khác nhau, trong đó nổi bật là các hình thức phân nhóm. Cụ thể, việc chia nhóm theo hứng thú và nhu cầu được sử dụng thường xuyên nhiều nhất với 73,17%, cho thấy GV đã bước đầu quan tâm đến đặc điểm cá nhân của trẻ trong quá trình tổ chức hoạt động. Gần tương đương là hình thức chia nhóm theo năng lực với 71,54%, phản ánh xu hướng cá thể hóa trong tổ chức hoạt động giáo dục. Trong khi đó, các hình thức dựa trên đồ dùng trực quan như chia nhóm cùng loại đồ dùng (70,73%) và khác loại đồ dùng (65,85%) cũng được sử dụng ở mức cao, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với hai hình thức trên. Điều này cho thấy GV vẫn chú trọng đến yếu tố trực quan nhưng chưa thực sự đa dạng hóa cách thức tổ chức. Nhìn chung, mặc dù các hình thức đều được sử dụng với tần suất khá thường xuyên, song sự chênh lệch giữa các lựa chọn không quá lớn, cho thấy GV có xu hướng vận dụng linh hoạt nhiều hình thức trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện. Tuy nhiên, cần tiếp tục xem xét mức độ hiệu quả của từng hình thức trong việc phát triển các cấp độ khác nhau của TNNN, từ đó có những điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động.

2.1.2. Biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ trong hoạt động kể chuyện

a. Sử dụng đồ dùng trực quan

Trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện, việc sử dụng các phương tiện trực quan như tranh ảnh, mô hình, rối… được GV vận dụng phổ biến nhằm hỗ trợ trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện. Kết quả khảo sát cho thấy có 94/123 ý kiến (chiếm 76,42%) cho thấy vai trò quan trọng của hình ảnh trong việc kích thích trí nhớ ngôn ngữ. Thông qua việc quan sát trực quan, trẻ dễ dàng liên kết giữa hình ảnh và ngôn ngữ, từ đó ghi nhớ nội dung câu chuyện một cách hiệu quả hơn.

b. Đàm thoại và đặt câu hỏi gợi mở

Đàm thoại kết hợp với hệ thống câu hỏi gợi mở sau khi kể chuyện là một trong những biện pháp sử dụng khá phổ biến được 66,67% GV sử dụng thường xuyên. Biện pháp này góp phần định hướng quá trình hồi tưởng của trẻ, giúp trẻ từng bước tái hiện lại nội dung câu chuyện một cách có hệ thống, đồng thời phát triển khả năng diễn đạt và tư duy ngôn ngữ.

c. Tổ chức cho trẻ kể lại câu chuyện

Việc tổ chức cho trẻ kể lại câu chuyện dưới nhiều hình thức khác nhau (kể cá nhân, kể theo nhóm, kể theo tranh…) được 64,23% GV áp dụng. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố trí nhớ ngôn ngữ, bởi quá trình tái hiện không chỉ giúp trẻ ghi nhớ sâu hơn mà còn góp phần rèn luyện kỹ năng diễn đạt và cấu trúc ngôn ngữ mạch lạc.

d. Đóng vai, đóng kịch

Hoạt động đóng vai, đóng kịch theo nội dung câu chuyện được 51,22% GV lựa chọn nhằm giúp trẻ nhập vai, ghi nhớ lời thoại và hành động nhân vật thông qua trải nghiệm thực tế. Biện pháp này không chỉ tăng hứng thú mà còn giúp trẻ ghi nhớ sâu sắc nội dung câu chuyện. Dù vậy, mức độ tổ chức chưa thường xuyên do phụ thuộc nhiều vào điều kiện không gian lớp học và thời gian chuẩn bị của GV.

e. Kể chuyện diễn cảm

Chiếm tỷ lệ 39,02%, biện pháp này dựa trên kỹ năng sư phạm của GV (giọng điệu, cử chỉ) để gây ấn tượng mạnh đến thính giác của trẻ. Việc nghe kể chuyện diễn cảm giúp trẻ cảm nhận nhịp điệu và ghi nhớ nội dung tốt hơn. Tuy nhiên, biện pháp này còn mang tính một chiều, giáo viên làm trung tâm, chưa phát huy tối đa tính chủ động tái hiện ngôn ngữ từ phía trẻ.

