PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA” VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

15:38 | 09/02/2026
PGS.TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời

PGS.TS Trần Đình Tuấn -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục theo định hướng “5 hóa”, gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Từ khóa: Giáo dục, 5 hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, số hóa, hội nhập quốc tế.

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA” VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

PGS.TS.NGƯT Trần Đình Tuấn

1. Mở đầu

Giáo dục là nền tảng của phát triển xã hội và động lực quan trọng của tiến bộ quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” là cách tiếp cận toàn diện, thể hiện tầm nhìn chiến lược nhằm xây dựng nền giáo dục chuẩn mực, hiện đại, dân chủ, cởi mở và hội nhập. “5 hóa” bao gồm: Chuẩn hóa nền giáo dục, Hiện đại hóa nền giáo dục, Xã hội hóa nền giáo dục, Dân chủ hóa nền giáo dục, Số hóa nền giáo dục.

2. Tổng quan về “5 hóa”

2.1. Chuẩn hóa nền giáo dục

Chuẩn hoá giáo dục là việc xác lập và thực hiện những tiêu chuẩn, tiêu chí cơ bản cần đạt tới nhằm làm cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển đúng hướng. Chuẩn hóa là cơ sở để đảm bảo chất lượng và thống nhất trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân. Những tiêu chuẩn cơ bản được xác lập phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và theo hướng giáo dục tiên tiến, hiện đại.

Chuẩn hoá giáo dục bao gồm nhiều lĩnh vực như: Chuẩn quốc gia đối với các loại hình trường lớp. Chuẩn chương trình, chuẩn đầu ra. Chuẩn đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên về trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức…Chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, các tổ chức và hoạt động giáo dục, chất lượng đào tạo, nội dung chương trình, sách giáo khoa, yêu cầu cơ bản kiến thức kỹ năng cần đạt tới ở từng môn học, cấp học…

Mục tiêu của chuẩn hóa là tạo ra một nền tảng thống nhất, minh bạch và có thể đánh giá được, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và tính cạnh tranh quốc tế. Giải pháp chính để chuẩn hóa là hoàn thiện khung trình độ quốc gia, xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng theo chuẩn quốc tế, và tăng cường đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn nghề nghiệp. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chuẩn hoá nhiều lĩnh vực của sự nghiệp giáo dục - đào tạo thời gian qua đã đạt được những kết qủa quan trọng, đưa sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước nhà tiến lên một bước mới

Tuy nhiên, trong thực tiễn đổi mới giáo dục thời gian qua cho thấy còn có những sai lệch trong nhận thức và tổ chức thực hiện về chuẩn hóa giáo dục.

Về nhận thức: Không ít người còn đồng nhất “chuẩn hóa” với “đồng loạt hóa”, “đồng nhất hóa”. Nhiều cán bộ quản lý, giáo viên hiểu rằng chuẩn hóa nghĩa là mọi trường, mọi chương trình, mọi người dạy, người học giống nhau, cùng một khuôn mẫu. Sai lầm này dẫn đến tình trạng “rập khuôn” trong thiết kế chương trình, phương pháp, cách đánh giá, làm giảm tính sáng tạo, tính đặc thù vùng miền, cá nhân và nhà trường.

Một số người hiểu chuẩn là “mức trần”, không phải “mức sàn”. Chuẩn được đặt ra để đảm bảo mức tối thiểu (mức sàn), nhưng nhiều nơi lại xem đó là mức cao nhất cần đạt, không có động lực vượt chuẩn, làm giáo dục dừng lại ở mức “đủ chuẩn” thay vì “phát triển vượt chuẩn”.

Một xu hướng khác, nhận thức chuẩn hóa chỉ là vấn đề kỹ thuật hoặc hành chính. Một số nơi coi chuẩn hóa là công việc “giấy tờ”, làm hồ sơ, đạt chuẩn theo biểu mẫu để đủ điều kiện kiểm định, chứ không xem đó là quá trình thay đổi văn hóa chất lượng và năng lực thực hành.

