PHÂN TÍCH CÁC HÌNH ẢNH ẨN DỤ VỀ MÙA TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

06:22 | 14/01/2026
Khoa Ngôn ngữ Pháp, Đại học Phenikaa Email: [email protected] Tóm tắt: Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện đặc trưng phong phú của văn học Việt Nam qua ngôn ngữ thơ tinh tế và hình ảnh văn hóa đặc sắc. Gồm 3.254 câu thơ lục bát, tác phẩm sử dụng đa dạng thành ngữ, tục ngữ, điển cố lịch sử và các biện pháp tu từ, trong đó nổi bật là hệ thống ẩn dụ liên quan đến bốn mùa. Bài viết này tập trung khảo sát hình ảnh ẩn dụ về mùa, chủ yếu là mùa xuân, nhằm phân t

ThS. Đinh Diệu Anh-

Khoa Ngôn ngữ Pháp, Đại học Phenikaa

Email: [email protected]

Tóm tắt: Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện đặc trưng phong phú của văn học Việt Nam qua ngôn ngữ thơ tinh tế và hình ảnh văn hóa đặc sắc. Gồm 3.254 câu thơ lục bát, tác phẩm sử dụng đa dạng thành ngữ, tục ngữ, điển cố lịch sử và các biện pháp tu từ, trong đó nổi bật là hệ thống ẩn dụ liên quan đến bốn mùa. Bài viết này tập trung khảo sát hình ảnh ẩn dụ về mùa, chủ yếu là mùa xuân, nhằm phân tích giá trị ngôn ngữ và ý nghĩa văn hóa mà chúng mang lại trong mạch truyện. Kết quả nghiên cứu cho thấy chủ đề về mùa là một yếu tố phổ quát trong văn học thế giới, vì nó phản ánh sâu sắc những trải nghiệm của con người. Qua việc phân tích kỹ lưỡng các ẩn dụ mùa xuân trong Truyện Kiều, bài viết làm sáng tỏ nhiều tầng nghĩa phong phú như tuổi trẻ, tình yêu, vẻ đẹp và dòng chảy của thời gian. Đồng thời, bằng cách đối chiếu với truyền thống văn học phương Đông và phương Tây, nghiên cứu chỉ ra ý nghĩa vừa phổ quát vừa mang tính bối cảnh đặc thù của các ẩn dụ về mùa xuân, góp phần làm sâu sắc thêm nhận thức về nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Du cũng như giá trị văn hóa của tác phẩm.

Từ khóa: Nguyễn Du, ẩn dụ, mùa, văn học Việt Nam, ngôn ngữ.

PHÂN TÍCH CÁC HÌNH ẢNH ẨN DỤ VỀ MÙA TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Hội thảo khoa học quốc gia "Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương:

Danh nhân - Thi hào - Giá trị di sản"

1. Đặt vấn đề

Truyện Kiều, hay Kiều, của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm quan trọng của nền văn học Việt Nam bởi ngôn ngữ thơ ca phong phú và tinh tế. Từ tổng cộng 3.254 câu thơ theo thể lục bát, tác giả đã sử dụng một lượng lớn thành ngữ, tục ngữ, các điển tích lịch sử và văn hóa, cùng hàng loạt biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, v.v. Trong số các biện pháp nghệ thuật đó, chúng tôi lựa chọn các hình ảnh ẩn dụ về mùa làm đối tượng nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa. Cơ sở cho lựa chọn này là chức năng đặc biệt của những hình ảnh này trong tác phẩm. Trên thực tế, chủ đề bốn mùa đóng vai trò quan trọng trong nền văn học thế giới. Sự thay đổi của thời tiết gắn liền mật thiết với đời sống thường ngày của con người (như mùa màng, thực phẩm, trang phục, nơi ở, v.v.). Do đó, những hình ảnh ẩn dụ về mùa được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm văn học từ Đông sang Tây. Về mặt nghệ thuật, chúng ta có thể thấy rõ sự tương đồng về ý nghĩa hàm chứa trong các ẩn dụ về mùa giữa hai nền văn học.

Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này, chúng tôi sẽ tìm hiểu và phân tích ý nghĩa ngôn ngữ cũng như văn hóa của các hình ảnh ẩn dụ về mùa xuất hiện trong Truyện Kiều.

Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý thuyết để nghiên cứu vấn đề này là phép ẩn dụ trong ngôn ngữ học. Trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, ẩn dụ được hiểu là một phương thức chuyển đổi tên gọi thông qua sự so sánh ngầm giữa các sự vật có điểm tương đồng hoặc sự giống nhau. Đỗ Hữu Châu (1962) quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên gọi của một sự vật hiện tượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng”. Nguyễn Thiện Giáp (1998) cũng khẳng định: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”. Tương tự, Nguyễn Đức Tồn (2007) khẳng định rằng bản chất của phép ẩn dụ là “phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm thuộc tính của sự vật này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng”.

Từ những nhận định về phép ẩn dụ, các tác giả đã đồng thuận rằng nền tảng của phép ẩn dụ chính là sự tương đồng giữa hai đối tượng. Theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (1993), “Phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng”.

Căn cứ vào định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ, bài báo này xác định các ẩn dụ về mùa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, phân tích chúng trên bình diện ngữ nghĩa và văn hóa.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Hình ảnh “mùa xuân” trong Truyện Kiều

Từ “xuân” xuất hiện khá thường xuyên trong Truyện Kiều. Trong các phiên bản khác nhau của tác phẩm này, từ “xuân” xuất hiện khoảng 60 lần trên tổng số 3.254 câu thơ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu tham khảo phiên bản nổi tiếng nhất, được hiệu đính bởi Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim. Trong số những lần xuất hiện của từ “xuân”, có một số trường hợp không hề mang nghĩa “mùa xuân” mà chỉ là từ đồng âm, chẳng hạn như “xuân” trong các cụm từ như “xuân huyên”, “xuân già”, “cỗi xuân”, “xuân đình”, v.v. Từ nguyên của thuật ngữ này bắt nguồn từ tên của một loài thực vật (trong tiếng Trung: 大椿) trong lịch sử Trung Quốc, dùng để chỉ “người cha”.

Sau khi loại bỏ các trường hợp đồng âm, hình ảnh “mùa xuân” được đề cập gần 40 lần. Chúng tôi phân loại các trường hợp này thành các nhóm ý nghĩa sau: tuổi trẻ, tình yêu, tình dục, sắc đẹp và các ý nghĩa khác. Qua việc phân tích, chúng tôi sẽ làm rõ thông điệp của những biểu đạt ẩn dụ này trong một bối cảnh xác định.

2.1.1. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa tuổi trẻ

Trong nhiều nền văn hóa, mùa xuân tượng trưng cho tuổi trẻ, và văn hóa Việt Nam cũng không ngoại lệ. Thật vậy, mùa xuân luôn đại diện cho sự khởi đầu của một năm, là khoảng thời gian tươi mới khi muôn loài sinh vật và cây cỏ đâm chồi nảy lộc. Do đó, có rất nhiều ẩn dụ về mùa xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhằm chỉ tuổi trẻ. Tuy nhiên, ý nghĩa của các hình ảnh này cũng thay đổi tùy theo ngữ cảnh cụ thể.

Có 13 cụm từ chứa chữ “xuân” mang nghĩa tuổi trẻ trong Truyện Kiều, có thể kể đến như “xuân xanh”, “khóa xuân”, “ngày xuân”, “hoa xuân”, “thanh xuân”, v.v. Đặc điểm chung của chúng là ám chỉ giai đoạn đầu cuộc đời của các nhân vật trong Truyện Kiều như Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng. Cũng có những ẩn dụ đặc biệt như “nửa chừng xuân” nói lên cái chết đột ngột của Đạm Tiên đương tuổi đời còn rất trẻ (“Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”), hoặc mang nghĩa đau buồn khi tuổi xuân của Kiều phai tàn do những biến cố xảy ra trong mười bốn năm lưu lạc phong trần (“Mười phần xuân có gầy ba, bốn phần.”)

