PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP, RÈN LUYỆN CỦA HỌC VIÊN Ở CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

17:59 | 06/07/2026
Nguyễn Văn Quê, Phan Huy Đức, Nguyễn Trần Nam Khánh Tiểu đồn 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2 Email: [email protected] Tĩm tắt: Tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện là phẩm chất quan trọng, trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo học viên ở các nhà trường quân đội. Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, người học viên khơng chỉ cần nắm vững tri thức chuyên mơn, kỹ năng quân sự mà cịn phải cĩ bản lĩnh chính trị vững vàng,

Nguyễn Văn Quê, Phan Huy Đức, Nguyễn Trần Nam Khánh

Tiểu đoàn 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2

Email: [email protected]

Tóm tắt: Tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện là phẩm chất quan trọng, trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo học viên ở các nhà trường quân đội. Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, người học viên không chỉ cần nắm vững tri thức chuyên môn, kỹ năng quân sự mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tổ chức kỷ luật cao, tinh thần chủ động, sáng tạo và khả năng tự học suốt đời. Bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận về tính tích cực, tự giác; phân tích vai trò của tính tích cực, tự giác trong quá trình học tập, rèn luyện; chỉ ra một số biểu hiện, nguyên nhân hạn chế; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể của học viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong các nhà trường quân đội hiện nay.

Từ khóa: học viên quân đội; tính tích cực; tự giác; học tập; rèn luyện; nhà trường quân đội.

1. Đặt vấn đề

Giáo dục, đào tạo trong các nhà trường quân đội có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là quá trình chuẩn bị toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, tri thức, năng lực thực hành, phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ tương lai của quân đội. Trong quá trình đó, học viên vừa là đối tượng giáo dục, đào tạo, vừa là chủ thể trực tiếp của hoạt động học tập, rèn luyện. Chất lượng đào tạo vì vậy không chỉ phụ thuộc vào chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy hay điều kiện bảo đảm của nhà trường, mà còn phụ thuộc rất lớn vào tinh thần tích cực, tự giác của mỗi học viên.

Thực tiễn cho thấy, ở đâu học viên có động cơ học tập đúng đắn, có ý thức tự giác rèn luyện, biết chủ động khắc phục khó khăn, biết biến yêu cầu đào tạo thành nhu cầu phấn đấu của bản thân thì ở đó kết quả học tập, rèn luyện thường có chuyển biến rõ nét. Ngược lại, nếu học viên còn biểu hiện thụ động, học tập đối phó, rèn luyện thiếu thường xuyên, chưa xác định rõ trách nhiệm chính trị của người quân nhân thì hiệu quả giáo dục, đào tạo sẽ bị hạn chế.

Trong điều kiện hiện nay, tác động của kinh tế thị trường, mạng xã hội, lối sống thực dụng, tâm lý ngại khó, ngại khổ của một bộ phận thanh niên đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý, giáo dục học viên. Bên cạnh đó, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Quân đội, trực tiếp là việc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, đòi hỏi các nhà trường quân đội phải tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của người học. Nghị quyết này được xác định là một định hướng quan trọng nhằm đổi mới công tác giáo dục, đào tạo trong Quân đội, phục vụ mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Do đó, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên ở các nhà trường quân đội là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.

2. Cơ sở lý luận về tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên quân đội

Tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên quân đội là một phạm trù phản ánh thái độ chủ động, tự nguyện, có mục đích và có trách nhiệm của người học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật và phương pháp, tác phong công tác. Xét về bản chất, tính tích cực thể hiện ở sự hăng hái, chủ động, sáng tạo của học viên trong nhận thức và hành động; còn tính tự giác thể hiện ở khả năng tự nhận thức nhiệm vụ, tự xác định động cơ, tự điều chỉnh hành vi và tự chịu trách nhiệm trước kết quả học tập, rèn luyện của bản thân. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, trong đó tính tích cực tạo động lực thúc đẩy hành động, còn tính tự giác bảo đảm cho hành động đó diễn ra bền vững, đúng mục tiêu và phù hợp với yêu cầu giáo dục, đào tạo.