Một xu hướng nhận thức đồng nhất chuẩn hóa với kiểm định chất lượng hoặc thi đua khen thưởng. Chuẩn hóa bị biến thành thủ tục “đạt chuẩn để được khen”, khiến mục tiêu cốt lõi (nâng cao năng lực hệ thống, chất lượng học tập) bị che khuất.

Không nhận thức đúng vai trò của người học trong chuẩn hóa. Nhiều nhận thức tập trung vào chuẩn hóa đầu vào, cơ sở vật chất, đội ngũ mà quên rằng chuẩn đầu ra của người học mới là trung tâm của chuẩn hóa giáo dục.

Thiếu phân biệt giữa chuẩn hóa và hiện đại hóa. Một số cán bộ quản lý lẫn lộn hai khái niệm: “chuẩn hóa” (đảm bảo tối thiểu, nhất quán) và “hiện đại hóa” (đổi mới, ứng dụng công nghệ, hướng tương lai). Kết quả là đầu tư dàn trải vào công nghệ mà bỏ quên chuẩn chất lượng cốt lõi.

Những sai lệch trong tổ chức thực hiện chuẩn hóa giáo dục thường gặp: Thiếu đồng bộ giữa các cấp, các khâu. Việc ban hành chuẩn không gắn liền với các cơ chế thực thi, giám sát, kiểm tra và điều chỉnh. Một số chuẩn ở cấp trên chưa được cụ thể hóa xuống cơ sở, dẫn đến tình trạng “trên bảo dưới không nghe” hoặc “không biết làm thế nào cho đúng”.

Bệnh hình thức, chạy theo thành tích. Chuẩn hóa bị biến thành cuộc “chạy đua giấy chứng nhận đạt chuẩn”, trong khi thực tế chất lượng dạy học không thay đổi. Hồ sơ, số liệu được làm đẹp để “đạt chuẩn”, nhưng không phản ánh đúng thực chất.

Không gắn chuẩn hóa với cải tiến liên tục. Sau khi “đạt chuẩn”, nhiều cơ sở giáo dục dừng lại, không tiếp tục nâng cấp, cải tiến, khiến chuẩn hóa trở thành “điểm kết thúc” thay vì “điểm khởi đầu cho phát triển”.

Thiếu hệ thống đánh giá, kiểm định độc lập và tin cậy. Các tổ chức đánh giá còn phụ thuộc vào cơ quan quản lý, thiếu khách quan, dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Thiếu nguồn lực và cơ chế hỗ trợ đạt chuẩn. Nhiều địa phương, đặc biệt vùng sâu vùng xa, bị áp cùng một bộ chuẩn như đô thị, nhưng không có nguồn lực tương ứng (kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất).

Thiếu liên kết giữa chuẩn hóa – đào tạo – bồi dưỡng – tuyển dụng. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn cán bộ quản lý ban hành nhưng chưa gắn với chế độ đãi ngộ, cơ hội thăng tiến hoặc đánh giá kết quả công việc, làm cho chuẩn hóa trở nên hình thức.

Chưa coi trọng vai trò của văn hóa chất lượng trong quá trình chuẩn hóa. Thực hiện chuẩn hóa thiên về “chuẩn kỹ thuật”, thiếu “chuẩn giá trị” (thái độ, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, văn hóa tổ chức học tập).

Nguyên nhân của các sai lệch: Nhận thức chưa thống nhất về bản chất, mục tiêu và quy trình chuẩn hóa. Thiếu đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ quản lý, kiểm định viên và giáo viên về tiếp cận chuẩn. Áp lực thành tích, bệnh hình thức trong quản lý hành chính. Thiếu cơ chế giám sát độc lập và công cụ đánh giá thực chất. Hệ thống chính sách chưa đồng bộ giữa chuẩn hóa – đầu tư – kiểm định – khen thưởng.

