PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỐ CHO HỌC VIÊN TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN SỰ HIỆN NAY

05:40 | 22/03/2026
Đặng Quang Tuyển Trường Đại học Nguyễn Huệ Email: [email protected] Tóm tắt: Trước yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kỹ năng số, nội hàm của kỹ năng số trong môi trường quân sự và vai trò của nó đối với quá trình đào tạo sĩ quan. Trên cơ sở đó, phân tích các

Đặng Quang Tuyển

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trước yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kỹ năng số, nội hàm của kỹ năng số trong môi trường quân sự và vai trò của nó đối với quá trình đào tạo sĩ quan. Trên cơ sở đó, phân tích các yếu tố tác động đến việc phát triển kỹ năng số cho học viên; đề xuất các yêu cầu cơ bản và hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kỹ năng số cho học viên phù hợp với đặc thù đào tạo quân sự, góp phần đáp ứng mục tiêu đào tạo đội ngũ Sĩ quan trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Kỹ năng số; phát triển kỹ năng số; học viên quân sự; Nhà trường quân sự; chuyển đổi số; đào tạo sĩ quan.

1. Đặt vấn đề

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số quốc gia đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đòi hỏi đội ngũ cán bộ, sĩ quan tương lai không chỉ vững vàng về bản lĩnh chính trị, giỏi chuyên môn quân sự mà còn phải có năng lực thích ứng và làm chủ môi trường số.

Trong bối cảnh đó, phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự không chỉ là yêu cầu mang tính thời sự mà còn là nhiệm vụ chiến lược, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội số và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về kỹ năng số và phát triển kỹ năng số cho học viên Nhà trường quân sự

2.1.1. Khái niệm và vai trò của kỹ năng số

Kỹ năng số là khả năng sử dụng công nghệ số và môi trường số một cách hiệu quả, an toàn, có trách nhiệm và sáng tạo để phục vụ học tập, công tác, nghiên cứu và đời sống. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng, kỹ năng số trở thành năng lực cốt lõi của nguồn nhân lực hiện đại, quyết định khả năng thích ứng, khai thác tri thức và vận dụng công nghệ mới trong mọi lĩnh vực.

Đối với học viên các Nhà trường quân sự, kỹ năng số không chỉ là khả năng thành thạo các phần mềm, công cụ công nghệ thông tin, mà còn bao gồm năng lực tìm kiếm, phân tích và xử lý thông tin, bảo đảm an toàn, an ninh mạng, đồng thời ứng dụng công nghệ số trong chỉ huy, quản lý, huấn luyện và tổ chức hoạt động quân sự.

Vai trò của kỹ năng số trong đào tạo học viên quân sự là nền tảng và chiến lược. Nó giúp nâng cao năng lực tự học, phát triển tư duy phản biện và sáng tạo; tăng khả năng ra quyết định chính xác trong môi trường tác chiến số; đồng thời hình thành đội ngũ sĩ quan có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu quản lý, chỉ huy và tác nghiệp trong môi trường số hiện đại. Hơn nữa, kỹ năng số là yếu tố then chốt để thực hiện các mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và ứng dụng công nghệ số, theo yêu cầu Nghị quyết 1659-NQ/QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023–2030 và những năm tiếp theo đã xác định: “Tích cực ứng dụng nhanh khoa học công nghệ, thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư để nâng cao trình độ quản lý, chỉ huy, điều hành và chất lượng huấn luyện, đào tạo”.

2.1.2. Những yếu tố tác động đến phát triển kỹ năng số cho học viên các Nhà trường quân sự

Quá trình phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đòi hỏi phải triển khai đồng bộ và có hệ thống để đạt hiệu quả cao. Trước hết, mục tiêu và nội dung đào tạo là cơ sở định hướng quan trọng. Nếu chương trình học chưa tích hợp đầy đủ các năng lực số hoặc chưa cập nhật các công nghệ mới, học viên sẽ khó tiếp cận và phát triển toàn diện các kỹ năng cần thiết. Nội dung đào tạo cần được thiết kế theo hướng thực tiễn, gắn với yêu cầu quản lý, huấn luyện và tác nghiệp trong môi trường số.

