NỮ GIẢNG VIÊN NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI TRƯỚC YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

09:22 | 03/01/2026
Nguyễn Thị Hồng Phượng - Trường Đại học Nguyễn Huệ Gmail: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, giáo dục – đào tạo trong Quân đội đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đội ngũ giảng viên, trong đó có nữ giảng viên, giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng và hiệu quả chuyển đổi số ở Nhà trường Quân đội. Bài viết phân tích yêu cầu đặt ra đố

Nguyễn Thị Hồng Phượng -

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Gmail: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, giáo dục – đào tạo trong Quân đội đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đội ngũ giảng viên, trong đó có nữ giảng viên, giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng và hiệu quả chuyển đổi số ở Nhà trường Quân đội. Bài viết phân tích yêu cầu đặt ra đối với nữ giảng viên trong quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo, đánh giá thực trạng tham gia chuyển đổi số của nữ giảng viên ở Nhà trường Quân đội hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nữ giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Từ khóa: Nữ giảng viên; chuyển đổi số; giáo dục – đào tạo; Nhà trường Quân đội.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó giáo dục – đào tạo được xác định là một trong những lĩnh vực tiên phong. Đối với Nhà trường Quân đội, chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mà còn góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trong tiến trình đó, đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt, trực tiếp triển khai và hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số.

Nữ giảng viên Nhà trường Quân đội, với những đặc điểm riêng về vai trò xã hội, nghề nghiệp và điều kiện công tác, vừa có nhiều tiềm năng, thế mạnh, vừa đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trước yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo. Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy nữ giảng viên trong chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội

Chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy, mà là quá trình đổi mới toàn diện từ tư duy quản lý, tổ chức đào tạo đến nội dung, phương pháp và hình thức dạy học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Quá trình này đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ giảng viên, trước hết là sự thích ứng nhanh với môi trường giáo dục số và khả năng làm chủ các phương thức dạy học hiện đại.

Trước hết, chuyển đổi số đòi hỏi sự đổi mới căn bản phương thức tổ chức dạy học trong Nhà trường Quân đội. Mô hình dạy học truyền thống, chủ yếu dựa vào giảng dạy trực tiếp, đang từng bước được thay thế bằng các hình thức dạy học linh hoạt, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, giữa học tập trên lớp với tự học trên môi trường số. Việc triển khai các nền tảng số, hệ thống quản lý học tập, lớp học thông minh không chỉ mở rộng không gian và thời gian học tập, mà còn tạo điều kiện để cá thể hóa quá trình đào tạo, nâng cao tính chủ động và khả năng tự học của học viên.

Cùng với đó, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp giảng dạy. Nội dung giáo dục – đào tạo cần được số hóa một cách hệ thống, bảo đảm tính khoa học, cập nhật và gắn chặt với thực tiễn nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ quân sự. Phương pháp giảng dạy chuyển từ lối truyền thụ một chiều sang phát huy vai trò trung tâm của người học, tăng cường các phương pháp dạy học tích cực, tương tác, trải nghiệm, qua đó hình thành năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn quân sự.

Một yêu cầu mang tính then chốt của chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội là nâng cao năng lực số cho đội ngũ giảng viên. Giảng viên không chỉ cần vững vàng về bản lĩnh chính trị, sâu sắc về chuyên môn, mà còn phải có trình độ công nghệ, biết thiết kế và tổ chức bài giảng số, khai thác và xử lý dữ liệu học tập, sử dụng hiệu quả các công cụ dạy học hiện đại. Năng lực số trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số.

Những yêu cầu trên đã và đang đặt ra những đòi hỏi mới đối với đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội. Trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường giáo dục số, nữ giảng viên không chỉ cần nỗ lực khắc phục khó khăn, thách thức đặc thù, mà còn phải không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp và phong cách giảng dạy, từng bước khẳng định vai trò, vị trí của mình trong quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo của Nhà trường Quân đội hiện nay.