Hệ quả của những sai lệch trong nhận thức và tổ chức thực hiện đã làm cho chất lượng giáo dục giữa các vùng, các trường vẫn chênh lệch lớn. “Đạt chuẩn” nhưng không bảo đảm chất lượng thực chất. Mất niềm tin của xã hội vào các danh hiệu, chứng nhận “chuẩn”. Lãng phí nguồn lực do đầu tư hình thức, không hiệu quả. Giảm động lực cải tiến, đổi mới sáng tạo trong nhà trường.

Để khắc phục những hạn chế trên đây câng phải thống nhất nhận thức chuẩn hóa là quá trình bảo đảm và nâng cao chất lượng, không phải là “đạt mốc hành chính”. Coi chuẩn là mức sàn — hướng đến vượt chuẩn, khuyến khích đổi mới sáng tạo và đặc thù địa phương. Gắn chuẩn hóa với văn hóa chất lượng và trách nhiệm giải trình. Tăng cường kiểm định độc lập, công khai minh bạch dữ liệu chất lượng giáo dục. Xây dựng cơ chế hỗ trợ vùng khó khăn để bảo đảm tính công bằng trong đạt chuẩn. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ quản lý và giáo viên về chuẩn hóa, đánh giá và cải tiến chất lượng. Đưa chuẩn hóa vào chu trình PDCA (Plan–Do–Check–Act) để bảo đảm cải tiến liên tục.

Tóm lại, sai lệch lớn nhất hiện nay là nhận thức và thực hiện chuẩn hóa theo hướng hành chính, hình thức, thay vì hướng đến bảo đảm và phát triển thực chất chất lượng giáo dục. Muốn khắc phục, phải xây dựng văn hóa chuẩn hóa, trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục, đặt người học làm trung tâm, coi chuẩn là động lực phát triển chứ không phải điểm kết thúc. Bottom of Form

Chuẩn hoá và hiện đại hoá giáo dục có quan hệ mật thiết với nhau. Hoạt động theo hướng chuẩn hoá phát triển sẽ đạt được yêu cầu của hiện đại hoá. Hiện đại hoá thành công sẽ đạt được chuẩn

2.2. Hiện đại hóa nền giáo dục

"Hiện đại hoá” là yêu cầu khách quan trong quá trình đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo. “Hiện đại hoá” vừa là một mục tiêu vừa là động lực của “chuẩn hoá”. Hiện nay, quan niệm về hiện đại hoá nền giáo dục vẫn còn những khuynh hướng quan điểm nhận thức chưa nhất quán. Đối với một số người, hiện đại hoá là xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật dạy học hiện đại. Một số khác lại quan niệm rằng, hiện đại hoá là phải áp dụng các mô hình đào tạo của các nước phát triển vào các nhà trường Việt Nam.

Một nền giáo dục được coi là hiện đại thì nhất thiết phải chứa đựng những tính chất tiên tiến của dân tộc và thời đại, gianh giới phát triển của nền giáo dục đó không được đi sau sự phát triển của xã hội, không chệch hướng vượt ra ngoài mục tiêu chính trị và điều kiện xã hội lịch sử cụ thể của quốc gia. Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến là nền giáo dục có tốc độ phát triển tương thích với tốc độ phát triển của xã hội, có tác dụng đón trước sự phát triển, dẫn dắt từng bước cho sự phát triển của xã hội. Nghĩa là, nền giáo dục hiện đại, tiên tiến phải là nền giáo dục đảm bảo được tính lịch sử, tính giai cấp, tính khoa học, dân tộc và đại chúng.

Tính tiên tiến của nền giáo dục hiện đại được thể hiện trong mục tiêu và chính sách công bằng xã hội về giáo dục. Một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục hiện đại, tiên tiến là tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học tập, ở đó ai cũng được học hành, ai cũng có cơ hội để phát triển hoàn toàn phẩm chất, năng lực của cá nhân đáp ứng yêu cầu của xã hội. Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến là nền giáo dục luôn cập nhật các xu hướng phát triển của lý luận và thực tiễn giáo dục thời đại. Trong xu thế hội nhập quốc tế, nền giáo dục hiện đại, tiên tiến phải chủ động nắm bắt được những thời cơ và vượt qua được những thử thách do quá trình hội nhập sinh ra, phải vươn lên ngang tầm khu vực và quốc tế.

Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến không có nghĩa là phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc mà ngược lại phải giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Nhà trường bao giờ cũng là trung tâm văn hoá, chính trị của một quốc gia, là nơi thu thập, lưu giữ, truyền thụ những giá trị văn hoá của dân tộc và thời đại đến người học. Một nhà trường được xem là hiện đại, đạt chuẩn quốc tế thì phải thực sự là cái nôi nuôi dưỡng đạo đức và trí tuệ cho người học. Chỉ khi nào người học thấm nhuần những giá trị văn hoá, đạo đức của dân tộc Việt Nam thì việc tiếp thu các giá trị văn hoá tiên tiến của thế giới mới thực sự có ý nghĩa.

Theo quan điểm đó, “hiện đại hóa” giáo dục là cách thức kết hợp những thành tựu của khoa học giáo dục với những thành tựu của khoa học, công nghệ trong quá trình giáo dục, dựa trên một quan điểm phương pháp luận tiên tiến của thời đại nhằm tạo ra những hệ dạy học tối ưu đón trước sự phát triển.

Ngày nay, hiện đại hóa hướng tới ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học – công nghệ, đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện và quản trị giáo dục. Giáo dục hiện đại phải chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, từ mô hình “đóng” sang “mở”. Các nội dung trọng tâm của hiện đại hóa nền giáo dục là phát triển chương trình theo tiếp cận năng lực, xây dựng môi trường học tập thông minh, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ giáo dục (EdTech) trong dạy – học và quản lý.

2.3. Xã hội hóa nền giáo dục

Xã hội hóa là quá trình huy động toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục – từ Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội đến người dân. Nó thể hiện tinh thần “giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”, nhằm đa dạng hóa nguồn lực, nâng cao trách nhiệm xã hội và mở rộng cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Các giải pháp chủ yếu của xã hội hóa nền giáo dục là khuyến khích đầu tư tư nhân, thúc đẩy hợp tác công – tư, xây dựng quỹ khuyến học, và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng.

2.4. Dân chủ hóa nền giáo dục

Dân chủ hóa giáo dục là bảo đảm quyền học tập, quyền tự chủ, tự do học thuật và sự tham gia của người học, nhà giáo và xã hội trong quản lý, đánh giá giáo dục. Nó gắn liền với công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hệ thống giáo dục. Giải pháp trọng tâm của dân chủ hóa nền giáo dục là mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục, thiết lập cơ chế phản hồi hai chiều giữa nhà trường – người học – xã hội, và xây dựng văn hóa đối thoại trong nhà trường.

2.5. Số hóa nền giáo dục

Quảng cáo

Số hóa là trụ cột mới trong chiến lược phát triển giáo dục thế kỷ XXI. Nó bao gồm việc chuyển đổi toàn bộ hoạt động dạy học, quản lý, kiểm định, nghiên cứu và đánh giá sang môi trường số. Các yếu tố then chốt của số hóa nền giáo dục là xây dựng hạ tầng công nghệ số, phát triển hệ thống học liệu mở, dữ liệu giáo dục quốc gia, và đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Số hóa không chỉ là công cụ mà còn là động lực đổi mới sáng tạo, giúp giáo dục Việt Nam hòa nhập sâu với thế giới.

3. Phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” gắn với hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế trong giáo dục là quá trình giao lưu, hợp tác, chia sẻ tri thức và chuẩn mực toàn cầu. Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Gội nhập quốc tế vừa tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển, vừa đặt ra những thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Phát triển “5 hóa” giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín học thuật quốc tế. Tạo điều kiện chuyển giao công nghệ, chương trình và nguồn nhân lực chất lượng cao. Góp phần xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt, phù hợp với chuẩn khu vực (ASEAN) và toàn cầu. Để hội nhập hiệu quả, cần đồng thời nâng cao năng lực ngoại ngữ, tăng cường hợp tác quốc tế, công nhận tín chỉ – văn bằng lẫn nhau, và phát triển các chương trình liên kết đào tạo đa quốc gia.