Phương pháp giảng dạy và tổ chức học tập cũng tác động trực tiếp đến việc hình thành kỹ năng số. Những phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều khó phát huy tính chủ động, sáng tạo và khả năng tự học của học viên. Ngược lại, áp dụng các phương pháp như học tập dự án, lớp học đảo ngược, mô phỏng tình huống hay sử dụng hệ thống quản lý học tập trực tuyến giúp học viên rèn luyện kỹ năng số một cách thực chất và chủ động.

Đội ngũ giảng viên là nhân tố then chốt trong việc phát triển kỹ năng số. Giảng viên cần thành thạo kỹ năng số, biết tích hợp công nghệ vào giảng dạy và hướng dẫn học viên khai thác, xử lý thông tin cũng như vận dụng vào thực tế. Việc nâng cao năng lực số cho giảng viên, khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo học liệu số là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả đào tạo.

Hạ tầng công nghệ và môi trường học tập số là yếu tố không thể thiếu. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống mạng, máy tính, phần mềm, thư viện số và dữ liệu học tập cần được đầu tư đầy đủ, bảo đảm an toàn, an ninh và liên thông, phục vụ hiệu quả việc học tập, nghiên cứu và huấn luyện.

Bên cạnh đó, đặc thù môi trường quân sự cũng ảnh hưởng đến việc phát triển kỹ năng số. Tính kỷ luật cao, yêu cầu tác chiến, điều kiện huấn luyện thực tiễn và cơ cấu quản lý nghiêm ngặt đòi hỏi các hoạt động đào tạo kỹ năng số phải được thiết kế phù hợp, đảm bảo khả năng ứng dụng trong thực tiễn.

Như vậy, việc phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự cần đồng thời cân nhắc tất cả các yếu tố trên, triển khai một cách hệ thống, đồng bộ và phù hợp với đặc thù đào tạo sĩ quan, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại. Việc này cũng nhất quán với quan điểm tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị xác đinh: “Nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học và đội ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học, đưa vào chương trình giáo dục gắn với thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, trải nghiệm”.

2.2. Yêu cầu và giải pháp phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự

2.2.1. Yêu cầu phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự

Một là, gắn với mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra

Việc phát triển kỹ năng số phải bám sát mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra của từng đối tượng học viên, đảm bảo học viên không chỉ thành thạo công nghệ mà còn biết vận dụng vào thực tiễn quản lý, huấn luyện và tác nghiệp trong môi trường số. Điều này phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết 1659-NQ/QUTW giai đoạn 2023–2030 và những năm tiếp theo.

Hai là, tích hợp nội dung kỹ năng số toàn diện vào chương trình đào tạo

Nội dung phát triển kỹ năng số cần bao gồm các năng lực cơ bản như sử dụng công nghệ thông tin, khai thác và xử lý dữ liệu, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và ứng dụng công nghệ trong chỉ huy, quản lý. Đồng thời, cần định hướng phát triển kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và khả năng thích ứng nhanh với môi trường số, phù hợp với quan điểm “tạo đột phá phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ và chuyển đổi số” tại Nghị quyết số 71 của Quân ủy Trung ương.

Ba là, đổi mới phương pháp giảng dạy và tổ chức học tập

Phương pháp triển khai cần phát huy vai trò chủ thể của học viên, sử dụng các hình thức học tập chủ động như học dự án, lớp học đảo ngược, mô phỏng tình huống, kết hợp học trực tuyến và học thực hành. Cách tiếp cận này không chỉ giúp học viên nắm kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng thực hành, tư duy phản biện và khả năng ra quyết định trong môi trường tác chiến số.

Bốn là, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục.

Giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục phải có năng lực số vững vàng, biết hướng dẫn học viên khai thác, xử lý thông tin và vận dụng công nghệ số vào thực tiễn. Việc nâng cao năng lực cho giảng viên, khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo học liệu số là điều kiện quan trọng để đảm bảo hiệu quả đào tạo.

Năm là, đầu tư hạ tầng công nghệ và xây dựng môi trường học tập số

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống mạng, phần mềm, thư viện số và dữ liệu học tập cần bảo đảm hiện đại, an toàn, liên thông để hỗ trợ học tập, nghiên cứu và huấn luyện, giúp học viên phát triển kỹ năng số một cách hiệu quả.