2.2. Vai trò của nữ giảng viên trong chuyển đổi số giáo dục – đào tạo

Trong tiến trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội, nữ giảng viên giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là lực lượng trực tiếp tổ chức, triển khai các hoạt động dạy học trên môi trường số, vừa là chủ thể góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo. Vai trò đó được thể hiện một cách toàn diện, xuyên suốt từ khâu chuẩn bị nội dung, tổ chức dạy học đến đánh giá kết quả học tập của học viên.

Trước hết, nữ giảng viên là lực lượng trực tiếp tham gia hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số trong giảng dạy. Thông qua việc xây dựng bài giảng điện tử, số hóa học liệu, tổ chức lớp học trực tuyến và lớp học kết hợp, nữ giảng viên góp phần làm thay đổi căn bản cách thức truyền tải tri thức trong Nhà trường Quân đội. Việc ứng dụng các công cụ, nền tảng công nghệ số trong kiểm tra, đánh giá không chỉ giúp nâng cao tính khách quan, chính xác mà còn tạo điều kiện theo dõi, điều chỉnh quá trình học tập của học viên một cách kịp thời, khoa học.

Bên cạnh đó, nữ giảng viên đóng vai trò tích cực trong đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo. Với đặc điểm nổi bật là sự mềm dẻo, linh hoạt trong xử lý tình huống sư phạm, cùng tinh thần trách nhiệm cao đối với nghề nghiệp, nữ giảng viên có điều kiện thuận lợi để vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm. Trong môi trường giáo dục số, họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn đóng vai trò định hướng, hỗ trợ, tạo lập không gian học tập thân thiện, khuyến khích học viên chủ động khám phá tri thức, rèn luyện tư duy độc lập và khả năng sáng tạo.

Quan trọng hơn, nữ giảng viên còn là tấm gương tiêu biểu trong quá trình học tập, rèn luyện và thích ứng với những yêu cầu mới của chuyển đổi số. Tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực số của nữ giảng viên không chỉ giúp bản thân họ đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực trong đội ngũ giảng viên Nhà trường Quân đội. Chính sự nỗ lực không ngừng ấy góp phần hình thành môi trường giáo dục đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra thực chất, hiệu quả và bền vững.

2.3. Thực trạng tham gia chuyển đổi số của nữ giảng viên Nhà trường Quân đội

Thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội cho thấy, đội ngũ nữ giảng viên đã và đang thể hiện sự chủ động, trách nhiệm trong việc tiếp cận và thích ứng với những yêu cầu mới của môi trường giáo dục số. Nhiều nữ giảng viên tích cực tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ công nghệ thông tin, từng bước làm chủ các nền tảng số, phần mềm dạy học và hệ thống quản lý đào tạo. Việc ứng dụng công nghệ số trong xây dựng bài giảng điện tử, tổ chức lớp học trực tuyến, cũng như trong hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo đã góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình tham gia chuyển đổi số của nữ giảng viên Nhà trường Quân đội vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Nhận thức về bản chất, mục tiêu và yêu cầu của chuyển đổi số ở một bộ phận nữ giảng viên chưa thật sự đầy đủ, dẫn đến việc ứng dụng công nghệ còn mang tính hình thức, chưa phát huy hết hiệu quả. Trình độ và năng lực số giữa các nữ giảng viên còn có sự chênh lệch, nhất là trong việc thiết kế bài giảng số, khai thác dữ liệu và vận dụng các công cụ dạy học hiện đại. Bên cạnh đó, đặc thù công tác trong môi trường Quân đội cùng với áp lực công việc chuyên môn và trách nhiệm gia đình đã ảnh hưởng không nhỏ đến quỹ thời gian, điều kiện tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực số của nữ giảng viên.

Ngoài những yếu tố chủ quan, một số hạn chế còn bắt nguồn từ điều kiện khách quan của Nhà trường Quân đội. Hạ tầng công nghệ thông tin, trang thiết bị phục vụ dạy học số ở một số cơ sở đào tạo chưa được đầu tư đồng bộ; việc hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn chuyên môn trong quá trình triển khai chuyển đổi số còn chưa kịp thời. Những yếu tố này đã tác động nhất định đến hiệu quả và tính bền vững của quá trình chuyển đổi số, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của nữ giảng viên trong thời gian tới.