4. Giải pháp chủ yếu phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới

4.1. Hoàn thiện thể chế, chính sách giáo dục theo hướng mở và linh hoạt

Đây là giải pháp nền tảng, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai đồng bộ “5 hóa”. Thể chế giáo dục hiện đại, minh bạch và linh hoạt giúp điều tiết hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo đảm tính công bằng, dân chủ và hội nhập quốc tế. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng hệ thống chính sách, quy định và tiêu chuẩn quản lý giáo dục phù hợp với xu thế toàn cầu, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, tự chủ, và số hóa giáo dục.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là rà soát, điều chỉnh các văn bản pháp quy về giáo dục để phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số và hội nhập. Ban hành cơ chế khuyến khích tự chủ học thuật, tự chủ tài chính, và tự chủ tổ chức cho các cơ sở giáo dục. Xây dựng chính sách thu hút đầu tư, hợp tác quốc tế trong giáo dục – đào tạo. Hoàn thiện hệ thống kiểm định, công nhận chất lượng giáo dục theo chuẩn khu vực và quốc tế.

Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, ngành xây dựng khung thể chế đồng bộ, gắn kết giữa giáo dục, khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Thành lập nhóm công tác liên ngành về “chính sách giáo dục mở” để giám sát, đánh giá và điều chỉnh định kỳ. Tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà giáo, nhà khoa học, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách.

4.2. Đầu tư hạ tầng số và nhân lực công nghệ giáo dục

Đây là giải pháp trọng điểm để thực hiện hiệu quả “hiện đại hóa” và “số hóa” giáo dục. Hạ tầng số và nhân lực số là điều kiện vật chất và con người để chuyển đổi số thành công. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng nền tảng công nghệ giáo dục đồng bộ, an toàn và thông minh; phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực sử dụng, vận hành và sáng tạo công nghệ giáo dục.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nền tảng công nghệ phục vụ dạy học trực tuyến, quản lý học tập (LMS), và quản trị nhà trường số. Phát triển cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia, liên thông với dữ liệu lao động, khoa học – công nghệ. Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh, sinh viên. Thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ AI, Big Data, IoT, Blockchain trong giáo dục.

Cách thức tổ chức thực hiện: Nhà nước chủ trì đầu tư hạ tầng cốt lõi, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp nền tảng và dịch vụ số hóa giáo dục. Thiết lập mạng lưới trung tâm chuyển đổi số giáo dục ở các vùng, miền. Ký kết hợp tác giữa Bộ GD&ĐT và các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước (như VNPT, Viettel, Google for Education, Microsoft Education…). Xây dựng chương trình “Chuyển đổi số trong giáo dục Việt Nam đến 2030”.

4.3. Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong môi trường số

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là trung tâm của đổi mới giáo dục, là lực lượng quyết định thành công của quá trình “5 hóa”. Không có đội ngũ đạt chuẩn và năng lực số, mọi chính sách và công nghệ đều khó phát huy hiệu quả. Mục tiêu của giải pháp này nhằm phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục có năng lực sư phạm số, năng lực thích ứng và sáng tạo trong môi trường giáo dục hiện đại, hội nhập.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là chuẩn hóa và cập nhật chương trình bồi dưỡng nghề nghiệp, đưa kỹ năng số và phương pháp sư phạm hiện đại vào nội dung đào tạo. Đổi mới phương thức đánh giá giáo viên theo chuẩn năng lực nghề nghiệp, gắn với năng lực số và khả năng sáng tạo. Xây dựng mô hình “Trường sư phạm số” làm trung tâm đổi mới đào tạo giáo viên. Phát triển mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm, cộng đồng học tập trực tuyến của đội ngũ nhà giáo.

Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ GD&ĐT phối hợp với các trường sư phạm xây dựng chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng số. Triển khai các khóa học ngắn hạn, MOOC về “giảng dạy thông minh”, “quản lý học tập số”, “AI trong giáo dục”. Thực hiện chính sách khuyến khích nhà giáo đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ, sáng tạo học liệu số. Tổ chức hội thi, diễn đàn “Nhà giáo thời chuyển đổi số” để lan tỏa mô hình, điển hình tiên tiến.

4.4. Xây dựng văn hóa chất lượng và trách nhiệm giải trình trong giáo dục

Văn hóa chất lượng trong giáo dục là tập hợp giá trị, thái độ, hành vi và thực hành thường xuyên trong hệ thống giáo dục nhằm hướng tới cải tiến liên tục về hiệu quả dạy học, chương trình, quản trị và dịch vụ giáo dục. Trách nhiệm giải trình là cơ chế và văn hóa buộc các cá nhân, tổ chức trong hệ giáo dục phải chịu trách nhiệm về kết quả công việc, minh bạch thông tin và sẵn sàng giải thích, chịu kiểm tra với cộng đồng, cơ quan quản lý và người học.

Đây là yếu tố“chuẩn hóa” và “dân chủ hóa” cốt lõi, giúp bảo đảm tính minh bạch, liêm chính và chất lượng bền vững của hệ thống giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Mục tiêu của giải pháp này nhằm hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống, từ chính sách, quản lý đến giảng dạy, nghiên cứu; tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình. Củng cố niềm tin xã hội vào hệ thống giáo dục thông qua minh bạch và kết quả rõ ràng. Tạo động lực trách nhiệm cho nhà quản lý, nhà trường, giáo viên và học sinh, sinh viên. Thiết lập cơ chế giám sát, phản hồi và xử lý sai sót hiệu quả.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là xây dựng bộ tiêu chí đánh giá văn hóa chất lượng giáo dục. Tăng cường kiểm định nội bộ và bên ngoài, công khai kết quả đánh giá chất lượng. Thiết lập cơ chế giám sát độc lập và phản hồi xã hội trong giáo dục. Đưa giáo dục đạo đức nghề nghiệp, liêm chính học thuật vào đào tạo.

Cách thức tổ chức thực hiện: Mỗi cơ sở giáo dục xây dựng chiến lược đảm bảo chất lượng riêng, gắn với tiêu chí kiểm định quốc gia. Phát triển hệ thống quản lý chất lượng ISO, KPI, Balanced Scorecard trong trường học. Đưa tiêu chí “trách nhiệm giải trình” vào đánh giá, khen thưởng cán bộ quản lý. Tổ chức các diễn đàn trao đổi về văn hóa chất lượng, đạo đức học thuật và minh bạch giáo dục.

4.5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và chuyển giao mô hình giáo dục tiên tiến

Đây là động lực trực tiếp của quá trình hội nhập, giúp nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn hóa chương trình và tiếp cận mô hình giáo dục toàn cầu. Mục tiêu của giải pháp này nhằm mở rộng hợp tác quốc tế toàn diện trong giáo dục, khoa học và đào tạo nhân lực; tiếp nhận công nghệ giáo dục tiên tiến, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là xây dựng chương trình liên kết đào tạo với các trường đại học uy tín quốc tế. Tham gia mạng lưới kiểm định, công nhận văn bằng quốc tế. Khuyến khích trao đổi học giả, sinh viên, chuyên gia. Tiếp nhận chuyển giao mô hình quản trị, học liệu mở, công nghệ đào tạo số từ các tổ chức giáo dục quốc tế (UNESCO, OECD, ASEAN, AUN-QA…).

Cách thức tổ chức thực hiện: Ký kết và triển khai các hiệp định, thỏa thuận song phương và đa phương trong lĩnh vực giáo dục. Thành lập các trung tâm hợp tác và đổi mới giáo dục quốc tế tại các trường đại học trọng điểm. Đưa tiêu chí “quốc tế hóa” vào xếp hạng và đánh giá cơ sở giáo dục. Tăng cường năng lực ngoại ngữ, hội nhập văn hóa cho giáo viên và học sinh.