Đáng chú ý, trong số chúng, có hai cụm từ bắt nguồn từ điển tích lịch sử - văn học là “khóa xuân” và “xuân tình”.

Từ “khóa xuân” xuất hiện trong câu “Một nền Đồng Tước khóa xuân nhị Kiều”. Để hiểu được cụm từ “khóa xuân”, trước tiên cần phân tích toàn bộ câu thơ. Câu thơ này đề cập đến điển tích văn học trong tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc Tam Quốc Diễn Nghĩa của tác giả La Quán Trung. Trong tác phẩm này, có tình tiết hai chị em họ Kiều ở Giang Đông xinh đẹp đến nỗi Tào Tháo, người đứng đầu phe Ngụy, muốn bắt giữ và nhốt họ trong Đồng Tước Đài. Từ câu chuyện này, thi sĩ nổi tiếng Trung Quốc Đỗ Mục đã viết hai câu thơ: « 東風不與周郎便,/銅雀春深鎖二喬 » (Đông phong bất dữ Chu lang tiện, / Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.). Mùa xuân của Đồng Tước Đài chính là ổ khóa để giam giữ hai nàng Kiều. Tuy nhiên, Nguyễn Du viết: "Đồng Tước Đài khóa xuân của hai Kiều." Hai Kiều đại diện cho hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân vì họ đều xinh đẹp, tài năng và có tiếng trong khu vực. Tuy nhiên, mùa xuân trong câu thơ của Nguyễn Du khác với mùa xuân trong thơ của Đỗ Mục. Mùa xuân ở đây là tuổi trẻ của hai chị em. Điều này có nghĩa là gia đình Vương có hai cô con gái trẻ đẹp luôn ở trong nhà. Trong thời kỳ phong kiến phương Đông, các cô gái chưa kết hôn không được phép ra ngoài thường xuyên. Do vậy, tuy câu thơ của Nguyễn Du có phần giống với Đỗ Mục, nhưng từ “xuân” lại mang nghĩa khác nhau.

Một điển tích khác xuất hiện trong hai câu thơ “Khúc đâu êm ái xuân tình / Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên?”. Từ “xuân tình” ở đây không mang nghĩa tình yêu như nhiều người lầm tưởng, mà mang nghĩa “nỗi nhớ, nỗi hoài niệm về tuổi trẻ”. Sở dĩ có thể lý giải như vậy vì từ này kết nối với điển tích về Thục Đế. Thuật ngữ « xuân tình » (dịch nghĩa sang tiếng Pháp là « le sentiment du printemps ») mang ý nghĩa nỗi nhớ tuổi trẻ. Theo truyền thuyết Trung Quốc, khi vua nước Thục mất nước, ông đã hóa thành chim đỗ quyên. Tiếng kêu của loài chim này là lời kêu gọi thống thiết đến quê hương của ông. Tiếng hót của nó cũng gắn liền với nỗi tiếc nuối mùa xuân, vì đỗ quyên thường kêu khi mùa hè đến. Trong hai câu thơ này, tác giả đã so sánh âm thanh của tiếng nhạc do Thúy Kiều tạo ra với tiếng hót của đỗ quyên, và âm nhạc ấy gợi nhớ đến nỗi tiếc nuối, nỗi nhớ về tuổi trẻ, nỗi nhớ thời xuân.

2.1.2. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa tình yêu

Song song với tuổi trẻ, tình yêu cũng đóng vai trò quan trọng trong các ẩn dụ mùa xuân. Mùa xuân là mùa của tình yêu, của những cuộc gặp gỡ, của lãng mạn. Hầu hết các sự kiện hạnh phúc trong cuộc đời của Kiều diễn ra vào thời điểm này trong năm. Trong phần này, chúng tôi không chỉ trình bày các ẩn dụ mùa xuân diễn tả ý nghĩa của tình yêu mà còn cả những biến thể của nó như người yêu, trái tim yêu thương, v.v.