f. Khuyến khích trẻ kể chuyện sáng tạo

Đây là biện pháp mang tính phát triển tư duy nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp, chỉ đạt 29,27%. Việc khuyến khích trẻ thay đổi kết thúc truyện hoặc thêm thắt chi tiết mới giúp TNNN trở nên linh hoạt hơn. Số liệu khảo sát phản ánh thực trạng GV vẫn còn lúng túng hoặc chưa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện năng lực sáng tạo và vận dụng ngôn ngữ ở mức độ nâng cao cho trẻ.

g. Luyện tập, ôn lại trong các hoạt động khác

Việc lồng ghép nội dung câu chuyện vào các hoạt động khác nhằm củng cố và duy trì trí nhớ ngôn ngữ chỉ đạt 22,76%, cho thấy chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, việc ôn luyện thường xuyên trong các bối cảnh đa dạng có ý nghĩa quan trọng đối với việc ghi nhớ lâu dài và bền vững.

Quảng cáo

h. Nhận xét chung

Nhìn chung, các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ trong hoạt động kể chuyện hiện nay chủ yếu tập trung vào việc củng cố ghi nhớ và tái hiện nội dung thông qua các hình thức trực quan và tái kể. Trong khi đó, các biện pháp hướng tới phát triển ở mức độ cao hơn, như vận dụng linh hoạt và sáng tạo ngôn ngữ, vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh trong tổ chức hoạt động nhằm phát huy toàn diện năng lực ngôn ngữ của trẻ, đặc biệt là khả năng sáng tạo và vận dụng trong các tình huống đa dạng.

2.1.3. Mức độ sử dụng các biện pháp

Xét về mức độ sử dụng, các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ của GV trong hoạt động kể chuyện thể hiện sự phân hóa rõ rệt theo các cấp độ từ cơ bản đến nâng cao, phản ánh xu hướng ưu tiên khác nhau trong thực tiễn tổ chức hoạt động.

a. Nhóm biện pháp cơ bản

Các biện pháp thuộc nhóm cơ bản được triển khai với tần suất cao, phản ánh rõ định hướng ưu tiên của GV trong việc củng cố trí nhớ và khả năng hiểu nội dung câu chuyện của trẻ. Cụ thể, hoạt động đàm thoại về tên truyện và nhân vật đạt 91,06%, trong khi đàm thoại về hành động và tính cách nhân vật đạt 86,99%. Bên cạnh đó, các hình thức như trả lời câu hỏi liên quan đến nhân vật đạt 84,55% và kể lại nội dung theo trình tự đạt 79,67% cũng được sử dụng phổ biến. Những kết quả này cho thấy GV đặc biệt chú trọng đến việc giúp trẻ ghi nhớ, tái hiện và nắm bắt nội dung câu chuyện một cách có hệ thống, qua đó hình thành nền tảng ban đầu cho sự phát triển trí nhớ ngôn ngữ.

b. Nhóm biện pháp phát triển tư duy

So với nhóm biện pháp cơ bản, các biện pháp hướng tới phát triển tư duy có mức độ sử dụng thấp hơn rõ rệt. Cụ thể, hoạt động đánh giá và so sánh nhân vật đạt 66,67%, sơ đồ hóa nội dung câu chuyện đạt 57,72%, và vẽ lại nhân vật đạt 54,47%. Mặc dù các biện pháp này có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy phân tích, khả năng khái quát và tổ chức thông tin, song mức độ áp dụng còn hạn chế cho thấy GV chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của chúng trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện.

c. Nhóm biện pháp phát triển sáng tạo

Các biện pháp mang tính sáng tạo bước đầu đã được GV quan tâm, tuy nhiên mức độ khai thác vẫn chưa tương xứng với vai trò của chúng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ ở mức cao. Tỷ lệ GV sử dụng kể chuyện sáng tạo đạt 62,60% và đóng kịch đạt 61,79%, cho thấy đã có sự chú ý nhất định đến việc khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động mang tính trải nghiệm và sáng tạo. Tuy nhiên, biện pháp cải biên câu chuyện thành bài hát chỉ đạt 42,28%, đồng thời có tới 23,57% GV hoàn toàn không áp dụng. Điều này phản ánh thực tế rằng các hình thức phát triển ngôn ngữ gắn với tính sáng tạo, linh hoạt và tích hợp nghệ thuật vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