2.2.2. Giải pháp phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự

Một là, hoàn thiện mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo

Quảng cáo

Hoàn thiện mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo giữ vai trò nền tảng trong việc phát triển kỹ năng số cho học viên các Nhà trường quân sự. Đây là cơ sở định hướng giúp học viên không chỉ thành thạo các công cụ công nghệ thông tin mà còn phát triển năng lực khai thác, xử lý thông tin, bảo đảm an toàn, an ninh mạng, đồng thời vận dụng công nghệ vào quản lý, huấn luyện và chỉ huy. Việc này cũng góp phần hình thành đội ngũ sĩ quan có năng lực số toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục – đào tạo trong Quân đội, phù hợp với quan điểm “chuẩn hóa các chương trình đào tạo đảm bảo cách mạng, khoa học, liên tục, kế thừa, tích hợp, sát với thực tế và phát triển” tại Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW về đổi mới công tác giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trông tình hình mới.

Nội dung đào tạo cần được tích hợp kỹ năng số một cách toàn diện, từ việc sử dụng công nghệ thông tin cơ bản đến khai thác, phân tích và xử lý dữ liệu, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, đồng thời vận dụng công nghệ trong các hoạt động quản lý, huấn luyện và chỉ huy. Chương trình phải gắn với thực tiễn quân sự, phát triển tư duy số, khả năng tự học, tự nghiên cứu và thích ứng nhanh với môi trường số.

Để thực hiện, các Nhà trường cần rà soát, điều chỉnh mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra để tích hợp các năng lực số cần thiết; thiết kế nội dung chương trình học theo hướng ứng dụng và thực hành; kết hợp các bài tập, dự án, mô phỏng tình huống thực tiễn nhằm rèn luyện kỹ năng khai thác, xử lý thông tin và vận dụng công nghệ; đồng thời xây dựng các chuẩn đánh giá năng lực số để theo dõi, đánh giá và nâng cao hiệu quả đào tạo.

Hai là, đổi mới phương pháp giảng dạy và tổ chức học tập

Đổi mới phương pháp giảng dạy và tổ chức học tập đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kỹ năng số cho học viên các Nhà trường quân sự. Việc áp dụng phương pháp phù hợp không chỉ giúp truyền đạt kiến thức mà còn rèn luyện tư duy phản biện, sáng tạo, khả năng tự học và năng lực ra quyết định trong môi trường tác chiến số. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để hình thành đội ngũ sĩ quan có năng lực số toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo trong Quân đội, đồng thời phù hợp với quan điểm tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: “Đổi mới mạnh mẽ chương trình, phương thức đào tạo, ứng dụng công nghệ, quản trị chất lượng, bảo đảm hiệu quả, thực chất theo các tiêu chuẩn quốc tế”.

Nội dung đổi mới phương pháp giảng dạy bao gồm việc áp dụng các hình thức học tập chủ động và sáng tạo, như học dự án, lớp học đảo ngược, mô phỏng tình huống, kết hợp học trực tuyến với thực hành. Các hình thức này không chỉ giúp học viên nắm vững kiến thức mà còn tạo cơ hội thực hành, vận dụng công nghệ số vào giải quyết các tình huống thực tế, nâng cao kỹ năng xử lý thông tin, tư duy phản biện và ra quyết định trong môi trường tác chiến số.

Để thực hiện, các Nhà trường cần xây dựng lộ trình áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại, trang bị các công cụ, phần mềm hỗ trợ học tập số, đào tạo giảng viên về cách triển khai các phương pháp chủ động, đồng thời kết hợp các bài tập, dự án, mô phỏng tình huống thực tế và tổ chức đánh giá hiệu quả học tập dựa trên năng lực số của học viên.

Ba là, đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn, an ninh mạng

Đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và phát triển đội ngũ giảng viên có năng lực số giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển kỹ năng số cho học viên các Nhà trường quân sự. Đây không chỉ là điều kiện bảo đảm về vật chất – kỹ thuật, mà còn là nền tảng trực tiếp quyết định hiệu quả tổ chức dạy học, nghiên cứu khoa học và quản lý điều hành trong môi trường số hóa.