Có hẳn 14 ẩn dụ tình yêu dưới lớp vỏ ngôn từ “mùa xuân” xuất hiện trong Truyện Kiều. Trong số đó, ngoài các hình ảnh “xuân” được thay thế cho từ tình yêu như “tin xuân” (thư tình), “đêm xuân” (đêm tình yêu), v.v. từ “xuân” còn ẩn dụ cho “người yêu”. Ví dụ như từ “lượng xuân” (tấm lòng người yêu) hay chữ xuân trong câu “Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân”.

Cũng trong nghĩa này, từ “xuân khóa” xuất hiện trong câu “Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong” tham chiếu câu thơ của Đỗ Mục đã nói ở phần trước. Tuy nhiên, khác với câu thơ trước, “xuân” trong câu này là tình yêu đã bủa vây và giam giữ Thúy Kiều như hai nàng Đại Kiều và Tiểu Kiều của Tam Quốc. Theo Lê Văn Hòe (1953), xét về mặt diễn biến câu chuyện, thời điểm Kiều đến trú phường của Tú Bà không thể là vào mùa xuân nên từ “xuân” ở đây chỉ có thể là tình yêu.

“Khóa xuân” cũng xuất hiện thêm hai lần nữa trong câu “Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non” và “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”. Hai cụm từ « khóa buồng xuân » và « khóa xuân » có cùng một ý nghĩa. Chúng ám chỉ việc nhốt tình yêu của Kiều trong căn phòng của nàng tại lầu Ngưng Bích.

Ngoài “xuân khóa”, trong số các hình ảnh mùa xuân mang nghĩa tình yêu, “cành xuân” trong câu thơ “Khi về hỏi liễu Chương Đài, / Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay” cũng bắt nguồn từ điển tích văn học. Cành xuân chính là người yêu của Kim Trọng, Thúy Kiều. Hai câu thơ này liên quan đến điển tích về nàng họ Liễu đường Chương Đài, Trường An, Trung Quốc. Vào thời Đường, có một chàng trai tên Hàn Hoành đã phải lòng nàng kỹ nữ họ Liễu. Khi Hàn Hoành công tác xa khỏi Trường An, chàng viết thư hỏi thăm nàng Liễu, liệu cành có còn hay đã bị ai bẻ đi. Khi Hàn Hoành trở về, tìm lại người yêu, chàng hay tin nàng Liễu đã cưới người khác. Tương tự với tình cảnh của Kiều và Kim Trọng, Kiều tự hỏi, khi Kim Trọng trở lại tìm nàng sau ba năm để tang, có lẽ chỉ được nghe tin nàng đã làm vợ người khác.

2.1.3. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa “tình dục”

Tình dục là một chủ đề cấm kỵ trong văn hóa phương Đông. Trong văn học, cũng như trong đời sống hàng ngày, người ta thường sử dụng uyển ngữ khi nhắc đến chủ đề này, chẳng hạn như “mây mưa”, “trăng hoa”, “ong bướm”, v.v. và mùa xuân cũng là một trong số đó.

Từ “đêm xuân” xuất hiện trong hai câu thơ “Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng” và “Đêm xuân một giấc mơ màng” đều ám chỉ chuyện phòng the. “Giấc mộng đêm xuân” là giấc mơ tình dục của Kim Trọng tơ tưởng về nàng Kiều. Điều này càng được khẳng định khi câu thơ trước đó nhắc đến “Đỉnh Giáp non Thần”, điển tích về giấc mộng tình ái. Còn “đêm xuân” của “Đêm xuân một giấc mơ màng” tượng trưng cho hành vi tình dục của Kiều và Mã Giám Sinh. Toàn bộ câu thơ chỉ thời điểm sau khi hai người có quan hệ tình dục. Cần nhấn mạnh rằng, đêm xuân ở đây không chỉ thời điểm mùa xuân, xét theo cốt truyện như đã đề cập ở trên.

2.1.4. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa “vẻ đẹp”

Tượng trưng cho một thời điểm đẹp trong năm, mùa xuân cũng xuất hiện năm lần trong các ẩn dụ để miêu tả vẻ đẹp.