d. Nhận xét chung

Nhìn chung, sự khác biệt rõ rệt về mức độ sử dụng giữa các nhóm biện pháp cho thấy giáo viên hiện nay vẫn có xu hướng ưu tiên các phương pháp mang tính củng cố trí nhớ và tái hiện nội dung. Trong khi đó, các biện pháp hướng tới phát triển tư duy bậc cao và khả năng sáng tạo ngôn ngữ tuy đã được triển khai nhưng chưa thực sự được khai thác hiệu quả. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần có sự điều chỉnh trong việc tổ chức hoạt động kể chuyện theo hướng đa dạng hóa phương pháp nhằm phát huy toàn diện năng lực ngôn ngữ của trẻ, đặc biệt là khả năng vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong giao tiếp và biểu đạt.

2.1.4. Hiệu quả sử dụng các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện

Bảng 1: Hiệu quả các biện pháp GVMN sử dụng để phát triển TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

STT

Biện pháp

Tỷ lệ (%)

Hiệu quả đạt được

Hạn chế

1

Sử dụng đồ dùng trực quan (tranh, rối, mô hình)

94/123 (76,42%)

Giúp trẻ dễ ghi nhớ nội dung câu chuyện thông qua hình ảnh sinh động, tăng hứng thú.

Chủ yếu mang tính minh họa, ít khai thác sâu, hiệu quả ghi nhớ chưa bền vững.

2

Đàm thoại

82/123 (66,67%)

Củng cố trí nhớ, giúp trẻ nhớ nội dung câu chuyện, tên và hành động nhân vật.

Câu hỏi còn đơn giản, thiên về tái hiện, chưa phát triển tư duy và vận dụng.

3

Cho trẻ kể lại câu chuyện

79/123 (64,23%)

Rèn luyện khả năng tái hiện, diễn đạt nội dung câu chuyện.

Chủ yếu tập trung vào trẻ khá, trẻ yếu ít có cơ hội thực hành.

4

Tổ chức đóng vai, đóng kịch

63/123 (51,22%)

Tăng hứng thú, giúp trẻ nhập vai và ghi nhớ lời thoại, hành động nhân vật sâu hơn.

Chưa tổ chức thường xuyên, phụ thuộc vào điều kiện lớp học.

5

Kể chuyện diễn cảm

48/123 (39,02%)

Gây hứng thú, hỗ trợ trẻ cảm nhận và ghi nhớ nội dung tốt hơn.

Phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của GV, chưa phát huy tính chủ động của trẻ.

6

Khuyến khích kể chuyện sáng tạo

36/123 (29,27%)

Phát triển khả năng sáng tạo, tư duy và ghi nhớ linh hoạt.

Ít được sử dụng, GV còn hạn chế trong tổ chức

7

Thực hành luyện tập, trò chơi ngôn ngữ

28/123 (22,76%)

Củng cố trí nhớ lâu dài, giúp trẻ ghi nhớ tình tiết, nội dung câu chuyện.

Ít được chú trọng, chưa được sử dụng thường xuyên trong hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với TPVH

Từ kết quả khảo sát có thể nhận thấy GVMN đã vận dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm phát triển TNNN cho trẻ, tuy nhiên cách thức triển khai từng biện pháp vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Trước hết, biện pháp cho trẻ kể lại câu chuyện được sử dụng khá phổ biến (64,23%). Trong thực tiễn, GV thường tổ chức cho trẻ kể lại theo tranh, theo sách hoặc kết hợp với rối, mô hình nhằm hỗ trợ việc ghi nhớ nội dung. Tuy nhiên, hoạt động này chủ yếu tập trung vào một số trẻ có năng lực ngôn ngữ tốt và mạnh dạn tham gia, trong khi những trẻ yếu, nhút nhát hoặc chậm phát triển ngôn ngữ lại ít có cơ hội thực hành. Điều này dẫn đến việc một bộ phận trẻ chưa được rèn luyện thường xuyên, từ đó làm hạn chế hiệu quả phát triển TNNN.