Trong môi trường nhà trường quân đội, tính tích cực, tự giác của học viên không chỉ biểu hiện ở kết quả học tập trên lớp, mà còn thể hiện toàn diện trong quá trình rèn luyện chính trị, quân sự, thể lực, chấp hành pháp luật, kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy, tham gia các hoạt động tập thể và thực hiện nhiệm vụ được giao. Khác với sinh viên ở các cơ sở giáo dục dân sự, học viên quân đội được đào tạo trong môi trường có tính tổ chức, tính kỷ luật và tính định hướng chính trị rất cao. Do đó, sự tích cực, tự giác của học viên phải gắn liền với mục tiêu đào tạo người cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Về phương diện giáo dục học, tính tích cực, tự giác là điều kiện quan trọng để chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Nếu hoạt động giáo dục chỉ dừng lại ở sự truyền đạt của giảng viên, sự quản lý của cán bộ và yêu cầu bắt buộc của đơn vị thì kết quả đạt được có thể chưa bền vững. Chỉ khi học viên nhận thức đúng mục tiêu đào tạo, có nhu cầu tự thân trong học tập, rèn luyện và biết tự tổ chức hoạt động của mình thì tri thức, kỹ năng, kỷ luật và tác phong mới từng bước chuyển hóa thành phẩm chất nhân cách. Vì vậy, phát huy tính tích cực, tự giác chính là phát huy vai trò chủ thể của học viên trong quá trình giáo dục, đào tạo.

Về phương diện tâm lý học, tính tích cực, tự giác được hình thành trên cơ sở sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và hành vi. Học viên chỉ có thể tự giác khi hiểu rõ ý nghĩa của nhiệm vụ; chỉ có thể tích cực khi có động cơ đúng đắn, niềm tin và ý chí phấn đấu. Trong thực tiễn đào tạo quân sự, mỗi nội dung học tập, huấn luyện, rèn luyện đều đặt ra những yêu cầu cao về sức khỏe, tinh thần, ý chí và khả năng vượt khó. Vì vậy, việc giáo dục động cơ, bồi dưỡng lý tưởng, xây dựng niềm tin, hình thành thói quen tự học, tự rèn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của học viên.

Từ góc độ xây dựng nhân cách người quân nhân cách mạng, tính tích cực, tự giác còn là biểu hiện cụ thể của tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và thái độ chính trị đúng đắn. Người học viên quân đội không học tập, rèn luyện đơn thuần vì lợi ích cá nhân, mà còn vì trách nhiệm đối với đơn vị, nhà trường, Quân đội và Tổ quốc. Mỗi kết quả học tập, mỗi chuyển biến trong rèn luyện đều góp phần trực tiếp vào quá trình hình thành phẩm chất, năng lực của người cán bộ, sĩ quan tương lai. Do vậy, phát huy tính tích cực, tự giác phải được đặt trong mối quan hệ thống nhất giữa yêu cầu giáo dục của tổ chức với nhu cầu tự hoàn thiện của cá nhân.

Bên cạnh đó, trong điều kiện đổi mới giáo dục, đào tạo hiện nay, yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực người học ngày càng được đề cao. Người học không chỉ tiếp thu tri thức có sẵn, mà còn phải biết tự học, tự nghiên cứu, biết phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Đối với học viên quân đội, yêu cầu này càng có ý nghĩa quan trọng, bởi sau khi ra trường, họ sẽ trực tiếp quản lý, chỉ huy, giáo dục bộ đội, xử trí các tình huống thực tiễn đa dạng, phức tạp. Nếu trong quá trình đào tạo, học viên thiếu tính tích cực, tự giác thì khó hình thành được năng lực độc lập, sáng tạo và bản lĩnh xử trí tình huống trong thực tiễn công tác.

Từ những cơ sở trên có thể khẳng định, phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên quân đội là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đây không phải là nhiệm vụ riêng của học viên, mà là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy; vai trò định hướng của giảng viên; phương pháp quản lý của cán bộ; môi trường giáo dục của tập thể; cùng với sự nỗ lực tự tu dưỡng, tự rèn luyện của từng học viên.