Quảng cáo

Từ “xuân” ẩn dụ vẻ đẹp thường nằm trong các cụm từ bắt nguồn từ thơ cổ như “xuân lan, thu cúc” và “làn thu thủy, nét xuân sơn”. Trong cụm “xuân lan, thu cúc”, hai bông hoa tượng trưng cho vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân đang ở độ tuổi thanh xuân tươi đẹp. Họ thanh thoát như những đóa hoa nở rộ trong mùa của mình, rực rỡ nhưng cũng chỉ trong một khoảng thời gian. Hơn nữa, chúng còn thể hiện sự khác biệt trong vẻ đẹp của họ: cả hai đều xinh đẹp, nhưng mỗi người lại có những nét riêng biệt.

Tương tự, trong các bài thơ cổ của Trung Quốc, phép so sánh “lông mày như núi mùa xuân” thường được sử dụng để miêu tả vẻ đẹp của phụ nữ. Theo quan niệm cổ xưa ở phương Đông, lông mày được coi là đẹp nếu chúng cong và có màu đậm như hình dáng và màu sắc của núi vào mùa xuân. Hơn nữa, phép so sánh này phổ biến đến mức mà cụm từ “núi mùa xuân” được biết đến với ý nghĩa tương đương là “lông mày đẹp”. Do vậy, hình ảnh ẩn dụ “nét xuân sơn” được dùng để tả vẻ đẹp của Thúy Kiều.

2.1.5. Một số ý nghĩa khác của ẩn dụ mùa xuân

Ngoài những ý nghĩa mà chúng tôi đã phân tích ở trên, mùa xuân còn có một số ý nghĩa ẩn dụ khác.

Đầu tiên là ẩn dụ “ba xuân” trong câu thơ “Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân”. Hình ảnh “tấc cỏ” và “ba xuân” đều được mượn từ bài thơ Du Tử Ngâm của thi sĩ Mạnh Giao đời Đường. “Ba xuân” ở đây là ba tháng của mùa xuân, tượng trưng cho công ơn của cha mẹ, và “tấc cỏ” là người con. Kiều cũng sử dụng những ẩn dụ này và thể hiện trái tim quyết tâm và hy sinh của mình để bày tỏ lòng biết ơn với cha mẹ.

Tiếp đến là “xuân thu”, từ ghép giữa hai mùa xuân và thu để thay thế cho khoảng thời gian “một năm”. Từ “xuân” cũng chỉ thời gian trong từ “bảng xuân”. Bảng xuân là bảng danh sách các sĩ tử đỗ đạt thời phong kiến, sở dĩ gọi vậy là vì danh sách này thường được công bố vào mùa xuân.

“Xuân” cũng xuất hiện với mục đích điểm sắc thêm hương trong từ “giấc xuân”. Giấc xuân nghĩa là giấc ngủ của một người con gái đẹp.

2.2. Hình ảnh “mùa thu” trong Truyện Kiều

Mùa thu xuất hiện trong nhiều bài thơ Việt Nam. Mùa này thường được coi là một nguồn cảm hứng quan trọng cho văn học Việt Nam, gắn liền với nỗi lo âu, sự sầu muộn, và cả vẻ đẹp. Từ “thu” được nhắc đến 17 lần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, trong đó có 11 hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ. Mười một trường hợp này sẽ được phân loại vào các nhóm nghĩa: nỗi buồn, thời gian và đôi mắt. Chúng tôi đã giải thích trong đoạn trước về hai hình ảnh mùa thu đi kèm với mùa xuân trong các cụm từ “xuân thu” và “xuân lan, thu cúc”, do đó sẽ không nhắc lại ở đây.

2.2.1. Ẩn dụ mùa thu ám chỉ “nỗi buồn”

Trong phần này, chúng tôi sẽ thảo luận về các hình ảnh liên quan đến mùa thu được sử dụng để miêu tả và nhấn mạnh nỗi u sầu của các nhân vật. Nguyễn Du thường sử dụng miêu tả cảnh vật để thể hiện tâm trạng của nhân vật. Như ông đã viết trong tác phẩm này: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thực tế, hầu hết các biến cố bất hạnh của Kiều đều diễn ra vào mùa thu.