Đối với biện pháp đàm thoại, đặt câu hỏi sau khi kể chuyện (66,67%), GVMN chủ yếu sử dụng các câu hỏi mang tính tái hiện như hỏi về tên truyện, nhân vật hoặc diễn biến chính. Mặc dù góp phần củng cố trí nhớ cho trẻ, song hệ thống câu hỏi còn tương đối đơn giản, ít mang tính gợi mở và mở rộng, chưa tạo điều kiện để trẻ suy nghĩ sâu, liên hệ thực tiễn hoặc diễn đạt theo cách riêng. Do đó, biện pháp này chưa thực sự phát huy hiệu quả trong việc phát triển TNNN ở mức độ cao.

Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan được áp dụng với tần suất cao nhất (76,42%), chủ yếu dưới dạng tranh, rối, mô hình. Những phương tiện này giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ nội dung thông qua hình ảnh sinh động và trực quan. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc sử dụng còn mang tính minh họa đơn thuần, chưa gắn với các hoạt động tương tác hoặc khai thác nội dung một cách sâu sắc, dẫn đến hiệu quả ghi nhớ chưa thực sự bền vững. Bên cạnh đó, các biện pháp như đóng vai, đóng kịch (51,22%) và kể chuyện diễn cảm (39,02%) tuy đã được triển khai nhưng chưa thường xuyên và chưa phát huy hết tiềm năng trong việc hỗ trợ ghi nhớ thông qua trải nghiệm và cảm xúc. Đặc biệt, các biện pháp mang tính phát triển cao như kể chuyện sáng tạo (29,27%) và luyện tập, ôn lại trong các hoạt động khác (22,76%) còn ít được sử dụng, khiến trẻ chưa có nhiều cơ hội vận dụng, mở rộng và phát triển TNNN ở mức độ cao hơn, như sáng tạo và liên kết nội dung. Như vậy, có thể thấy rằng GVMN hiện nay chủ yếu tập trung vào các biện pháp giúp trẻ ghi nhớ và tái hiện nội dung câu chuyện, trong khi việc tạo điều kiện cho tất cả trẻ tham gia cũng như phát triển TNNN ở các mức độ cao hơn vẫn còn hạn chế. Đây là vấn đề cần được quan tâm và điều chỉnh trong quá trình tổ chức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

2.2. Những khó khăn và thuận lợi của giáo viên trong hoạt động kể chuyện nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

2.2.1. Khó khăn

Từ kết quả khảo sát có thể nhận thấy GVMN gặp không ít khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Trước hết, khó khăn lớn nhất xuất phát từ sự không đồng đều về khả năng ngôn ngữ và trí nhớ của trẻ (82/123 ý kiến, chiếm 66,7%). Trong cùng một lớp, có trẻ tiếp thu nhanh, ghi nhớ tốt, nhưng cũng có trẻ chậm nói, mau quên hoặc khả năng diễn đạt còn hạn chế. Sự chênh lệch này khiến GV gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp tổ chức cũng như hỗ trợ từng cá nhân một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, việc duy trì sự chú ý và hứng thú của trẻ (78/123 ý kiến, chiếm 63,4%) cũng là một thách thức đáng kể. Nhiều trẻ dễ mất tập trung, nhanh chán nếu hình thức tổ chức chưa hấp dẫn hoặc thời lượng kể chuyện kéo dài. Thậm chí, một số trẻ hiếu động, làm việc riêng, gây ảnh hưởng đến tiến trình hoạt động chung của lớp, từ đó làm gián đoạn quá trình tiếp nhận và ghi nhớ ngôn ngữ. Một khó khăn khác liên quan đến điều kiện tổ chức hoạt động, cụ thể là hạn chế về thời gian và sĩ số lớp đông (65/123 ý kiến, chiếm 52,8%). Với thời lượng tiết học có hạn, GV khó tạo điều kiện cho tất cả trẻ được tham gia kể chuyện, đồng thời gặp khó khăn trong việc theo dõi, uốn nắn và hỗ trợ từng cá nhân. Điều này làm giảm hiệu quả rèn luyện TNNN cho trẻ. Ngoài ra, điều kiện về đồ dùng trực quan và học liệu (60/123 ý kiến, chiếm 48,8%) cũng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Nhiều GV cho biết tranh truyện, rối, mô hình còn hạn chế hoặc chưa đủ hấp dẫn, trong khi việc tự làm đồ dùng dạy học đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Điều này phần nào ảnh hưởng đến việc tạo hứng thú cũng như hỗ trợ trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện một cách hiệu quả. Không chỉ vậy, khó khăn trong việc đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động (52/123 ý kiến, chiếm 42,3%) cũng được ghi nhận. Việc thiết kế các hoạt động đa dạng như đóng kịch, kể chuyện sáng tạo hay ứng dụng công nghệ đòi hỏi sự đầu tư, sáng tạo và năng lực chuyên môn, trong khi không phải GV nào cũng có đủ điều kiện và kinh nghiệm để triển khai hiệu quả. Bên cạnh đó, việc đánh giá sự phát triển TNNN của trẻ (45/123 ý kiến, chiếm 36,6%) vẫn còn nhiều hạn chế. Hoạt động đánh giá hiện nay chủ yếu mang tính định tính, thiếu công cụ cụ thể, trong khi sĩ số lớp đông khiến việc quan sát và theo dõi sự tiến bộ của từng trẻ gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng, một số yếu tố khác như sự phối hợp với phụ huynh chưa hiệu quả (30/123 ý kiến, chiếm 24,4%) và một số hạn chế về kỹ năng sư phạm của GV (22,8%) cũng góp phần làm giảm hiệu quả tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển TNNN cho trẻ.