5. Kết luận

Phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa là định hướng chiến lược, thể hiện tư duy đổi mới toàn diện của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số sâu rộng. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của giáo dục, mà còn là con đường tất yếu để xây dựng nền giáo dục mở, nhân văn, sáng tạo và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới hiện đại.

Thứ nhất, chuẩn hóa giúp tạo nền tảng thống nhất về chất lượng, bảo đảm sự minh bạch và khả năng so sánh quốc tế của hệ thống giáo dục. Thứ hai, hiện đại hóa đưa giáo dục gắn liền với khoa học – công nghệ, đổi mới nội dung, phương pháp và mô hình quản trị nhà trường. Thứ ba, xã hội hóa khẳng định vai trò của toàn xã hội trong phát triển giáo dục, huy động nguồn lực, tri thức và trách nhiệm cộng đồng cùng tham gia. Thứ tư, dân chủ hóa mở rộng quyền tự chủ, tự do học thuật và sự tham gia của người học, người dạy trong quá trình ra quyết định, góp phần hình thành nền giáo dục công bằng, nhân bản.
Thứ năm, số hóa là động lực đột phá, giúp chuyển đổi toàn bộ hệ sinh thái giáo dục sang môi trường số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và học tập suốt đời.

Năm phương hướng “hóa” không tồn tại tách biệt, mà tác động tương hỗ và bổ trợ lẫn nhau. Khi được triển khai đồng bộ, chúng tạo nên một chỉnh thể phát triển hài hòa – từ nền tảng thể chế, hạ tầng, con người, văn hóa đến công nghệ. Điều này giúp giáo dục Việt Nam vừa kế thừa giá trị truyền thống, vừa bắt kịp xu thế toàn cầu, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện thành công định hướng “5 hóa” đòi hỏi sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp – xã hội và người dân, cùng với vai trò tiên phong của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Bên cạnh đó, cần kiên trì xây dựng cơ chế chính sách cởi mở, đẩy mạnh đầu tư cho chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục.

Phát triển giáo dục Việt Nam theo hướng “5 hóa” không chỉ là một nhiệm vụ chiến lược, mà còn là cam kết chính trị và xã hội đối với tương lai của đất nước – hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, nhân văn, bền vững, hội nhập và sáng tạo, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thế kỷ XXI theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thức XIV của Đảng đã đặt ra.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2023), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số.

[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2045.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 4/11/2013, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI,

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[6]. UNESCO (2021), Reimagining Our Futures Together: A New Social Contract for Education.

[7]. Nguyễn Minh Thuyết (2023), Giáo dục Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, NXB Giáo dục Việt Nam.

[8]. Hoàng Tụy: "Hiện đại hóa giáo dục để đi vào kinh tế tri thức“. 16 tháng 2, 2007

https://www.chungta.com/nd/tu-lieutracuu/hien_dai_hoa_giao_duc_de_di_vao_kinh_te_tri_thuc

DEVELOPING EDUCATION TOWARDS “FIVE-IZATION”

AND INTERNATIONAL INTEGRATION IN THE NEW ERA

Assoc. Prof. Dr. Tran Dinh Tuan -

Institute for Research on Educational Cooperation and Development

Email: [email protected]

Abstract: In the context of globalization and digital transformation, developing education in the direction of “Five -ization” — standardization, modernization, socialization, democratization, and digitalization — is an inevitable trend to enhance the quality, efficiency, and competitiveness of Vietnam’s education system. This paper analyzes the theoretical and practical basis, roles, and contents of each “-ization” approach, and proposes key solutions to promote the development of education under the “Five -ization” model in alignment with international integration and comprehensive educational reform.

Keywords: Education, Five-ization, Standardization, Modernization, Socialization, Democratization, Digitalization, International Integration.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.