Thật vậy, mỗi lần chia xa của Thúy Kiều đều diễn ra vào mùa thu. Từ “Rừng thu từng biếc xen hồng” đến “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, có thể thấy, Nguyễn Du luôn muốn dùng sắc thu, cảnh thu để nhấn mạnh và phóng đại nội tâm u sầu của nhân vật. Trong câu “Một trời thu để riêng ai một người”, chính hình ảnh trời thu vẽ lên không khí sầu thảm của Kiều khi phải rời xa gia đình.

2.2.2. Ẩn dụ mùa thu mang nghĩa “thời gian”

Thu không chỉ là một mùa, mà đôi khi còn hơn thế. Ngoài “xuân thu”, Nguyễn Du còn sử dụng hai ẩn dụ mùa thu lấy từ điển tích văn học để chỉ thời gian.

“Ba thu” trong câu “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” là một ẩn dụ được trích từ “Kinh Thi” của Trung Quốc. Trong tác phẩm kinh điển này, có một câu: “Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề” (Một ngày không gặp, tưởng như đã cách biệt ba thu). Ba thu ở đây ám chỉ khoảng thời gian ba năm. Khi Kim Trọng không thể gặp Kiều, anh cảm thấy một ngày xa cách dài như ba năm, vì nỗi nhớ nhung người yêu quá mãnh liệt. Cần lưu ý rằng “ba” là một con số mang tính biểu tượng, không phải con số chính xác, thường được sử dụng trong văn học Việt Nam để mô tả một khoảng thời gian.

Tiếp đó, cụm từ “nghìn thu” (“Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”) không chỉ mang nghĩa là khoảng thời gian “nghìn năm”, mà còn ám chỉ một khoảng thời gian rất dài, kéo dài suốt chiều dài lịch sử, từ cổ chí kim. Đây là một cụm từ thường được sử dụng trong văn học Việt Nam để chỉ sự vĩnh cửu.

2.2.3. Ẩn dụ mùa thu mang nghĩa “đôi mắt phụ nữ”

Trong văn học Việt Nam và Trung Quốc, hình ảnh mùa thu thường được gắn với đôi mắt của phụ nữ, thậm chí được sử dụng như từ ngữ thay thế. Các trường hợp ẩn dụ trong Truyện Kiều dưới đây sẽ được phân tích và làm rõ nhận định này.

Đầu tiên, tương tự như “nét xuân sơn”, hình ảnh “làn thu thủy” có nguồn gốc từ một phép so sánh rất phổ biến, cụ thể là “đôi mắt như làn nước mùa thu”. Phép so sánh này được sử dụng phổ biến trong văn học phương Đông, khiến độc giả liên tưởng ngay đến đôi mắt xinh đẹp, trong veo, lấp lánh và tĩnh lặng như mặt nước vào mùa thu.

Chính vì vậy, hai ẩn dụ “nét thu” (“Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng”) và “thu ba” (“Nàng càng ủ dột thu ba”) là cách sử dụng mở rộng của ẩn dụ “nước thu”. “Nét thu” và “thu ba”, tức gợn sóng của nước vào mùa thu, miêu tả đôi mắt của nàng Kiều hiện lên những xao động, xuyến xao, lóng lánh trước tình yêu của Kim Trọng.

Ngoài ra, ẩn dụ “dòng thu”, viết gọn của dòng nước mùa thu, cũng là ẩn dụ phái sinh của “nước thu”. Ẩn dụ tượng trưng cho dòng nước chảy ra từ một hồ nước vào mùa thu, tức là dòng lệ của Kiều. Những giọt nước mắt của nàng tuôn rơi như cơn mưa đầy nỗi buồn.

2.3. Hình ảnh “mùa hè” và “mùa đông” trong Truyện Kiều

Mùa hè và mùa đông không xuất hiện nhiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Chúng tôi chỉ ghi nhận hai ẩn dụ có chứa các từ này trong toàn bộ tác phẩm, và chúng được dùng để miêu tả thời gian.

