PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

14:27 | 18/07/2026
Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương

Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội

Email:[email protected]

Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển năng lực số cho giáo viên ở Trường trung học cơ sở Yên Nghĩa, phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay.

Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; Chuyển đổi số; Năng lực số; Trung học cơ sở.

1. Đặt vấn đề

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ làm thay đổi môi trường dạy học mà còn đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ giáo viên về năng lực nghề nghiệp, đặc biệt là năng lực số. Trong bối cảnh đó, năng lực số trở thành một thành tố quan trọng cấu thành năng lực nghề nghiệp của giáo viên, là điều kiện để giáo viên khai thác hiệu quả các nguồn học liệu số, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong thiết kế, tổ chức, quản lý và đánh giá hoạt động dạy học. Đồng thời, năng lực số còn là cơ sở để giáo viên thích ứng với môi trường giáo dục số, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, Chiến lược phát triển giáo dục và Chương trình chuyển đổi số quốc gia.

Những năm qua, Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa, phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội đã quan tâm triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của chuyển đổi số trong giáo dục, năng lực số của một bộ phận giáo viên vẫn còn những hạn chế nhất định; việc phát triển năng lực số chưa thật sự đồng bộ, toàn diện và bền vững. Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm phát triển năng lực số cho giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Lý luận về năng lực số, phát triển năng lực số cho giáo viên ở các trường trung học cơ sở hiện nay

* Quan niệm, cấu trúc về năng lực số của giáo viên

Theo UNESCO (2018), năng lực công nghệ số là: khả năng tiếp cận, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo thông tin một cách an toàn và hợp lý thông qua công nghệ kỹ thuật sổ phục vụ cho việc làm và lập nghiệp. Năng lực công nghệ số bao gồm các năng lực khác nhau liên quan đến kĩ năng công nghệ thông tin truyền thông, kiến thức thông tin và truyền thông. Khi đặt trong bối cảnh sư phạm, năng lực số của nhà giáo không chỉ là sử dụng công nghệ mà còn là tích hợp công nghệ vào phương pháp giảng dạy, chương trình học và tổ chức lớp học [6]. Theo Ủy ban Châu Âu (2018) thì: Năng lực số liên quan đến việc sử dụng cũng như tham gia vào công nghệ số một cách tự tin, chủ động và có trách nhiệm phục vụ cho học tập, làm việc và tham gia vào xã hội. Năng lực số gồm có kiến thức về thông tin và sổ liệu, truyền thông và hợp tác, kiến thức truyền thông, tạo nội dung số (bao gồm cả lập trình), an toàn (bao gồm cả lợi ích và năng lực số liên quan đến an ninh mạng) và các vẩn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện.

Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, theo Thông tư số 18/TT-BGDĐT, xác định: năng lực số là khả năng sử dụng công nghệ số thành thạo, an toàn, sáng tạo và có trách nhiệm trong học tập, là việc và đời sống xã hội [1].

Theo đó, có thể hiểu: Năng lực số của giáo viên là khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và kinh nghiệm nghề nghiệp để lựa chọn, tích hợp, sử dụng các công nghệ số và công cụ trí tuệ nhân tạo một cách an toàn, có đạo đức và hiệu quả trong thiết kế, tổ chức, quản lý và đánh giá quá trình dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực người học.

Cấu trúc Khung năng lực số của giáo viên bao gồm 6 miền năng lực (20 năng lực thành phần), bao gồm: tổ chức dạy học, giáo dục trong môi trường số; kiểm tra, đánh giá; trao quyền cho người học; kỹ năng công nghệ số; phát triển chuyên môn; trí tuệ nhân tạo.

* Quan niệm, đặc điểm phát triển năng lực số cho giáo viên ở các trường trung học cơ sở hiện nay

Theo tác giả Nguyen và Bui (2022), phát triển là quá trình hình thành hệ thống giá trị, niềm tin và năng lực thông qua học tập nhằm hỗ trợ tổ chức thực hiện mục tiêu chiến lược. Khi đặt trong mối liên hệ với năng lực số với tư cách là một năng lực cốt lõi của giáo viên thì phát triển năng lực số là quá trình cập nhật, nâng cao và vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ liên quan đến công nghệ vào thực tiễn công việc. Quá trình này kết hợp nâng cao kỹ năng, kỹ thuật với bồi đắp tư duy, văn hóa số cho giáo viên [35]

Từ các phân tích trên, có thể hiểu: Phát triển năng lực số cho giáo viên ở trường trung học cơ sở là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch và có tổ chức của các chủ thể quản lý giáo dục nhằm huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để hình thành, củng cố, nâng cao và cập nhật thường xuyên các thành tố của năng lực số cho giáo viên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ dạy học, giáo dục trong môi trường số và yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.