2.2.2. Thuận lợi

Bên cạnh những khó khăn, GV cũng nhận thấy nhiều thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển TNNN cho trẻ. Trước hết, đặc điểm phát triển của trẻ ở độ tuổi này được xem là một lợi thế nổi bật, với 95/123 ý kiến (chiếm 77,2%) cho rằng trẻ có khả năng ghi nhớ tốt hơn, vốn từ tương đối phong phú và bước đầu hình thành khả năng diễn đạt mạch lạc. Đây là cơ sở quan trọng giúp trẻ tiếp nhận và tái hiện nội dung câu chuyện một cách hiệu quả. Đáng chú ý, có đến 102/123 GV (82,9%) nhận định rằng trẻ thể hiện sự hứng thú rõ rệt đối với hoạt động kể chuyện; trẻ không chỉ thích nghe mà còn tích cực kể lại và tham gia nhập vai nhân vật. Sự hứng thú này đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích nhu cầu giao tiếp, qua đó giúp trẻ tiếp nhận và ghi nhớ nội dung câu chuyện một cách tự nhiên và sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, Chương trình Giáo dục mầm non hiện hành cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động kể chuyện. Có 80/123 ý kiến (65%) đánh giá rằng chương trình có định hướng rõ ràng về phát triển ngôn ngữ, với hệ thống truyện phong phú, phù hợp với độ tuổi và được lồng ghép linh hoạt trong các hoạt động học và chơi, từ đó giúp GV thuận lợi hơn trong việc lựa chọn nội dung và tổ chức hoạt động. Ngoài ra, sự phát triển của học liệu và công nghệ cũng góp phần hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động này, được 72/123 GV (58,5%) ghi nhận. Các phương tiện như tranh truyện, rối, mô hình, kết hợp với bài giảng điện tử và video minh họa không chỉ làm tăng tính sinh động mà còn giúp trẻ ghi nhớ nội dung thông qua nhiều kênh giác quan khác nhau, qua đó nâng cao hiệu quả tiếp nhận ngôn ngữ. Một thuận lợi khác đến từ chính năng lực và kinh nghiệm của GV. Có 68/123 ý kiến (55,3%) cho rằng GV đã được đào tạo chuyên môn, có kỹ năng kể chuyện diễn cảm và biết linh hoạt đổi mới các hình thức tổ chức như kể chuyện sáng tạo, đóng kịch, kể theo tranh…, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phát triển TNNN cho trẻ. Cuối cùng, sự hỗ trợ từ nhà trường, đồng nghiệp và phụ huynh cũng đóng vai trò tích cực, với 60/123 ý kiến (48,8%) đề cập. Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất và môi trường giáo dục, đồng nghiệp hỗ trợ về chuyên môn, trong khi phụ huynh ngày càng quan tâm đến việc đọc và kể chuyện cho trẻ tại nhà. Sự phối hợp này góp phần hình thành môi trường ngôn ngữ phong phú, liên tục và hiệu quả đối với sự phát triển TNNN của trẻ.

