NHỮNG KHÓ KHĂN, BẤT CẬP TRONG THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC HIỆN NAY

06:49 | 08/12/2025
ThS. Ngô Quang Binh - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục 1. Đặt vấn đề Ở Việt Nam, trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2006 đã được Bộ giáo dục chỉ đạo đưa nội dung giáo dục địa phương vào chương trình. Tuy nhiên, nội dung giáo dục địa phương còn đơn giản được lồng ghép vào các môn học khác. Chỉ có một số môn học có sự lồng ghép nội dung giáo dục địa phương dưới dạng tích hợp. Dạy học qua trải nghiệm thực tế là một xu hướng phổ biến ở các nhà trường phổ thông tại nhiều địa phương.

ThS. Ngô Quang Binh -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2006 đã được Bộ giáo dục chỉ đạo đưa nội dung giáo dục địa phương vào chương trình. Tuy nhiên, nội dung giáo dục địa phương còn đơn giản được lồng ghép vào các môn học khác. Chỉ có một số môn học có sự lồng ghép nội dung giáo dục địa phương dưới dạng tích hợp. Dạy học qua trải nghiệm thực tế là một xu hướng phổ biến ở các nhà trường phổ thông tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, Chương trình giáo dục phổ thông 2006 chưa chú ý đến quan điểm phân cấp quản lý, chưa đề cập tường minh đến nội dung giáo dục địa phương. Do vậy, nội dung giáo dục địa phương trong nhiều môn học chưa đáp ứng đầy đủ, toàn diện các mục tiêu đã đề ra. Nội dung dạy học còn nặng về kiến thức và thiên về văn hóa, lịch sử, địa lý, môi trường. Tính đặc thù, vấn đề hướng nghiệp, kinh tế, thế mạnh của địa phương chưa được quan tâm.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã cố gắng khắc phục những hạn chế, bất cập đó. Nội dung GDĐP đã được thiết kế thành những chủ đề và có hướng dẫn tổ chức thực hiện tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên, nội dung GDĐP vừa mới đi vào thực hiện, nhiều địa phương đang còn lúng túng trong tổ chức thực hiện, lại bị tác động của việc bỏ cấp huyện, sáp nhập tỉnh nên trong thực tế đã gặp khó khăn lại càng khó khăn nhiều hơn.

Nhiều nội dung địa phương trong các môn học còn trùng lặp hoặc các nội dung địa phương của các cơ sở biên soạn còn chồng chéo lẫn nhau và chồng chéo với chương trình giáo dục quốc gia. Ở một số môn học, nội dung địa phương còn nặng nề, hàn lâm, chưa phù hợp với tâm sinh lý lớp học, cấp học. Đặc biệt, quan điểm nội dung địa phương thiết kế theo mạch, độc lập trong từng môn học riêng lẻ hoặc các địa phương biên soạn một cách cứng nhắc đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc dạy học nội dung địa phương trong các nhà trường. Hình thức tổ chức, phương pháp dạy học chưa phong phú, đa dạng. Khâu biên soạn tài liệu giáo dục địa phương chưa được thống nhất, thiếu nguyên tắc và tiêu chí.

2. Nội dung nghiên cứu

NHỮNG KHÓ KHĂN, BẤT CẬP TRONG THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC HIỆN NAY

2.1. Những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phía Bắc

- Khó khăn, bất cập trong nhận thức về GD ĐP. Nhận thức về GDĐP chưa đầy đủ, chưa nhất quán. Đa số cán bộ, giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết phải đưa nội dung GD ĐP vào thực tiễn dạy học ở các trường phổ thông nhưng lại thiếu hiểu biết lý luận và thiếu kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề này. Ngay các nhà chuyên môn còn chưa rõ đây là môn học độc lập hay là nội dung dạy học thuộc các môn học khác nhau. Vì vậy, dẫn đến việc đào tạo giáo viên và tổ chức phân công giáo viên giảng dạy rất khó khăn.