Quảng cáo

Bản chất phát triển năng lực số cho giáo viên ở các trường trung học cơ sở là quản lý sự phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên trên nền tảng công nghệ số, thông qua việc định hướng, tổ chức, hỗ trợ và tạo điều kiện để giáo viên hình thành, nâng cao và cập nhật liên tục năng lực số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.

Chủ thể phát triển năng lực số cho giáo viên trung học cơ sở là các cấp quản lý giáo dục, trong đó hiệu trưởng nhà trường giữ vai trò trực tiếp và trung tâm; giáo viên là đối tượng quản lý đồng thời là chủ thể tự phát triển năng lực số của chính mình.

Nội dung phát triển năng lực số cho giáo viên trung học cơ sở là quá trình hình thành, củng cố, nâng cao và cập nhật các thành tố của năng lực số, bao gồm: nhận thức và văn hóa số; khai thác dữ liệu và thông tin số; giao tiếp, hợp tác số; xây dựng học liệu số; ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong dạy học, kiểm tra đánh giá; bảo đảm an toàn, đạo đức số; giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và phát triển nghề nghiệp liên tục trong môi trường số. Các nội dung này dựa trên miền năng lực và các năng lực số của giáo viên đã được xác định theo Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT về Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, ngày 27 tháng 03 năm 2026.

Phương thức phát triển năng lực số cho giáo viên trung học cơ sở là tổng thể các cách thức tác động nhằm hình thành, nâng cao và cập nhật năng lực số của giáo viên thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự học, trải nghiệm nghề nghiệp, sinh hoạt chuyên môn, hỗ trợ đồng nghiệp, nghiên cứu khoa học và hoạt động trong môi trường giáo dục số. Bao gồm các phương thức cơ bản: Đào tạo, bồi dưỡng; Tự học, tự phát triển nghề nghiệp; Học tập qua thực tiễn nghề nghiệp và cộng đồng chuyên môn; Phát triển thông qua môi trường số và hệ sinh thái số của nhà trường.

2.2. Khái quát thực trạng phát triển năng lực số cho giáo viên ở Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa, phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội hiện nay

Kết quả khảo sát và thực tiễn hoạt động giáo dục của Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa cho thấy, công tác phát triển năng lực số cho giáo viên đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Nhận thức của đội ngũ giáo viên về chuyển đổi số và năng lực số có chuyển biến tích cực; việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, dạy học và kiểm tra đánh giá từng bước đi vào nền nếp; đa số giáo viên đã khai thác, sử dụng các nguồn học liệu, kho học liệu, video bài giảng phục vụ trong giảng dạy; Phần lớn giáo viên đã có năng lực thiết kế bài giảng điện tử, khai thác học liệu số và tổ chức dạy học trên môi trường số; Hạ tầng công nghệ thông tin trong nhà trường được quan tâm đầu tư, tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận và sử dụng công nghệ số. Tuy nhiên, trình độ và năng lực số giữa các giáo viên còn chênh lệch khá lớn theo độ tuổi, môn học và điều kiện công tác (số lượng giáo viên hợp đồng của nhà trường chiếm tỉ lệ hơn 30%); Một số giáo viên mới dừng ở mức sử dụng công cụ số cơ bản, chưa khai thác hiệu quả công nghệ số để đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá. Tính chủ động tự học, tự bồi dưỡng về công nghệ số của một bộ phận giáo viên còn chưa cao.

2.3. Biện pháp phát triển năng lực số cho giáo viên ở Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa, phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội hiện nay

Một là, tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của chủ thể các cấp trong nhà trường về phát triển năng lực số cho giáo viên. Tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể trong nhà trường về phát triển năng lực số cho giáo viên là biện pháp có ý nghĩa nền tảng, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn trường. Do đó, để thực hiện biện pháp này, Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn cần làm tốt một số nội dung gồm: Tổ chức tuyên truyền, quán triệt các chủ trương của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục về chuyển đổi số bám sát thực tiễn nhiệm vụ giáo dục và điều kiện nhà trường. Tiến hành phổ biến và bồi dưỡng khung năng lực số giáo viên và các yêu cầu nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số. Giáo dục, quán triệt các nội dung trọng tâm để mỗi chủ thể nhận thức và xác định quyết tâm phát triển năng lực số. Tổ chức đa dạng các hoạt động như: hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề về năng lực số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học. Đặc biệt, để tạo động lực cho mỗi giáo viên trong tự học, tự hoàn thiện năng lực số, nhà trường cần đưa nội dung phát triển năng lực số vào kế hoạch năm học và tiêu chí thi đua đối với mỗi tổ chức và thành viên trong nhà trường.