3. Vai trò của tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên quân đội

Tính tích cực, tự giác là sự chủ động, tự nguyện, có ý thức của học viên trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện, chấp hành kỷ luật và xây dựng tập thể. Đó không phải là sự cố gắng mang tính nhất thời, phong trào, mà là trạng thái bền vững của nhận thức, tình cảm, ý chí và hành động. Một học viên có tính tích cực, tự giác sẽ biết tự đặt ra yêu cầu cho bản thân, tự kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ, biết điều chỉnh hành vi, khắc phục hạn chế và không ngừng hoàn thiện mình.

Trước hết, tính tích cực, tự giác góp phần nâng cao chất lượng học tập. Trong môi trường đào tạo quân sự, khối lượng kiến thức lớn, yêu cầu học tập cao, nội dung đào tạo đa dạng, bao gồm cả khoa học xã hội và nhân văn quân sự, khoa học quân sự, kỹ thuật, chiến thuật, điều lệnh, thể lực, ngoại ngữ, tin học và kỹ năng thực hành. Nếu học viên chỉ trông chờ vào bài giảng trên lớp, học theo lối ghi nhớ máy móc, thiếu tự nghiên cứu thì khó có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo. Ngược lại, khi có tinh thần tự giác, học viên sẽ biết chuẩn bị bài, đọc tài liệu, trao đổi với giảng viên, liên hệ thực tiễn, vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống học tập và huấn luyện.

Thứ hai, tính tích cực, tự giác là cơ sở hình thành bản lĩnh, ý chí và tác phong quân nhân. Môi trường quân đội đòi hỏi mỗi học viên phải sống, học tập, rèn luyện theo nền nếp chính quy, kỷ luật nghiêm minh. Những yêu cầu như thức dậy đúng giờ, học tập đúng kế hoạch, luyện tập thể lực thường xuyên, chấp hành điều lệnh, giữ gìn lễ tiết tác phong, tham gia sinh hoạt tập thể… nếu chỉ thực hiện vì bị kiểm tra, nhắc nhở thì chưa thể tạo thành phẩm chất bền vững. Chỉ khi học viên nhận thức được ý nghĩa của từng nội dung rèn luyện và tự giác thực hiện thì kỷ luật mới chuyển hóa thành nhu cầu, thói quen và phẩm chất nhân cách.

Thứ ba, tính tích cực, tự giác góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đoàn kết, tiến bộ. Trong tập thể học viên, mỗi cá nhân đều có tác động qua lại với đồng chí, đồng đội. Một học viên tích cực sẽ góp phần lan tỏa tinh thần học tập nghiêm túc, ý thức trách nhiệm và tinh thần vượt khó. Ngược lại, biểu hiện thiếu tự giác, vi phạm kỷ luật, học tập đối phó, sinh hoạt tùy tiện có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tập thể. Vì vậy, phát huy tính tích cực, tự giác của từng học viên cũng chính là xây dựng sức mạnh giáo dục của tập thể đơn vị.

Thứ tư, tính tích cực, tự giác giúp học viên thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo. Hiện nay, giáo dục đại học nói chung và giáo dục trong nhà trường quân đội nói riêng đang chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Người học cần có khả năng tự học, tự nghiên cứu, tư duy phản biện, làm việc nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Những yêu cầu đó chỉ có thể đạt được khi học viên thực sự chủ động, tích cực tham gia vào quá trình đào tạo.

Thứ năm, tính tích cực, tự giác còn góp phần xây dựng ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và quy định của đơn vị. Trong Quân đội, kỷ luật là sức mạnh, là yếu tố bảo đảm cho mọi hoạt động được thống nhất, chính quy, hiệu quả. Việc xử lý kỷ luật trong Quân đội hiện nay được quy định cụ thể trong Thông tư số 143/2023/TT-BQP của Bộ Quốc phòng, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 02 năm 2024, thay thế Thông tư số 16/2020/TT-BQP. Điều đó cho thấy yêu cầu xây dựng ý thức chấp hành kỷ luật, phòng ngừa vi phạm ngay từ trong quá trình đào tạo học viên có ý nghĩa rất quan trọng.