- Khó khăn, bất cập trong quản lý, tổ chức thực hiện. Việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, chính phủ trong thực hiện nội dung GDĐP chưa kịp thời. Thiếu cơ chế quản lý đồng bộ, nhất quán giữa ngành giáo dục với chính quyền và các cơ quan chức năng ở địa phương. Việc phân cấp, phân quyền trong tổ chức thực hiện chưa rõ ràng, thiếu cơ chế rằng buộc, dẫn đến có địa phương chủ động tích cực thực hiện, có địa phương chưa chủ động tích cực thực hiện. Nhiều ý kiến cho rằng hướng dẫn của Bộ GD&ĐT chưa rõ ràng, khó thực hiện. Mặt khác, tính chất đa dạng về dân cư, về địa lý, về văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc làm cho việc vận dụng chính sách của Nhà nước vào thực tiễn GDĐP cũng khó khăn hơn các địa phương khác.

- Khó khăn, bất cập trong việc xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện nội dung GDĐP. Các địa phương còn lúng túng trong việc xác định nội dung, phương pháp GDĐP. Học cái gì? Học như thế nào? Học ở đâu? Tỷ lệ thời gian, bao nhiêu tiết lý thuyết, bao nhiêu tiết trải nghiệm thực tiễn? Các tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều vùng miền khác nhau, nhiều dân tộc khác nhau, văn hóa, phong tục tập quán khác nhau làm cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện GDĐP càng thêm khó khăn hơn.

- Khó khăn, bất cập trong huy động lực lượng tham gia thực hiện nội dung GDĐP. Nội dung GDĐP liên quan đến các cơ sở văn hóa vật chất, tinh thần của địa phương quản lý. Làm thế nào để huy động được các cơ quan, đoàn thể ở địa phương, các chuyên gia, các nghệ nhân về các ngành nghề truyền thống cùng tham gia GDĐP. Cần có cơ chế huy động lực lượng khuyến học, tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở địa phương tham gia hướng dẫn trải nghiệm thực tiễn cho học sinh.

- Khó khăn, bất cập trong huy động các nguồn lực đảm bảo cho GDĐP. Nguồn tài chính phục vụ cho GD ĐP không chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí của trung ương mà phải làm thế nào để huy động được các nguồn kinh phí từ địa phương, từ xã hội hóa. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đảm bảo cho GDĐP ở mỗi địa phương không hoàn toàn giống nhau. Ngoài những cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chung, mỗi vùng miền có nội dung GDĐP khác nhau, đòi hỏi phải có trang thiết bị khác nhau. Nguồn thông tin đảm bảo cho GDĐP cần phải có cơ chế cho phép nhà trường được truy cập cơ sở dữ liệu của địa phương.

- Khó khăn, bất cập trong viết, in ấn, xuất bản tài liệu học tập. Tình trạng phổ biến hiện nay là thiếu tài liệu học tập nội dung GDĐP. Trong khi tất cả các môn học khác đã có sách giáo khoa đầy đủ theo Chương trình GDPT 2018, đi vào giảng dạy cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 thì riêng GDĐP đến nay nhiều địa phương chưa có tài liệu học tập cho học sinh.

- Khó khăn, bất cập trong đánh giá kết quả học tập của học sinh. Hiện nay việc giảng dạy nội dung GD ĐP cho học sinh đang được phân cho giáo viên ở các tổ chuyên môn khác nhau cùng giảng dạy. Điều đó dẫn đến khó khăn, bất cập trong việc giao cho giáo viên nào, tổ chuyên môn nào đánh giá kết quả học tập nội dung GDĐP của học sinh. Phương thức đánh giá như thế nào là phù hợp.

2.2. Nguyên nhân của những khó khăn, bất cập

Những khó khăn bất cập trong tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương cho học sinh phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Nguyên nhân khách quan là sự tác động của các yếu tố khách quan thuộc về bối cảnh thời đại và trong nước. Nguyên nhân chủ quan là sự tác động của các yếu tố chủ quan thuộc về cán bộ quản lý các cấp và đội ngũ giáo viên các nhà trường phổ thông. Từ phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng có thể khái quát những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó như sau:

Một là: Nguyên nhân khách quan thuộc về sự tác động của môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc.

Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc nhìn chung còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Kinh tế của các tỉnh miền núi phía Bắc còn hạn hẹp, nhiều tỉnh thu không đủ chi, phải phụ thuộc vào kinh phí của nhà nước cấp. Vì vậy, rất khó chủ động đầu tư cho giáo dục, đào tạo. Đồng bào các dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa thường gặp điều kiện kinh tế khó khăn, không đủ điều kiện cho con em đi học. Gia đình học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng các chi phí học tập, dẫn đến tình trạng bỏ học, đi làm sớm. Một số vùng miền, trường lớp ở xa, đi lại khó khăn, gia đình không có người đưa đón, các em học sinh nhỏ tuổi không tự đến trường một mình.

Phong tục, tập quán lạc hậu, cư dân phân tán rất khó cho việc phát triển trường lớp. Một số phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số có thể ảnh hưởng đến việc đi học của trẻ em, như tảo hôn, phụ nữ phải làm việc nhà nhiều. Một số dân tộc ít người vẫn còn tập quá du canh, du cư thiếu ổn định. Việc học hành không được quan tâm đúng mức.

Khó khăn về ngôn ngữ và văn hóa khác nhau giữa các nhóm học sinh thuộc các dân tộc khác nhau. Học sinh dân tộc thiểu số gặp khó khăn khi tiếp cận ngôn ngữ, chương trình học tập, đặc biệt là khi sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính ở trường.

Đa dạng văn hóa giữa các dân tộc dẫn đến tâm lý học sinh khác nhau trong học tập văn hóa của dân tộc khác. Việc xây dựng chương trình và tài liệu giáo dục địa phương phải tính đến sự đa dạng văn hóa của các dân tộc thiểu số.

Hai là: Nguyên nhân thuộc về năng lực quản lý và kinh nghiệm quản lý của chính quyền địa phương và ngành giáo dục trong tổ chức thực hiện nội dung GDĐP

Giáo dục địa phương là một vấn đề tương đối mới, trình độ năng lực và kinh nghiệm quản lý của cán bộ địa phương còn hạn chế. Hầu hết cán bộ quản lý giáo dục ở các địa phương chưa được đào tạo, nghiên cứu về lý luận về GD ĐP. Vì vậy. Khả năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về GD ĐP còn lúng túng. Các văn bản quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành rất nhiều nội dung khó hiểu và khó thực hiện. Việc phân cấp, phân quyền trong quản lý chưa rõ ràng, thiếu điều kiện thực hiện khả thi.

Quảng cáo

Đối với chính quyền địa phương ở một số tỉnh chưa thực sự quan tâm đến GDĐP. Không ít cán bộ lãnh đạo còn có tâm lý xem nhẹ nội dung GDĐP, ít quan tâm tìm hiểu, thiếu kiến thức về GD ĐP. Do đó đã giao khoán cho Sở Giáo dục và Đào tạo phụ trách. Một số cấp quản lý chưa thực sự quan tâm đến việc chỉ đạo, hỗ trợ, giám sát việc thực hiện nội dung giáo dục địa phương.

Thiếu sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc triển khai các hoạt động giáo dục địa phương. Bộ giao cho Sở. Sở chờ đợi sự hướng dẫn của Bộ. Chính quyền địa phương giao cho Sở. Các ban ngành khác không quan tâm. Tất cả những điều đó là do thiếu cơ chế quản lý, thiếu năng lực quản lý và thiếu kinh nghiệm quản lý về GDĐP. Một phần nào đó là do thiếu trách nhiệm, hoặc là trách nhiệm không rõ ràng, làm cũng được, không làm cũng không sao.

Ba là: Nguyên nhân thuộc về năng lực và kinh nghiệm tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, giáo viên ở các nhà trường phổ thông

Nguồn nhân lực tham gia thực hiện nội dung GD ĐP ở các nhà trường vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và không phù hợp về cơ cấu. Hầu hết các nhà trường phổ thông đều thiếu giáo viên có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và hiểu biết về văn hóa địa phương. Thiếu giáo viên người bản địa có hiểu biết sâu về văn hóa địa phương.