Về nội dung, trước hết cần xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin trong toàn trường, bao gồm mạng nội bộ quân sự an toàn, trung tâm dữ liệu, thư viện số, phòng học thông minh, phòng thực hành chuyên ngành và hệ thống mô phỏng phục vụ huấn luyện. Trang thiết bị phải được đầu tư theo hướng hiện đại, đồng bộ, có tính kết nối cao; sử dụng phần mềm bản quyền, các nền tảng quản lý học tập phù hợp với đặc thù quân sự. Song song với đó, cần đặc biệt chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh mạng; xây dựng quy chế quản lý, khai thác và bảo mật dữ liệu; tăng cường giáo dục cho cán bộ, giảng viên, học viên về ý thức bảo mật thông tin, kỹ năng phòng, chống tấn công mạng, sử dụng an toàn thiết bị và nền tảng số trong môi trường quân sự đặc thù.

Cùng với hạ tầng kỹ thuật, đội ngũ giảng viên là chủ thể trung tâm của quá trình chuyển đổi số trong Nhà trường. Vì vậy, nội dung phát triển đội ngũ cần tập trung bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, khai thác học liệu điện tử, thiết kế bài giảng số, tổ chức lớp học trực tuyến và kết hợp. Giảng viên phải từng bước làm chủ các công cụ công nghệ mới, nâng cao năng lực nghiên cứu, cập nhật tri thức khoa học – công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao.

Các Nhà trường cần xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn, dài hạn gắn với lộ trình chuyển đổi số; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực; tăng cường phối hợp với các cơ quan chuyên môn về công nghệ thông tin trong và ngoài quân đội để bảo đảm tính đồng bộ, an toàn hệ thống. Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu cho giảng viên; đưa tiêu chí năng lực số vào đánh giá, xếp loại cán bộ, giảng viên hằng năm; khuyến khích nghiên cứu, sáng kiến cải tiến kỹ thuật và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Quá trình triển khai cần quán triệt tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phất triển giáo dục, Đào tạo, bảo đảm thống nhất giữa mục tiêu chiến lược và hành động cụ thể trong Nhà trường.

Bốn là, phát triển đội ngũ giảng viên có năng lực số đáp ứng yêu cầu mới

Giảng viên giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển kỹ năng số cho học viên. Vì vậy, cần tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về công nghệ giáo dục, phương pháp dạy học số; khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới vào giảng dạy. Mỗi giảng viên phải là một “hạt nhân chuyển đổi số” trong đơn vị.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, giảng viên không chỉ là người truyền thụ tri thức mà còn là chủ thể tổ chức, dẫn dắt và định hướng quá trình học tập trong môi trường số. Trình độ, năng lực công nghệ và tư duy đổi mới của giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hình thành năng lực số cho học viên.

Việc phát triển đội ngũ giảng viên cần tập trung bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ giáo dục, thiết kế và khai thác học liệu số, sử dụng thành thạo hệ thống quản lý học tập, tổ chức lớp học trực tuyến và kết hợp, cũng như vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại theo định hướng phát triển năng lực. Đồng thời, cần chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, khả năng tiếp cận và ứng dụng các thành tựu công nghệ mới vào giảng dạy, quản lý và huấn luyện quân sự. Giảng viên phải từng bước hình thành tư duy số, phong cách làm việc khoa học, linh hoạt, sáng tạo trong môi trường giáo dục quân sự hiện đại.

Vì vậy, các Nhà trường cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo lộ trình cụ thể, gắn với yêu cầu chuyển đổi số của đơn vị; tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu, hội thảo trao đổi kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên môn theo hướng ứng dụng công nghệ số. Cùng với đó, đưa tiêu chí năng lực số vào đánh giá, xếp loại và quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ; khuyến khích, tạo điều kiện để giảng viên tham gia đề tài nghiên cứu, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, xây dựng bài giảng điện tử, học liệu mở. Quá trình triển khai cần quán triệt tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW đã xác định: “Coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực người học toàn diện (Đức-Trí-Thể-Mỹ), gắn học với thực hành. Đẩy mạnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo”, bảo đảm thống nhất giữa yêu cầu chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng Nhà trường quân sự.