4. Một số biểu hiện hạn chế trong học tập, rèn luyện của học viên hiện nay

Bên cạnh những kết quả tích cực, trong thực tế vẫn còn một số biểu hiện hạn chế cần quan tâm khắc phục.

Một là, một bộ phận học viên chưa xác định thật rõ động cơ, trách nhiệm trong học tập, rèn luyện. Có học viên còn xem việc học tập là nhiệm vụ bắt buộc, chưa thấy hết ý nghĩa của quá trình đào tạo đối với sự trưởng thành của bản thân và nhiệm vụ xây dựng quân đội. Vì vậy, trong học tập còn biểu hiện đối phó, thiếu chủ động, chưa tích cực nghiên cứu tài liệu, chưa mạnh dạn trao đổi, thảo luận, liên hệ thực tiễn.

Hai là, ý thức tự quản lý thời gian của một số học viên chưa cao. Trong môi trường nhà trường quân đội, thời gian học tập, huấn luyện, sinh hoạt được quy định chặt chẽ. Tuy nhiên, nếu thiếu phương pháp, học viên dễ rơi vào tình trạng học dồn, học lệch, chuẩn bị bài chưa chu đáo, chưa biết cân đối giữa học tập, rèn luyện thể lực, sinh hoạt tập thể và tự học.

Ba là, khả năng tự học, tự nghiên cứu của một số học viên còn hạn chế. Một số đồng chí còn phụ thuộc nhiều vào bài giảng của giảng viên, tài liệu có sẵn, chưa hình thành thói quen đọc mở rộng, ghi chép khoa học, hệ thống hóa kiến thức, đặt câu hỏi và tự tìm cách giải quyết vấn đề. Điều này làm giảm khả năng tư duy độc lập và vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Bốn là, trong rèn luyện kỷ luật, lễ tiết, tác phong, có thời điểm vẫn còn biểu hiện chưa thường xuyên, chưa bền vững. Một số học viên chấp hành tốt khi có kiểm tra, nhưng khi thiếu sự giám sát lại dễ giản đơn, chủ quan. Điều đó cho thấy yêu cầu rèn luyện chưa thật sự chuyển hóa thành nhu cầu tự thân.

Năm là, tác động từ môi trường xã hội và không gian mạng cũng ảnh hưởng nhất định đến nhận thức, thái độ, hành vi của học viên. Việc sử dụng mạng xã hội thiếu khoa học, tiếp nhận thông tin thiếu chọn lọc, bị chi phối bởi các xu hướng giải trí dễ dãi có thể làm phân tán sự tập trung, giảm hứng thú học tập và ảnh hưởng đến chất lượng rèn luyện.

Sáu là, một số học viên còn hạn chế trong việc gắn kết giữa học tập lý luận với rèn luyện thực tiễn. Có trường hợp nắm được nội dung bài học nhưng khả năng vận dụng vào xử trí tình huống, tham gia hoạt động tập thể, thực hiện chức trách được giao chưa cao. Điều này cho thấy việc học tập chưa thật sự chuyển hóa thành năng lực thực hành, phương pháp công tác và bản lĩnh giải quyết vấn đề trong môi trường quân sự.

5. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Về khách quan, yêu cầu đào tạo trong nhà trường quân đội ngày càng cao, nội dung học tập, huấn luyện nhiều, cường độ lớn, đòi hỏi học viên phải có ý chí và phương pháp phù hợp. Bên cạnh đó, tác động của môi trường xã hội, đặc biệt là mặt trái của mạng xã hội, lối sống hưởng thụ, tâm lý ngại khó, ngại khổ cũng ảnh hưởng đến một bộ phận học viên trẻ.

