PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRI THỨC - NHÂN TỐ THEN CHỐT THÚC ĐẨY LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

13:53 | 13/03/2026
Bùi Phan Bảo Trân Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn nhân lực tri thức đối với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay;

Bùi Phan Bảo Trân

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn nhân lực tri thức đối với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay; đồng thời làm rõ những định hướng lớn trong phát triển nguồn nhân lực tri thức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Nguồn nhân lực tri thức, lực lượng sản xuất, Đại hội XIV, phát triển nguồn nhân lực.

1. Đặt vấn đề

Trong học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất và bao gồm ba yếu tố cơ bản: người lao động, tư liệu sản xuất và trình độ khoa học - công nghệ. Trong đó, con người giữ vai trò trung tâm, là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, khi khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức đã trở thành nguồn lực trực tiếp của sản xuất. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

2. Nội dung

2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của nguồn nhân lực tri thức đối với phát triển lực lượng sản xuất

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động của con người với tư liệu sản xuất và trình độ khoa học - công nghệ. Theo đó, con người vừa là yếu tố trung tâm vừa là động lực trực tiếp của quá trình sản xuất. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mỗi bước tiến của lực lượng sản xuất đều gắn liền với sự phát triển của tri thức và khoa học - công nghệ. Nếu như trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai và lao động thủ công là yếu tố chủ yếu của lực lượng sản xuất, thì trong nền kinh tế công nghiệp, máy móc và công nghệ giữ vai trò quyết định. Đến thời đại ngày nay, khi kinh tế tri thức trở thành xu hướng phát triển chủ đạo của thế giới, tri thức và nguồn nhân lực sáng tạo trở thành yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ số… đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặt ra yêu cầu cấp bách về xác lập mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia” [1, tr.9].

Trong nền kinh tế tri thức, tri thức và nguồn nhân lực sáng tạo trở thành yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Trong kinh tế tri thức, nguồn lực phát triển quan trọng nhất là tri thức, nhân lực có năng lực sáng tạo và thích ứng công nghệ cao” [2, tr.9]. Điều đó cho thấy, việc phát triển nguồn nhân lực tri thức không chỉ là yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà còn là điều kiện quyết định để phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn mới.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã làm cho tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Những thành tựu của khoa học - công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, quản lý và tiêu dùng, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Dưới tác động của tiến bộ mới về khoa học và công nghệ, kinh tế thế giới chuyển mạnh sang kinh tế tri thức; các thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng để tối ưu hóa quy trình sản xuất, quản lý và tiêu dùng” [2, tr.9].

2.2. Thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất và nguồn nhân lực ở Việt Nam

Sau gần bốn thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử; đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao” [1, tr.9].

Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm. Văn kiện Đại hội XIV cho biết: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm” [2, tr.17]. Bên cạnh đó, quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên. Trong giai đoạn 2016 - 2025, quy mô nền kinh tế đạt trên 500 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh. Những thành tựu đó cho thấy lực lượng sản xuất ở nước ta đã có bước phát triển quan trọng. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Tăng trưởng vẫn dưới mức tiềm năng, năng suất lao động chưa cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế” [1, tr.9].

2.3. Định hướng phát triển nguồn nhân lực tri thức theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực tri thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Quảng cáo

Trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, giáo dục - đào tạo giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực tri thức. Chất lượng giáo dục quyết định trực tiếp đến trình độ tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng công nghệ của người lao động. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo là nhiệm vụ cơ bản nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển đất nước dựa trên nền tảng tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đảng khẳng định: “Phải tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức mạnh con người Việt Nam” 1, tr.14]. Điều đó cho thấy con người và nguồn nhân lực tri thức được xác định là yếu tố trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước.

Trong bối cảnh đó, giáo dục - đào tạo cần được đổi mới theo hướng phát triển toàn diện năng lực người học, chú trọng tư duy sáng tạo, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ mới. Đồng thời, cần gắn chặt quá trình đào tạo với yêu cầu của nền kinh tế và thị trường lao động, nhằm bảo đảm nguồn nhân lực được đào tạo có thể đáp ứng hiệu quả yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ mới.

Hai là, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tri thức.

Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của khoa học - công nghệ không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất mà còn tạo ra những ngành nghề mới, đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ tri thức cao và khả năng sáng tạo.

Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ rằng các quốc gia trên thế giới đang đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đảng nhấn mạnh: “Hầu hết các nước trên thế giới đều cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa nền quản trị quốc gia” [2, tr.11]. Điều đó cho thấy khoa học - công nghệ trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. Do đó, cần đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức và nhà khoa học tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tri thức và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Ba là, xây dựng môi trường thuận lợi để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong phát triển lực lượng sản xuất.

Đội ngũ trí thức là lực lượng quan trọng trong quá trình sáng tạo tri thức và phát triển khoa học - công nghệ. Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của trí thức ngày càng trở nên nổi bật, bởi họ là những người trực tiếp nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội.

Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy sự đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định rằng sự phát triển của đất nước gắn liền với việc phát huy sức mạnh của toàn dân tộc và các nguồn lực xã hội. Đảng nhấn mạnh: “Cần khơi thông mọi nguồn lực, mọi động lực phát triển, phát huy sức mạnh Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [1, tr.10].

Để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, cần xây dựng môi trường nghiên cứu và sáng tạo thuận lợi, đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Việc tạo điều kiện để trí thức tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách và chuyển giao công nghệ sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Bốn là, gắn phát triển nguồn nhân lực tri thức với yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển của các quốc gia. Việc phát triển nguồn nhân lực tri thức cần gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ rằng quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quốc gia, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực. Đảng nhấn mạnh: “Hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thực chất hơn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia” [2, tr.11].

Trong bối cảnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, có trình độ chuyên môn cao và năng lực thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Đồng thời, việc phát triển nguồn nhân lực tri thức cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững, nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.

5. Kết luận

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định rõ vai trò của khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực tri thức trong chiến lược phát triển đất nước nhanh và bền vững. Phát triển nguồn nhân lực tri thức không chỉ góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn tạo động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu trở thành quốc gia phát triển trong tương lai. Do đó, cần có những chính sách đồng bộ và hiệu quả nhằm phát triển nguồn nhân lực tri thức, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.