Chất lượng giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đặc biệt là trong việc giảng dạy nội dung giáo dục địa phương. Cho đến nay, các trường sư phạm chưa có chuyên ngành đào tạo giáo viên GD ĐP. Hiện nay các nhà trường đang phải sử dụng các giáo viên của các môn học khác để giảng dạy nội dung GDĐP. Một số nhà trường lựa chọn những giáo viên còn thiếu giờ giảng để phân công giảng dạy nội dung GDĐP.

Cơ cấu đội ngũ giáo viên không cân đối về người dân tộc thiểu số, về trình độ chuyên môn được đào tạo. Đặc điểm các nhà trường phổ thông trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc là các em học sinh thuộc nhiều dân tộc ít người khác nhau. Trong khi đó, các nhà trường không thể có đủ giáo viên của tất cả các dân tộc ít người. Dẫn đến tình trạng giáo viên của dân tộc này giảng dạy nội dung giáo dục địa phương về văn hóa của dân tộc khác.

Cơ chế chính sách quản lý chưa có quy chế quy định huy động nguồn nhân lực tại chỗ của địa phương tham gia các hoạt động GDĐP. Nhiều nghệ nhân, nhiều chuyên gia văn hóa của địa phương có hiểu biết thực tiễn về các lĩnh vực liên quan đến nội dung GD ĐP của nhà trường, nhưng không có quy chế để khai thác, sử dụng, mời họ tham gia vào quá trình GDĐP.

Bốn là: Nguyên nhân thuộc về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài chính đảm bảo cho GDĐP còn hạn hẹp.

Các nhà trường còn thiếu thốn về cơ sở vật chất. Nhiều trường học ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn trang thiết bị, đồ dùng học tập, thư viện, phòng chức năng, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học. Một số nhà trường được nhà nước và các tổ chức xã hội đầu tư xây dựng, mua sắm nhưng do các thiết bị không đồng bộ, do năng lực quản lý còn hạn nên không khai thác, sử dụng hết hiệu quả. Mặt khác, không có nguồn thay thế, bảo dưỡng, một số thiết bị nhanh bị hư hỏng, xuống cấp không sử dụng được.

Chương trình giáo dục phổ thông nói chung và nội dung giáo dục địa phương đôi khi chưa thực sự phù hợp với đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội của từng địa phương. Một số địa phương chưa chủ động và chưa đủ năng lực trong việc xây dựng nội dung chương trình GDĐP, phải huy động những người ở địa phương khác có hiểu biết không đầy đủ về văn hóa địa phương tham gia viết các nội dung GDĐP của địa phương mình. Điều đó dẫn đến nội dung GDĐP còn mang tính đại cương, chưa mang tính bản sắc của địa phương. Mặt khác, một số giáo viên là người địa phương tham gia viết nội dung GDĐP nhưng lại không có năng lực và kinh nghiệm viết sách giáo khoa. Điều đó làm cho chất lượng của các chương trình, nội dung GDĐP chưa thật sự phù hợp.

Mặt khác, việc biên soạn tài liệu giáo dục địa phương còn chậm, thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học. Cơ chế quản lý trong in ấn, xét duyệt tài liệu GD ĐP còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng phổ biến hiện nay là sách viết xong nhưng không in ấn được, hoặc in ấn xong nhưng không biết phát hành theo phương thức nào.

Nguồn tài chính đảm bảo cho thực hiện nội dung GDĐP ở các tỉnh miền núi phía Bắc còn hạn hẹp. Một số đầu việc nảy sinh trong quá trình thực hiện nội dung GDĐP không có kinh phí để xử lý.

Tóm lại, những khó khăn, bất cập trong thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi, vùng khó khăn xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm cả khách quan và chủ quan. Các nguyên nhân chính bao gồm điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, thiếu thốn cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu, chương trình và tài liệu giảng dạy chưa phù hợp, và sự thiếu quan tâm đúng mức từ các cấp quản lý.