Năm là, xây dựng môi trường học tập số và văn hóa số trong Nhà trường quân sự

Xây dựng môi trường học tập số và hình thành văn hóa số trong Nhà trường quân sự có vai trò nền tảng trong phát triển kỹ năng số cho học viên, đồng thời tạo động lực thúc đẩy đổi mới toàn diện hoạt động giáo dục – đào tạo. Nếu hạ tầng kỹ thuật là điều kiện vật chất và đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt, thì môi trường và văn hóa số chính là “không gian phát triển”, nơi các năng lực số được hình thành, rèn luyện và củng cố một cách thường xuyên, bền vững.

Nhà trường cần từng bước hình thành thói quen học tập, nghiên cứu và làm việc trên các nền tảng số; khuyến khích học viên chủ động khai thác học liệu điện tử, thư viện số, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; sử dụng hiệu quả hệ thống quản lý học tập và các công cụ hỗ trợ cộng tác trực tuyến. Đồng thời, xây dựng và hoàn thiện quy chế quản lý, khai thác, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu trong Nhà trường theo hướng khoa học, chặt chẽ, bảo đảm an toàn, bảo mật. Cùng với đó, đẩy mạnh các phong trào thi đua nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ vào học tập, huấn luyện và rèn luyện kỷ luật, qua đó lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn đơn vị.

Để xây dựng môi trường học tập số, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đưa nội dung xây dựng môi trường và văn hóa số vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác hằng năm; gắn kết quả tham gia hoạt động số với đánh giá, xếp loại tập thể và cá nhân. Tổ chức các diễn đàn học thuật, cuộc thi ý tưởng sáng tạo, ngày hội công nghệ; biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong ứng dụng công nghệ số. Quá trình triển khai cần quán triệt tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW xác định: “Xây dựng các nền tảng giáo dục thông minh, sách giáo khoa, giáo trình thông minh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá”, bảo đảm môi trường số trong Nhà trường quân sự phát triển đúng định hướng, an toàn và hiệu quả.

Thông qua đó, từng bước hình thành văn hóa số quân sự – đặc trưng bởi tính kỷ luật, chuẩn mực, trách nhiệm và sáng tạo trong môi trường số – tạo nền tảng vững chắc để phát triển nguồn nhân lực quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và năng lực làm chủ công nghệ hiện đại trong thời kỳ mới.

3. Kết luận

Phát triển kỹ năng số cho học viên trong các Nhà trường quân sự là nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là quá trình đổi mới toàn diện từ nhận thức, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy đến đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xây dựng môi trường học tập số phù hợp với đặc thù quân sự.

Việc triển khai các giải pháp cần đặt trong tổng thể thực hiện chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết 1657-NQ/QUTW về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Thực hiện tốt nội dung này sẽ giúp học viên hình thành tư duy số, năng lực làm chủ công nghệ, khả năng thích ứng với môi trường tác chiến hiện đại, qua đó đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới./.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phá triển giáo dục và đào tạo.

[2] Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QD-TTg Phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Hà Nội.

[3] Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Khung năng lực công dân số Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.

[4] Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

[5] Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo.

DEVELOPING DIGITAL SKILLS FOR CADETS IN MILITARY ACADEMIES TODAY

Đặng Quang Tuyển

Nguyễn Huệ University

Email: [email protected]

Abstract: In response to the requirements of accelerating national digital transformation and building the Vietnam People’s Army into a revolutionary, regular, elite, and modern force, developing digital skills for cadets in military academies has become an important and urgent task. This article clarifies the theoretical foundations of digital skills, the connotation of digital skills in the military environment, and their role in officer training. On that basis, it analyzes the factors affecting the development of digital skills among cadets; proposes fundamental requirements and a comprehensive system of solutions to enhance the effectiveness of digital skill development in accordance with the specific characteristics of military education and training, thereby contributing to the objective of training qualified officer corps in the current period.

Keywords: Digital skills; digital skill development; military cadets; military academies; digital transformation; officer training.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.