Về chủ quan, một số học viên chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của bản thân trong quá trình đào tạo. Việc xác định mục tiêu, động cơ phấn đấu có lúc chưa rõ; phương pháp tự học, tự rèn còn lúng túng; ý chí vượt khó chưa cao. Một số đồng chí còn trông chờ vào sự quản lý, nhắc nhở của cán bộ, chưa biết tự kiểm điểm, tự điều chỉnh hành vi.

Ngoài ra, công tác giáo dục, định hướng, quản lý ở một số thời điểm có thể còn nặng về yêu cầu hành chính, chưa thật sự khơi dậy được nhu cầu tự thân của học viên. Việc biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến có nơi chưa kịp thời; phương pháp tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện chưa thật sự phong phú, chưa tạo được nhiều môi trường để học viên phát huy vai trò chủ thể.

Một nguyên nhân khác là sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục có lúc chưa thật sự đồng bộ. Việc kết hợp giữa giảng viên, cán bộ quản lý, tổ chức đoàn, hội đồng quân nhân và tập thể học viên trong giáo dục, rèn luyện tính tự giác đôi khi còn thiếu chặt chẽ. Trong khi đó, tính tích cực, tự giác của học viên chỉ có thể được hình thành bền vững khi có sự tác động thường xuyên, thống nhất của cả môi trường giáo dục.

6. Một số giải pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên

Quảng cáo

6.1. Nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn cho học viên

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng. Cấp ủy, chỉ huy các cấp, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên cần thường xuyên giáo dục cho học viên nhận thức sâu sắc mục tiêu, yêu cầu đào tạo, vị trí, vai trò của người cán bộ quân đội trong tình hình mới. Học viên cần hiểu rằng học tập, rèn luyện không chỉ để hoàn thành chương trình, đạt điểm số hay danh hiệu thi đua, mà quan trọng hơn là để hình thành phẩm chất, năng lực, bản lĩnh và phương pháp công tác của người sĩ quan tương lai.

Nội dung giáo dục cần gắn giữa lý luận với thực tiễn, giữa nhiệm vụ học tập trong nhà trường với yêu cầu xây dựng đơn vị sau khi ra trường. Cần làm cho học viên thấy rõ mỗi giờ học, mỗi buổi huấn luyện, mỗi lần rèn luyện điều lệnh, thể lực, tác phong đều có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình trưởng thành của bản thân. Khi nhận thức đúng, học viên sẽ có động cơ đúng; khi động cơ đúng, hành động học tập, rèn luyện sẽ tích cực và bền vững hơn.

6.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy vai trò chủ thể của học viên

Giảng viên cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ lối truyền thụ một chiều sang tổ chức, định hướng hoạt động nhận thức của học viên. Trong từng bài giảng, cần tăng cường nêu vấn đề, giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức thảo luận, xử lý tình huống, liên hệ thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và quản lý bộ đội. Qua đó, học viên không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn được rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng phân tích, đánh giá và vận dụng.

Đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự, cần chú trọng gắn kiến thức lý luận với thực tiễn xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nhân cách người quân nhân cách mạng. Đối với các môn quân sự, kỹ thuật, chiến thuật, cần tăng cường thực hành, huấn luyện theo tình huống, phát huy khả năng xử trí linh hoạt của học viên. Khi người học được tham gia tích cực vào quá trình học tập, tính tự giác và hứng thú học tập sẽ được nâng cao.

6.3. Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn cho học viên

Tự học là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo hiện nay. Vì vậy, nhà trường và đơn vị quản lý học viên cần quan tâm hướng dẫn học viên phương pháp tự học khoa học. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào cách đọc tài liệu, ghi chép, lập kế hoạch học tập, hệ thống hóa kiến thức, chuẩn bị thảo luận, ôn tập, tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả.

Mỗi học viên cần xây dựng kế hoạch tự học phù hợp với nhiệm vụ từng tuần, từng tháng, từng học kỳ. Kế hoạch đó phải cụ thể, có mục tiêu rõ ràng, có nội dung trọng tâm và có biện pháp kiểm tra kết quả. Cán bộ quản lý không nên chỉ kiểm tra hình thức, mà cần hướng dẫn, giúp đỡ học viên hình thành thói quen tự học thực chất, tránh tình trạng học đối phó, học dồn trước kỳ kiểm tra.