2.4. Giải pháp phát huy vai trò nữ giảng viên trước yêu cầu chuyển đổi số

Quảng cáo

Để phát huy tốt vai trò của nữ giảng viên Nhà trường Quân đội trong chuyển đổi số giáo dục – đào tạo, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Trước hết, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nhận thức đúng là tiền đề quyết định đến thái độ, hành động và hiệu quả tham gia chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo. Khi hiểu rõ bản chất, mục tiêu và tầm quan trọng của chuyển đổi số, nữ giảng viên sẽ chủ động, tích cực hơn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ và tự bồi dưỡng năng lực số, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà trường Quân đội.

Nội dung nâng cao nhận thức cần tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi của chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo Quân đội, bao gồm: ý nghĩa chiến lược của chuyển đổi số đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại; vai trò, trách nhiệm và vị trí của đội ngũ nữ giảng viên trong quá trình đổi mới giáo dục trên nền tảng số; những yêu cầu mới về năng lực, phương pháp và phong cách giảng dạy trong môi trường giáo dục số. Qua đó giúp nữ giảng viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về nhiệm vụ chuyển đổi số gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao.

Về biện pháp thực hiện, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục thông qua các hội nghị, tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề, lồng ghép nội dung chuyển đổi số vào các chương trình bồi dưỡng, tập huấn giảng viên. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng trong Nhà trường trong việc định hướng, động viên và hỗ trợ nữ giảng viên nâng cao nhận thức, hình thành động cơ đúng đắn, tinh thần chủ động, tự giác và sẵn sàng thích ứng với những yêu cầu mới của chuyển đổi số, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đổi mới giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội hiện nay.

Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội là yêu cầu then chốt nhằm bảo đảm chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo được triển khai một cách thực chất và hiệu quả. Năng lực số không chỉ giúp nữ giảng viên làm chủ các công cụ công nghệ, mà còn là điều kiện để đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển của Nhà trường Quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Nội dung bồi dưỡng năng lực số cần tập trung vào việc trang bị cho nữ giảng viên hệ thống kiến thức và kỹ năng thiết yếu, như: sử dụng thành thạo các nền tảng dạy học số, hệ thống quản lý học tập; thiết kế, xây dựng bài giảng điện tử và học liệu số; khai thác, xử lý dữ liệu phục vụ giảng dạy, kiểm tra, đánh giá; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong môi trường giáo dục số. Việc bồi dưỡng cần gắn chặt với yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn và đặc thù công tác của nữ giảng viên trong Nhà trường Quân đội.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách đối với đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc khơi dậy động lực, phát huy tiềm năng và bảo đảm sự tham gia tích cực, bền vững của nữ giảng viên vào quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo. Cơ chế, chính sách phù hợp không chỉ góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác, mà còn tạo môi trường thuận lợi để nữ giảng viên yên tâm cống hiến, sáng tạo và đổi mới.

Nội dung của giải pháp này cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định, chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ nữ giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số. Trong đó, chú trọng việc bố trí, sắp xếp thời gian và phân công nhiệm vụ chuyên môn một cách hợp lý, phù hợp với đặc thù công tác và điều kiện của nữ giảng viên; đồng thời quan tâm bảo đảm sự cân đối giữa yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trách nhiệm gia đình. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế khuyến khích, động viên nữ giảng viên tích cực tham gia chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và hoạt động đổi mới sáng tạo.

Về biện pháp thực hiện, các Nhà trường Quân đội cần rà soát, điều chỉnh và bổ sung các quy định, chính sách theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nữ giảng viên phát huy năng lực trong môi trường giáo dục số. Thực hiện kịp thời các hình thức động viên, khen thưởng đối với những nữ giảng viên có thành tích trong ứng dụng công nghệ, đổi mới phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học; đồng thời bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong đánh giá, sử dụng và phát triển đội ngũ. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy nữ giảng viên tham gia tích cực, chủ động và hiệu quả vào quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội.

