PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN

05:30 | 21/05/2026
Đặng Ngọc Tuyển Phòng Đào tạo, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Trong quá trình đổi mới, lý luận về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng không ngừng phát triển và hoàn thiện, từ chỗ thừa nhận sự tồn tại khách quan đến xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, huy động các nguồn lực xã hội và thúc đẩy đổi mới sá

Đặng Ngọc Tuyển

Phòng Đào tạo, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong quá trình đổi mới, lý luận về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng không ngừng phát triển và hoàn thiện, từ chỗ thừa nhận sự tồn tại khách quan đến xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, huy động các nguồn lực xã hội và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; tuy nhiên vẫn còn những hạn chế về quy mô, năng lực cạnh tranh, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực… Trên cơ sở phân tích quá trình phát triển lý luận của Đảng và thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Từ khóa: kinh tế tư nhân; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quan điểm của Đảng.

Nhận bài: 9/5/2026; Biên tập:10/5/2026; Phản biện: 10/5/2026; Duyệt đăng: 13/5/2026.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra phải tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng khi xác định phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài, gắn với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.

Từ yêu cầu đó, việc nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân, đánh giá thực trạng phát triển của khu vực này và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Sự phát triển quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân

Trong quá trình đổi mới đất nước, quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ xem kinh tế tư nhân là khu vực cần cải tạo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng từng bước khẳng định vị trí, vai trò và động lực phát triển của khu vực kinh tế này trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển nhận thức đó phản ánh quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển đất nước và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đánh dấu bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế khi chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Văn kiện Đại hội VI khẳng định: “Cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” (1). Quan điểm này thể hiện bước chuyển căn bản từ tư duy phủ nhận sang thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đến Đại hội VII (1991), nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân tiếp tục có bước phát triển khi khẳng định nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nêu rõ: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (2). Đồng thời, Đảng xác định kinh tế cá thể, tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể. Những quan điểm này cho thấy Đảng đã chuyển từ chỗ chỉ “cho phép tồn tại” sang từng bước tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển trong khuôn khổ pháp luật.

Đại hội VIII (1996) tiếp tục mở rộng nhận thức lý luận về vai trò của kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước” (3). Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng bởi lần đầu tiên khu vực kinh tế tư bản tư nhân được nhìn nhận không chỉ là khu vực tồn tại khách quan mà còn có đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quan điểm này đã tạo tiền đề cho việc ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bước sang Đại hội IX (2001), Đảng có bước phát triển mạnh mẽ hơn trong nhận thức về kinh tế tư nhân khi xác định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội IX nêu rõ: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm” (4). Đồng thời, Đảng khẳng định: “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (5). Quan điểm này đánh dấu bước chuyển từ tư duy “thừa nhận” sang tư duy “bình đẳng” giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường chính trị và pháp lý thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực.

Đại hội X (2006) tiếp tục khẳng định yêu cầu tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh: “Xóa bỏ mọi rào cản, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng theo pháp luật” (6). Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó khu vực kinh tế tư nhân được nhìn nhận như một chủ thể quan trọng của nền kinh tế. Từ đó, nhiều chính sách cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân được triển khai mạnh mẽ trong thực tiễn.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu tiên khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế” (7). Đây là bước phát triển đột phá trong tư duy lý luận của Đảng khi chính thức xác lập vai trò “động lực” của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đại hội XII (2016) tiếp tục hoàn thiện nhận thức lý luận của Đảng khi nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh mẽ hơn nữa khu vực kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội XII khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” (8). Quan điểm này cho thấy Đảng không chỉ khẳng định vai trò động lực mà còn nhấn mạnh tính “quan trọng” của kinh tế tư nhân trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Đây cũng là cơ sở lý luận trực tiếp để Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) chủ trương phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Đại hội chỉ rõ: “Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế” (9).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tổng kết 40 năm đổi mới, Đại hội XIV khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về quy mô, chất lượng và năng lực cạnh tranh. Đảng nhấn mạnh “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (10), đồng thời chủ trương xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp. Quan điểm này tiếp tục được Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định khi nhấn mạnh cần “quán triệt lại định hướng quan điểm và nhận thức trong cả hệ thống chính trị về vai trò của kinh tế tư nhân như là động lực tăng trưởng quan trọng hàng đầu của đất nước” và xác định “phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược, chính sách lâu dài của quốc gia”. Điều đó cho thấy nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân đã phát triển từ chỗ thừa nhận sự tồn tại khách quan đến xác định đây là lực lượng quan trọng hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

2.2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn và lĩnh vực hoạt động. Nếu như giai đoạn đầu đổi mới khu vực này chủ yếu tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ thì đến nay đã hình thành đội ngũ doanh nghiệp tư nhân đông đảo, hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Đến năm 2025, cả nước có gần 1 triệu doanh nghiệp tư nhân và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển thành các tập đoàn kinh tế lớn, tham gia vào những lĩnh vực đòi hỏi trình độ công nghệ và năng lực quản trị cao như công nghệ thông tin, hạ tầng giao thông, hàng không, logistics, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và thương mại điện tử. Sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân đã cho thấy hiệu quả của đường lối đổi mới, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển đất nước. Hiện nay, kinh tế tư nhân là khu vực đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực này đã góp phần quan trọng vào việc huy động nguồn vốn trong dân cư, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với đó, sự phát triển năng động của kinh tế tư nhân đã tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn từng bước mở rộng đầu tư, sản xuất và kinh doanh ra thị trường khu vực và quốc tế.