Bên cạnh tự học, cần bồi dưỡng phương pháp tự rèn. Học viên cần biết tự đánh giá ưu điểm, hạn chế của bản thân trong chấp hành kỷ luật, rèn luyện thể lực, lễ tiết tác phong, quan hệ đồng chí, đồng đội và tham gia hoạt động tập thể. Từ đó, mỗi người xác định nội dung cần khắc phục, đăng ký phấn đấu và thường xuyên kiểm điểm kết quả thực hiện.

6.4. Phát huy vai trò của tập thể trong giáo dục tính tự giác

Tập thể học viên là môi trường trực tiếp tác động đến nhận thức và hành vi của từng cá nhân. Vì vậy, cần xây dựng tập thể đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, có tinh thần thi đua lành mạnh. Các tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội cần duy trì tốt nền nếp sinh hoạt, giao ban, nhận xét, bình xét thi đua; kịp thời biểu dương những cá nhân tích cực, đồng thời góp ý, giúp đỡ những đồng chí còn hạn chế.

Trong sinh hoạt tập thể, cần phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình trên cơ sở chân thành, xây dựng, tránh hình thức, nể nang hoặc áp đặt. Mỗi học viên cần thấy rõ trách nhiệm của mình đối với kết quả chung của tập thể. Khi tập thể có bầu không khí tích cực, mỗi cá nhân sẽ có thêm động lực để phấn đấu; ngược lại, khi cá nhân tiến bộ, tập thể cũng được củng cố vững mạnh hơn.

6.5. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, giáo dục và tự giáo dục

Trong nhà trường quân đội, quản lý chặt chẽ là yêu cầu cần thiết, nhưng mục tiêu cao hơn là hình thành năng lực tự quản lý, tự giáo dục của học viên. Do đó, cán bộ quản lý cần kết hợp giữa duy trì nghiêm kỷ luật với giải thích, thuyết phục, định hướng để học viên hiểu và tự giác chấp hành. Không nên tuyệt đối hóa biện pháp mệnh lệnh, hành chính, vì điều đó có thể làm học viên chấp hành một cách thụ động.

Cần giao nhiệm vụ cụ thể, phù hợp để học viên được rèn luyện trách nhiệm cá nhân. Những nhiệm vụ như phụ trách học tập, quản lý nền nếp, tổ chức hoạt động phong trào, giúp đỡ đồng chí học yếu, rèn yếu… là điều kiện tốt để học viên phát huy tính chủ động, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức thực tiễn.

6.6. Quản lý, định hướng việc sử dụng mạng xã hội, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh

Trong bối cảnh hiện nay, mạng xã hội tác động mạnh đến đời sống tinh thần của học viên. Vì vậy, cần giáo dục học viên sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, đúng quy định, có văn hóa và có trách nhiệm. Học viên cần biết lựa chọn thông tin tích cực, tránh sa vào nội dung độc hại, giải trí quá mức hoặc những xu hướng lệch chuẩn ảnh hưởng đến nhiệm vụ học tập, rèn luyện.

Bên cạnh quản lý, cần định hướng để học viên khai thác mặt tích cực của công nghệ số phục vụ học tập, nghiên cứu. Có thể khuyến khích việc sử dụng tài liệu điện tử, học liệu số, thư viện trực tuyến, phần mềm hỗ trợ học tập, các nhóm trao đổi học thuật phù hợp với quy định của đơn vị. Khi công nghệ được sử dụng đúng hướng, nó sẽ trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho quá trình tự học, tự rèn của học viên.

6.7. Kịp thời biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến

Thi đua, khen thưởng có tác dụng động viên, cổ vũ học viên phấn đấu. Tuy nhiên, việc biểu dương cần thực chất, kịp thời, đúng người, đúng việc, tránh hình thức. Cần quan tâm phát hiện những học viên có chuyển biến tiến bộ, những đồng chí vượt khó trong học tập, rèn luyện, những cá nhân có phương pháp tự học hiệu quả, có tinh thần giúp đỡ đồng đội.