Hai là, xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển năng lực số cho giáo viên theo tiếp cận khung năng lực. Đây là biện pháp quan trọng làm cơ sở, căn cứ và điều kiện để phát triển năng lực số cho giáo viên. Do đó, chủ thể các cấp trong nhà trường cần thực hiện tốt các nội dung sau: Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực số của giáo viên theo định kỳ. Tiến hành phân loại giáo viên theo các mức độ năng lực số, chia nhóm, đối tượng khác nhau để tiện theo dõi, bồi dưỡng và phát triển. Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, lộ trình và chỉ tiêu phát triển năng lực số đối với các nhóm giáo viên đã được phân loại theo lộ trình, giai đoạn cụ thể. Tổ chức triển khai và hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng phát triển năng lực số phù hợp với nhu cầu, năng lực và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Tích hợp kế hoạch phát triển năng lực số vào kế hoạch chuyển đổi số của nhà trường, kết hợp triển khai đồng bộ cơ sở hạ tầng, phát triển hệ sinh thái số, văn hóa số.

Ba là, chỉ đạo đổi mới hoạt động bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên theo hướng cá thể hóa và gắn với thực tiễn nghề nghiệp. Đây là biện pháp then chốt, quyết định tới phát triển năng lực số cho giáo viên của nhà trường. Theo đó, chủ thể các cấp trong nhà trường cần thực hiện các nội dung sau: Chỉ đạo xác định mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức bồi dưỡng, phát triển năng lực số cho giáo viên theo nhu cầu và vị trí việc làm. Chỉ đạo đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng, phát triển, gồm ngắn hạn, dài hạn, kết hợp bồi dưỡng trực tiếp với trực tuyến, bồi dưỡng thường xuyên. Triển khai phát triển mạnh mẽ các hoạt động sư phạm số như: Thiết kế bài giảng số; Xây dựng học liệu số; Khai thác dữ liệu giáo dục; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học và kiểm tra đánh giá. Tăng cường hoạt động thực hành, trải nghiệm và giải quyết tình huống thực tiễn sư phạm trong môi trường số cho giáo viên.

Bốn là, tổ chức các cộng đồng học tập nghề nghiệp nhằm hỗ trợ phát triển năng lực số, xây dựng môi trường số cho giáo viên. Đây là biện pháp quan trọng đối với nâng cao hiệu quả phát triển năng lực số cho giáo viên. Do đó, chủ thể các cấp trong nhà trường cần thực hiện các nội dung sau: Thành lập các nhóm chuyên gia, nhóm giáo viên nòng cốt, cốt cán về chuyển đổi số. Xây dựng diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số trong tập thể sư phạm nhà trường. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học trên môi trường số. Thực hiện mô hình cố vấn, hỗ trợ đồng nghiệp (mentoring, coaching). Khuyến khích chia sẻ tài nguyên và học liệu số trong toàn trường nhằm phát triển kho học liệu số dùng chung. Xây dựng và hoàn thiện quy tắc ứng xử, đạo đức số và văn hóa số trong nhà trường.

Năm là, chỉ đạo phát huy vai trò chủ thể tự học, tự bồi dưỡng năng lực số của giáo viên. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững các năng lực số của giáo viên. Do đó, chủ thể các cấp trong nhà trường cần thực hiện tốt các nội dung sau: Tổ chức, hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số cá nhân trên cơ sở kế hoạch chung của nhà trường và Khung năng lực số đã xác định, phù hợp với thực trạng, nhu cầu phát triển năng lực số của từng giáo viên. Tạo điều kiện tiếp cận các nguồn học liệu mở và khóa học trực tuyến; hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hành lang pháp lý và các điều kiện, cơ chế chính sách đảm bảo phù hợp, khuyến khích giáo viên; khuyến khích xây dựng hồ sơ năng lực số (Digital Portfolio). Tổ chức các cuộc thi, diễn đàn chia sẻ sản phẩm số và sáng kiến chuyển đổi số; gắn kết quả tự học với đánh giá, xếp loại và phát triển nghề nghiệp của mỗi giáo viên.

Sáu là, bảo đảm các điều kiện và cơ chế hỗ trợ phát triển năng lực số cho giáo viên. Đây là biện pháp nhằm tạo môi trường thuận lợi động viên, khích lệ giáo viên phát triển năng lực số. Do đó, chủ thể các cấp cần thực hiện tốt các nội dung sau: Tăng cường huy động nguồn lực tài chính phục vụ chuyển đổi số theo phạm vi, mức độ phù hợp. Thường xuyên đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện thiết bị, phần mềm và hạ tầng số. Xây dựng cơ chế khuyến khích giáo viên đổi mới sáng tạo trên nền tảng số. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục, doanh nghiệp công nghệ và các cơ sở đào tạo trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển năng lực số cho giáo viên. Thực hiện chế độ khen thưởng đối với giáo viên có thành tích trong ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.