Cụm từ “ba đông” xuất hiện trong câu “Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông” tương ứng với thời gian để tang kéo dài ba năm. Theo nghi thức tang lễ truyền thống của Trung Quốc phong kiến, sau khi cha mẹ qua đời, con cái phải để tang trong vòng ba năm và không thể kết hôn trong thời gian đó. Vì vậy, do cái chết của người chú, Kim Trọng không thể kết hôn với Kiều.

Điều đáng chú ý là cách tác giả Nguyễn Du chọn từ ngữ để diễn tả khoảng thời gian “ba năm”. Ông đã đa dạng hóa các ẩn dụ theo mùa, thể hiện sự khác biệt trong sắc thái ẩn dụ của những từ này. Cụ thể, mùa xuân là mùa của tình yêu, tuổi trẻ, trong khi mùa thu tượng trưng cho nỗi buồn, sự chia ly; còn mùa đông biểu thị cái chết và nỗi khổ đau.

Hình ảnh mùa hè chỉ xuất hiện trong câu “Dưới trăng quyên đã gọi hè”. Câu thơ này ám chỉ dấu hiệu của sự thay đổi mùa. Chim cuốc là một loài chim thường xuất hiện vào mùa hè. Tiếng kêu của chim cuốc báo hiệu mùa hè đang tới.

2.4. Thảo luận

Ẩn dụ về mùa cũng xuất hiện thường xuyên trong văn học phương Tây. Trong L’Étranger (Người xa lạ) của Albert Camus, tác giả sử dụng hình ảnh cái nóng của mùa hè để ẩn dụ cho sự ngột ngạt của cảm xúc và tình huống mà nhân vật chính Meursault phải đối mặt. Hay trong Mémoires d'outre-tombe (Hồi ký bên kia nấm mộ) của Chateaubriand, ông sử dụng ẩn dụ “l’hiver de ma vie” (mùa đông của cuộc đời tôi) để nói về giai đoạn cuối đời, khi mọi thứ dần đi vào trạng thái tĩnh lặng. Ngoài ra, mùa xuân cũng là hình ảnh tượng trưng cho tuổi trẻ, tình yêu, hy vọng xuất hiện trong các thi phẩm của Paul Éluard, Charles Baudelaire, Victor Hugo. Hay trong thi phẩm Chanson d’automne (Bài ca mùa thu) của Paul Verlaine, hình ảnh mùa thu cũng đại diện cho nỗi buồn và sự suy tàn.

Từ đó, có thể thấy, do những nét đặc trưng của mùa nên ẩn dụ về mùa trong văn học phương Đông và phương Tây cũng có những nét tương đồng về nghĩa.

3. Kết luận

Dựa trên các định nghĩa về ẩn dụ, chúng tôi đã thống kê được gần 60 ẩn dụ về các mùa trong tiếng Việt trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và tiến hành phân tích các thông điệp mà chúng truyền tải, dựa trên bối cảnh và các tham chiếu văn hóa của chúng. Trong số đó, các ẩn dụ về mùa xuân xuất hiện nhiều nhất. Những hình ảnh ẩn dụ có thể tượng trưng cho các khái niệm như tuổi trẻ, tình yêu, tình dục, hoặc thể hiện vẻ đẹp và cảm xúc. Ngoài ra, một số ẩn dụ còn liên quan đến các điển tích văn học hoặc lịch sử.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (1993). Phong cách học tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục.

[2]. Đỗ Hữu Châu (1962). Giáo trình Việt ngữ. Hà Nội: NXB Giáo dục.

[3]. Nguyễn Du, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (chủ biên) (2018). Truyện Thúy Kiều. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.

[4]. Nguyễn Du, Đào Duy Anh (chủ biên) (2020). Truyện Kiều. Hà Nội : Nhà xuất bản Văn học.

[5]. Nguyễn Du, Lê Văn Hòe (chủ biên) (1953). Truyện Kiều chú giải. Hà Nội : Quốc-Học-Thư-Xã.

[6]. Nguyễn Đức Tồn (2007). Bản chất của ẩn dụ. Tạp chí Ngôn ngữ (11).

[7]. Nguyễn Thiện Giáp (1998). Từ vựng học tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Giáo dục

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.