Về biện pháp thực hiện, cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu theo từng nhóm đối tượng, trình độ và lĩnh vực giảng dạy, bảo đảm tính thiết thực và khả năng vận dụng cao. Đồng thời, khuyến khích nữ giảng viên phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu; xây dựng các diễn đàn, nhóm chuyên môn để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong ứng dụng công nghệ số. Qua đó, từng bước nâng cao năng lực số một cách đồng đều, bền vững, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng và môi trường số trong Nhà trường Quân đội có ý nghĩa then chốt trong việc bảo đảm các điều kiện vật chất – kỹ thuật cho quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo, đồng thời tạo nền tảng để đội ngũ nữ giảng viên phát huy năng lực, tính chủ động và sáng tạo trong giảng dạy. Hạ tầng và môi trường số hiện đại, đồng bộ là điều kiện cần thiết để các giải pháp chuyển đổi số được triển khai hiệu quả, tránh tình trạng ứng dụng công nghệ mang tính hình thức, thiếu bền vững.

Nội dung của giải pháp này cần tập trung vào việc đầu tư, nâng cấp đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng số và các nền tảng phục vụ dạy học, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo. Trong đó, chú trọng xây dựng hệ thống quản lý học tập, kho học liệu số, phòng học thông minh và các công cụ hỗ trợ giảng dạy trực tuyến; đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong môi trường giáo dục số của Nhà trường Quân đội. Việc hoàn thiện môi trường số cần gắn với yêu cầu thực tiễn đào tạo, phù hợp với đặc thù quân sự và nhiệm vụ của từng Nhà trường.

Về biện pháp thực hiện, các Nhà trường Quân đội cần xây dựng kế hoạch đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các hạng mục thiết yếu phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy và đào tạo trên nền tảng số. Đồng thời, tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng các hệ thống công nghệ, giúp nữ giảng viên tiếp cận, khai thác và sử dụng hiệu quả các nền tảng dạy học số. Qua đó, tạo môi trường thuận lợi để nữ giảng viên phát huy năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp và sáng tạo trong giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

3. Kết luận

Chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là yêu cầu chiến lược đối với các Nhà trường Quân đội trong giai đoạn hiện nay. Trong tiến trình này, nữ giảng viên với vai trò đặc thù, vị trí quan trọng và tiềm năng sáng tạo chính là lực lượng nòng cốt, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới giáo dục diễn ra hiệu quả và bền vững. Việc phát huy vai trò của nữ giảng viên không chỉ nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực quân sự, mà còn khẳng định vị thế, năng lực và sự đóng góp quan trọng của phụ nữ trong Quân đội. Đồng thời, đây là yếu tố then chốt để các Nhà trường Quân đội thực hiện thành công mục tiêu xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số sâu rộng./.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 71‑NQ/TW, ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[2] Chính phủ. Quyết định số 749/QĐ‑TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

[3] Nguyễn Văn Cường, Trần Thị Hạnh. Ứng dụng công nghệ số trong đổi mới phương pháp giảng dạy ở Nhà trường Quân đội. Tạp chí Khoa học Giáo dục Quân sự, 2022, số 4, tr. 45–53.

[4] Lê Thị Minh Phương. Năng lực số của giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học Giáo dục, 2021, số 12, tr. 21–29.

FEMALE LECTURERS IN MILITARY SCHOOLS FACING THE REQUIREMENTS OF DIGITAL TRANSFORMATION

IN EDUCATION AND TRAINING

Nguyen Thi Hong Phuong

Nguyen Hue University

Email: [email protected]

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution and the widespread process of digital transformation, military education and training face the imperative of comprehensive innovation in content, methodology, and teaching organization. The teaching staff, including female lecturers, play a direct and decisive role in determining the quality and effectiveness of digital transformation in military schools. This paper analyzes the requirements placed on female lecturers in the process of digital transformation in education and training, assesses the current participation of female lecturers in digital transformation at military schools, and proposes several solutions to enhance the role of female lecturers, contributing to improving the quality of education and training and meeting the requirements of building a modern military in the new context.

Keywords: Female lecturers; digital transformation; education and training; military schools.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.