Việc nhân rộng điển hình không chỉ nhằm tôn vinh cá nhân tiêu biểu, mà còn tạo ra chuẩn mực, động lực và kinh nghiệm cho tập thể học tập. Những mô hình như “đôi bạn cùng tiến”, “giờ tự học chất lượng”, “nhóm học tập theo chuyên đề”, “ngày rèn luyện tác phong chính quy” nếu được tổ chức nghiêm túc, sáng tạo sẽ góp phần thúc đẩy tính tích cực, tự giác của học viên.

6.8. Tăng cường kiểm tra, đánh giá thực chất kết quả học tập, rèn luyện của học viên

Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng nhằm điều chỉnh quá trình học tập, rèn luyện của học viên. Việc đánh giá cần bảo đảm khách quan, toàn diện, thực chất, kết hợp giữa kết quả học tập với kết quả rèn luyện, giữa đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lý với tự đánh giá của học viên và nhận xét của tập thể. Không nên chỉ coi trọng điểm số, mà cần quan tâm đến sự tiến bộ, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự học, tự rèn và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Cùng với đó, cần tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học, tự rèn của học viên; kịp thời phát hiện những biểu hiện hình thức, đối phó để uốn nắn. Việc kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện sai phạm, mà quan trọng hơn là giúp học viên tự nhìn nhận đúng bản thân, điều chỉnh phương pháp, xây dựng động cơ phấn đấu tích cực hơn. Khi công tác kiểm tra, đánh giá được tiến hành nghiêm túc, công bằng và có tính giáo dục, học viên sẽ có thêm động lực để tự giác học tập, rèn luyện, tránh tư tưởng trung bình chủ nghĩa hoặc chạy theo thành tích hình thức.

7. Kết luận

Phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện của học viên là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các nhà trường quân đội hiện nay. Đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa giáo dục nhận thức, đổi mới phương pháp dạy học, bồi dưỡng phương pháp tự học, xây dựng tập thể vững mạnh, quản lý chặt chẽ và phát huy vai trò tự giáo dục của học viên.

Trong bối cảnh nhiệm vụ xây dựng quân đội ngày càng đặt ra yêu cầu cao, mỗi học viên cần nhận thức sâu sắc rằng học tập, rèn luyện hôm nay chính là sự chuẩn bị trực tiếp cho trách nhiệm công tác ngày mai. Khi tính tích cực, tự giác trở thành nhu cầu tự thân, mỗi học viên sẽ có thêm động lực vượt qua khó khăn, hoàn thiện phẩm chất, năng lực, góp phần xây dựng nhà trường chính quy, mẫu mực, hiện đại và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Quốc phòng (2023), Thông tư số 143/2023/TT-BQP ngày 27/12/2023 quy định xử lý kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phá triển giáo dục và đào tạo.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[6]. Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

[7]. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[8]. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

PROMOTING ACTIVE AND SELF-DISCIPLINED LEARNING AND TRAINING AMONG CADETS IN MILITARY SCHOOLS TODAY

Nguyen Van Que, Phan Huy Duc, Nguyen Tran Nam Khanh
Battalion 1, Army Officer College No. 2
Email: [email protected]

Abstract: Active and self-disciplined learning and training are essential qualities that directly determine the quality of cadet education in military schools. In the context of building the Vietnam People's Army into a revolutionary, regular, elite, and modern force, cadets are required not only to master professional knowledge and military skills but also to possess strong political commitment, a high sense of discipline, proactiveness, creativity, and lifelong self-learning competence. This article clarifies several theoretical issues concerning active and self-disciplined learning; analyzes the role of these qualities in the learning and training process; identifies several existing limitations and their causes; and, based on these findings, proposes solutions to enhance cadets' active role as learners, thereby contributing to improving the quality of education and training in military schools today.

Keywords: military cadets; active learning; self-discipline; learning; training; military schools.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hĩa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm cơng bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.