Một trong những đóng góp nổi bật của khu vực kinh tế tư nhân là khả năng tạo việc làm với quy mô lớn và linh hoạt. Theo số liệu hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân tạo việc làm cho hơn 40 triệu lao động, chiếm trên 82% tổng số lao động của nền kinh tế. Sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể đã góp phần quan trọng vào giảm tỷ lệ thất nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân ngày càng quan tâm hơn đến trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực vào các hoạt động an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ giáo dục, y tế và phát triển cộng đồng. Điều này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân không chỉ đóng vai trò kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc trong quá trình phát triển đất nước.

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ về trình độ công nghệ, năng lực quản trị và khả năng cạnh tranh quốc tế. Một số doanh nghiệp đã tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính và đổi mới sáng tạo. Theo đánh giá của Tổng Bí thư Tô Lâm, nếu được tạo điều kiện phát triển thuận lợi, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam “hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới”. Sự xuất hiện của nhiều thương hiệu tư nhân lớn trong các lĩnh vực công nghệ, sản xuất công nghiệp, hàng không, dịch vụ và thương mại quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế của kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Quảng cáo

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Những hạn chế này tập trung chủ yếu ở quy mô và năng lực nội tại của doanh nghiệp còn thấp; năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế; môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều rào cản.

Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và trình độ quản trị còn hạn chế. Theo thống kê, khoảng 95% doanh nghiệp tư nhân thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa; trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm tỷ lệ áp đảo. Quy mô vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản trị của nhiều doanh nghiệp còn thấp, sức chống chịu trước biến động thị trường còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn, thiếu tính liên kết và phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Năng lực đổi mới sáng tạo, trình độ công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp tư nhân còn yếu. Hiện nay, số doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ còn khá thấp. Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, chủ yếu tham gia vào các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp. Sự liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực doanh nghiệp FDI còn hạn chế, khiến khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu chưa cao.

Môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển của kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, song trên thực tế doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận đất đai, vốn tín dụng, nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ hội đầu tư kinh doanh. Thủ tục hành chính ở nhiều lĩnh vực còn phức tạp; tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và chi phí không chính thức vẫn tồn tại, làm gia tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

2.3. Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về thể chế, chính sách và tổ chức thực hiện, nhằm tháo gỡ các rào cản phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy tối đa tiềm năng của khu vực kinh tế này trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch và thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế đang cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, ổn định, minh bạch và dễ thực thi; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ pháp luật, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, hạn chế tình trạng chồng chéo giữa các văn bản pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi công vụ.

Thứ hai, nâng cao năng lực nội tại, quy mô và sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam

Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính, trình độ quản trị và khả năng thích ứng với cạnh tranh quốc tế. Nhà nước cần khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh có khả năng dẫn dắt chuỗi sản xuất và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn, đất đai, thông tin thị trường và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ trong khu vực kinh tế tư nhân

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, đổi mới sáng tạo và công nghệ là yếu tố quyết định năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, trung tâm hỗ trợ công nghệ và cơ chế thử nghiệm chính sách cho các lĩnh vực công nghệ mới. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tiếp cận hiệu quả các nguồn lực phát triển và tham gia vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm của quốc gia

Một trong những rào cản lớn đối với khu vực kinh tế tư nhân hiện nay là khả năng tiếp cận vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và cơ hội đầu tư còn hạn chế. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát triển. Nhà nước cần mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các dự án hạ tầng chiến lược, công nghiệp nền tảng, năng lượng, logistics, chuyển đổi số và công nghệ cao. Đồng thời, cần phát triển mạnh thị trường vốn, thị trường khoa học - công nghệ và các thiết chế hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Thứ năm, phát triển kinh tế tư nhân gắn với trách nhiệm xã hội, phát triển bền vững và định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát triển kinh tế tư nhân không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Vì vậy, cần khuyến khích doanh nghiệp tư nhân thực hiện trách nhiệm xã hội, nâng cao đạo đức kinh doanh, bảo vệ môi trường và chăm lo đời sống người lao động. Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch và giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội doanh nghiệp trong định hướng, hỗ trợ và xây dựng văn hóa doanh nhân Việt Nam giàu lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và trách nhiệm đối với xã hội.

3. Kết luận

Có thể khẳng định rằng, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân sau 40 năm đổi mới là kết quả trực tiếp của quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ chỉ được thừa nhận tồn tại, kinh tế tư nhân ngày nay đã được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Thực tiễn phát triển cho thấy kinh tế tư nhân không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân mà còn từng bước khẳng định vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để khu vực kinh tế này thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và phát huy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại và phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 57.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 11.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 91.

(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 98, tr. 99.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 83.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 209.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 104.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 240.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 95.

(11) Tô Lâm (2025), Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.