Để khắc phục những khó khăn, bất cập trên, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, đặc biệt là sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục. Cần có các chính sách phù hợp để hỗ trợ giáo dục vùng miền núi, vùng khó khăn.

3. Kết luận

Giáo dục địa phương là một nội dung giáo dục bắt buộc trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Năm học 2023 – 2024, nội dung giáo dục địa phương đã được triển khai thực hiện ở tất cả các cấp học phổ thông. GDĐP bị quy định bởi điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương. Mỗi địa phương có tính đặc thù riêng, có mục tiêu, yêu cầu cụ thể khác nhau về tổ chức thực hiện nội dung GDĐP.

Các tỉnh miền núi phía Bắc là khu vực có địa hình rừng núi, giao thông đi lại khó khăn. Đây cũng là khu vực tập trung của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số khác nhau, phong tục tập quán, lối sống và văn hóa đa dạng. Điều đó đặt ra những yêu cầu về giáo dục địa phương có những đặc điểm không giống với các vùng miền khác trong cả nước. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nhờ đó, GDĐP bước đấu đã đạt được một số kết quả bước đầu. Tuy nhiên, trong thực tế GDĐP ở các tỉnh miền núi phia Bắc vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập.

Nguyên nhân của những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện nội dung GDĐP ở các tỉnh miền núi phía Bắc gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Trong đó nổi lên 4 nguyên nhân cơ bản. Nguyên nhân thuộc về sự tác động của môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc. Nguyên nhân thuộc về năng lực quản lý và kinh nghiệm quản lý của chính quyền địa phương và ngành giáo dục trong tổ chức thực hiện nội dung GDĐP. Nguyên nhân thuộc về năng lực và kinh nghiệm tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, giáo viên ở các nhà trường phổ thông. Nguyên nhân thuộc về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài chính đảm bảo cho GDĐP còn hạn hẹp.

Đó là những vấn đề thực tiễn đặt ra trong thực hiện nội dung giáo dục địa phương cho học sinh phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay. Để tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương cho học sinh phổ thông ở các tỉnh miền núi phia Bắc cần có lộ trình vừa tiếp tục nghiên cứu phát triển về lý luận, vừa điều chỉnh phát triển các điều kiện đảm bảo trong thức tiễn của cả trung ương và địa phương. Từng bước đi phải phù hợp hài hòa giữa yêu cầu với điều kiện chung và yêu cầu với điều kiện riêng của mỗi địa phương, mỗi nhà trường, khả thi về cơ chế quản lý và năng lực giáo viên.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ GD-ĐT (2020). Thông tư số 33/2020/TT-BGDĐT ngày 15/09/2020 quy định việc thẩm định tài liệu giáo dục địa phương.

[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (19/8/2019), Văn bản hướng dẫn số 3536/BGDĐT-GDTH Về việc biên soạn, thẩm định nội dung giáo dục của địa phương cấp tiểu học trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và tổ chức thực hiện từ năm học 2020-2021.

[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2019). Công văn số 1106/BGDĐT-GDTrH ngày 20/03/2019 về Biên soạn và tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông.

[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (26/12/2018), Chương trình Giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể, Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

[5]. Nguyễn Thị Bảo Hoa (2019). Một số định hướng thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở vùng dân tộc thiểu số theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới. Tạp chí Dạy và học ngày nay, kì I - 10, tr 11-13.

[6]. Thành Phúc (19/09/2022), Bất cập ở Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình giáo dục phổ thông mới. https://congdankhuyenhoc.vn/bat-cap-o-noi-dung-giao-duc-dia-phuong-trong-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-moi-179220919085724188.htm

[7]. Trần Trung (2017). Ảnh hưởng của phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc đến hiệu quả xây dựng nông thôn mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.

[8]. UBND tỉnh Thái Nguyên (2019). Kế hoạch số 96/KH-UBND ngày 10/07/2019 về Biên soạn, thẩm định, tổ chức thực hiện tài liệu giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông.

Từ Khóa: Khó khăn, bất cập, nội dung giáo dục địa phương, học sinh phổ thông, miền núi phía Bắc

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.