3. Kết luận

Phát triển TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học là một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hình thành nền tảng nhận thức và ngôn ngữ vững chắc, giúp trẻ tự tin bước vào bậc tiểu học. Kết quả khảo sát thực trạng tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, phần lớn GV đã nhận thức được vai trò của hoạt động này và bước đầu vận dụng đa dạng các hình thức, biện pháp tổ chức như sử dụng đồ dùng trực quan, đàm thoại và khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện. Quá trình triển khai cũng nhận được nhiều điều kiện thuận lợi, đặc biệt là sự hứng thú tự nhiên của trẻ đối với hoạt động kể chuyện cùng với định hướng rõ ràng từ chương trình giáo dục hiện hành. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức hoạt động vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Các biện pháp được sử dụng phổ biến hiện nay chủ yếu dừng lại ở việc hỗ trợ trẻ ghi nhớ và tái hiện nội dung ở mức độ bề mặt. Trong khi đó, những hình thức đòi hỏi tư duy ở mức độ cao, phát huy tính chủ động và sáng tạo của trẻ như kể chuyện sáng tạo, đóng kịch hoặc ứng dụng công nghệ thông tin vẫn chưa được khai thác một cách sâu sắc và thường xuyên. Bên cạnh đó, GV còn phải đối mặt với nhiều rào cản đáng kể như sự chênh lệch về năng lực ngôn ngữ giữa các trẻ, sĩ số lớp đông, áp lực về thời gian cũng như những hạn chế về học liệu và năng lực đổi mới phương pháp sư phạm.

Từ thực trạng và những khó khăn đã nêu, yêu cầu đổi mới phương pháp tiếp cận trong tổ chức hoạt động kể chuyện trở nên cấp thiết. Nhằm nâng cao hiệu quả phát triển TNNN cho trẻ một cách toàn diện, nghiên cứu đề xuất ba biện pháp trọng tâm: 1) Cho trẻ kể chuyện theo sơ đồ giúp hệ thống hóa tư duy và nắm bắt logic nội dung câu chuyện; 2) Sử dụng trò chơi trong hoạt động đàm thoại nhằm tăng cường sự tương tác, duy trì sự chú ý và tạo hứng thú học tập một cách tự nhiên; 3) Phân hóa trẻ trong quá trình kể chuyện nhằm xây dựng các chiến lược hỗ trợ mang tính cá nhân hóa, phù hợp với mức độ nhận thức và năng lực ngôn ngữ của từng trẻ. Nhìn chung, việc vận dụng linh hoạt và đồng bộ các biện pháp trên không chỉ góp phần mở rộng vốn từ mà còn nâng cao khả năng diễn đạt và hình thành năng lực tự sự mạch lạc cho trẻ. Trong thời gian tới, để hoạt động kể chuyện thực sự phát huy tối đa giá trị giáo dục, các cơ sở GDMN cần tiếp tục chú trọng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV, đồng thời tăng cường sự phối hợp với gia đình để xây dựng môi trường ngôn ngữ phong phú, liên tục và lấy trẻ làm trung tâm.

______________

Tài liệu tham khảo

[1] Baddeley, A. (2003). Working memory and language: An overview. Journal of Communication Disorders, Vol. 36, No. 3, May-June, pp. 189-208.

[2] Isbell, R., Sobol, J., Lindauer, L., & Lowrance, A. (2004). The Effects of Storytelling and Story Reading on the Oral Language Complexity and Story Comprehension of Young Children. Early Childhood Education Journal, Vol. 32, No. 3, December, pp. 157-163.

[3] Justice, L. M., & Pullen, P. C. (2003). Promising interventions for promoting emergent literacy skills: Three evidence-based approaches, Topics in Early Childhood Special Education, Vol. 23, No. 3, Fall, pp. 99-113.

[4] Mol, S. E., Bus, A. G., & de Jong, M. T. (2009). Interactive book reading in early childhood: A meta-analysis on its impact and moderators, Review of Educational Research, Vol. 79, No. 2, June, pp. 979-1007.

[5] Nguyễn Xuân Thức (chủ biên, 2017). Tâm lý học lứa tuổi mầm non. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

[6] Nicolopoulou, A., McDowell, J., & Brockmeyer, C. (2021). Narrative, Play, and Early Literacy: Storytelling in Preschool Education. Cambridge University Press, Cambridge.

[7] Vygotsky, L. S. (1978). Mind in Society: The Development of Higher Psychological Processes. Harvard University Press, Cambridge, MA.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.