3. Kết luận

Phát triển năng lực số cho giáo viên trung học cơ sở là yêu cầu khách quan và cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo. Đây là quá trình hình thành, củng cố, nâng cao và cập nhật liên tục các tri thức, kỹ năng, thái độ và giá trị nghề nghiệp liên quan đến việc sử dụng công nghệ số nhằm nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục và phát triển nghề nghiệp của giáo viên. Vì vậy, các trường trung học cơ sở hiện nay phải quản lý hiệu quả quá trình phát triển năng lực số của giáo viên theo tiếp cận phát triển năng lực và chuyển đổi số, bảo đảm mọi giáo viên có khả năng ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo một cách an toàn, hiệu quả trong hoạt động dạy học và giáo dục. Từ thực tiễn sư phạm của nhà trường, thực hiện tốt các biện pháp đã xác định là nội dung quan trọng nhằm phát triển năng lực số cho giáo viên Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa, phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT về Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, ngày 27 tháng 03 năm 2026, Hà Nội.

2. Bùi Trang Hương (2024), “Đề xuất khung năng lực số của giảng viên đại học Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0”, Tạp chí Giáo dục, Số 24(24), 8-13.

3. Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa (2025), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2024- 2025, Hà Nội

4. Trường Trung học cơ sở Yên Nghĩa (2026), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2024- 2025, Hà Nội

5. Nguyen, A.T., Bui, T.H, (2022), “Recommendations to develop lecturers’ digital competence framework in Vietnam, VNU Journal of Science: Policy and Management Study, 38 (3), 83- 89.

6. UNESCO (2018), A global framework of reference on digital literacy, UNESCO Institute for Statistics.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Lan tỏa triết lý giáo dục, khẳng định bản sắc của một ngôi trường tiên phong đổi mới

TCGCVN - Chiều ngày 08/8/2026, tại Trường THPT Đông Đô (Hà Nội), Trường THPT Đông Đô phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Sư phạm tổ chức Hội thảo khoa học giới thiệu cuốn sách "Bản sắc Đông Đô trong tiến trình đổi mới giáo dục Việt Nam" của TS. Võ Thế Quân, Chủ tịch Hội đồng Trường THPT Đông Đô. Sự kiện là một trong những hoạt động trọng điểm chào mừng 35 năm thành lập Trường THPT Đông Đô (1991–2026), thu hút sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà giáo lão thành, đại d

GIÁO SƯ, VIỆN SĨ PHẠM MINH HẠC – NHÀ KHOA HỌC XUẤT SẮC VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ GIÁ TRỊ KHAI SÁNG VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

TCGCVN - Ngày 31/7/2026, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông là mất mát lớn đối với nền giáo dục, khoa học tâm lý và khoa học giáo dục Việt Nam. Với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, Tạp chí điện tử Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và sự nghiệp của một nhà giáo dục lớn, người đã cống hiến trọn đời cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.

MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

TCGCVN- GS.TSKH.VS. NGND Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026) – Nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà khoa học về phát triển con người; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và phát triển khoa học giáo dục Việt Nam.

Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai (nhiệm kỳ 2025-2030)

TCGCVN - Ngày 29/7/2026, tại Hội trường Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa (Cơ sở 2), Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa đã long trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai, nhiệm kỳ 2025-2030. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của Thầy Trần Đạo Nghĩa (Chủ tịch Tỉnh hội), Cô Nguyễn Thị Thúy Hường và Thầy Nguyễn Cảnh Thái (Phó Chủ tịch Tỉnh hội).

GS.VS. NGND PHẠM MINH HẠC (1935–2026) – NHÀ GIÁO DỤC LỚN CỦA VIỆT NAM

TCGCVN- Trong những ngày đầu tháng Tám năm 2026, ngành Giáo dục Việt Nam và giới khoa học cả nước bàng hoàng đón nhận tin buồn: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần vào ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông không chỉ là mất mát to lớn đối với gia đình, đồng nghiệp và các thế hệ học trò, mà còn để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong toàn ngành giáo dục Việt Nam. Hơn bảy thập kỷ cống hiến không mệt mỏi, Giáo sư Phạm Minh Hạc

GS.VS.NGND PHẠM MINH HẠC TỪ TRẦN Ở TUỔI 91

TCGCVN - GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc – nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII, Chủ tịch Danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam, đã từ trần vào hồi 1 giờ 10 phút ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tómm tắt: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nói chung và giáo

CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG BỐI CẢNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Nguyễn Quốc Trung Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đồng Tháp Email: [email protected] ThS. Trần Lê Cẩm Tú, Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của công tác xây dựng Đảng đối với sự ổn định và phát triển của tỉnh Đồng Tháp trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các văn bản và báo cáo liên quan, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa