NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM” - NÉT ĐẶC SẮC TRONG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

05:05 | 27/09/2025
Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Thọ Khoa Công tác đảng, công tác chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ) Gmai: [email protected] Tóm tắt: Hiện nay, ngoại giao văn hóa đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia trong bối cảnh quan hệ quốc tế ngày càng đa chiều và phức tạp. Bài viết tập trung làm rõ nét đặc sắc trong chính sách ngoại giao “Cây tre Việt Nam” gắn với nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộ

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Thọ

Khoa Công tác đảng, công tác chính trị

Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ)

Gmai: [email protected]

Tóm tắt: Hiện nay, ngoại giao văn hóa đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia trong bối cảnh quan hệ quốc tế ngày càng đa chiều và phức tạp. Bài viết tập trung làm rõ nét đặc sắc trong chính sách ngoại giao “Cây tre Việt Nam” gắn với nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việc đẩy mạnh hoạt động ngoại giao “Cây tre Việt Nam” không chỉ mở ra “thời cơ vàng” để Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, mà còn góp phần giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Đây là hướng đi thiết thực, tạo động lực thúc đẩy ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế phát triển, gia tăng quyền lực mềm, qua đó nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong tương lai.

Từ khóa: Ngoại giao văn hóa, ngoại giao “cây tre Việt Nam”, văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, dân tộc.

Ngày nhận:25/9/2025; Biên tập:26/9/2025; Duyệt đăng: 26/9/2025

NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM” - NÉT ĐẶC SẮC TRONG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

1. Đặt vấn đề

Quảng cáo

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát triết lý của trường phái “ngoại giao cây tre” như sau: Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách, khí phách của dân tộc Việt Nam; mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; biết nhu, biết cương, biết thời, biết thế, biến mình, biết người, biến tiến, biết thoái, tùy cơ ứng biến, lạt mềm buộc chặt. Ngoại giao “cây tre Việt Nam” được Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu trong Hội nghị ngoại giao lần thứ 29 năm 2016, là lần đầu tiên Tổng bí thư nhắc đến “trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Đến Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào tháng 12 năm 2021, bổ sung thêm rằng “trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Khái niệm này là sự đúc kết, hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện với những đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển chung của đất nước.

2. Nội dung nghiên cứu

Trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, cây tre là biểu trưng của bản lĩnh quật cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc, thực hiện phương châm sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Việt Nam đã và đang thực sự “là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đó là khởi điểm của quá trình hình thành, phát triển của nền ngoại giao Việt Nam từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, lập nước, hình thành nên trường phái ngoại giao của Việt Nam. Tới nay, “gốc tre” của ngoại giao Việt Nam nói riêng và đất nước nói chung đã bén rễ, vươn cành vững chắc hơn với những thành quả đáng tự hào, bất chấp giông tố của thời cuộc.

Đường lối “ngoại giao cây tre” được thể hiện "Gốc vững" là truyền thống tự lực, tự cường, là lợi ích quốc gia dân tộc, được dẫn dắt bởi nền tảng tư tưởng của Đảng. Thân chắc chính là bản lĩnh kiên cường trước mọi thử thách, khó khăn, cành uyển chuyển chính là sự ứng xử “vạn biến” trước biến thiên của thời cuộc. Bản sắc ngoại giao Việt Nam bắt nguồn từ những triết lý và truyền thống bang giao của cha ông ta: Đó là tinh thần độc lập, tự cường, hòa mục bên trong, hòa hiếu bên ngoài; là kiên quyết, kiên trì, biết thắng từng bước để đạt thắng lợi cuối cùng; là nghệ thuật dùng ngòi bút thay chiến bào, lấy chính nghĩa thắng hung tàn và thu phục lòng người như cố Tổng bí thư Trường Chinh đã từng khẳng đinh: “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ, mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Bản sắc ngoại giao Việt Nam thời hiện đại là tư tưởng, phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh với những bài học “dĩ bất biến ứng vạn biến”, biết nhu, biết cương, giúp bạn là tự giúp mình, vì hòa bình, hợp tác và sự tiến bộ của nhân loại. Đặc trưng quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc trong ngoại giao Việt Nam là không ngừng kế thừa và phát triển, sàng lọc qua thực tiễn và chắt lọc, tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại.

Hiện nay, Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - “nền văn hóa yêu nước và tiến bộ”, với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với mục tiêu tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện cho mỗi con người Việt Nam trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên, giữa kinh tế, chính trị và ngoại giao. Ngoại giao mang dấu ấn sắc thái riêng của dân tộc, chính là sự phát huy cao độ dấu ấn của văn hóa, của con người mang cốt cách dân tộc Việt Nam. Đó là những phẩm chất tốt đẹp được giữ gìn, phát huy, vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, biết hy sinh vì sự nghiệp dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó còn là sự tế nhị trong giao tiếp và giản dị trong đời sống.

Từ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã kết tinh trong văn hóa ngoại giao của người Việt. Bởi, ngoại giao văn hóa được xác định là một trụ cột, cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, tạo nên nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Trong đó, ngoại giao chính trị có vai trò xác định mục tiêu, định hướng cho công tác ngoại giao văn hóa. Ngoại giao kinh tế là nền tảng vật chất, tạo nguồn lực để thúc đẩy ngoại giao văn hóa. Ở mối quan hệ ngược lại, ngoại giao văn hóa chuyển tải các giá trị văn hóa, bản sắc, hòa hiếu, nhân văn vào ngoại giao chính trị, từ đó góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu địa phương, phục vụ phát triển đất nước, khơi dậy tình cảm gắn bó, hướng về quê hương đất nước của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Ngoại giao văn hóa mang màu sắc “cây tre Việt Nam” là một nét đặc sắc riêng của dân tộc Việt Nam. Hình tượng cây tre và đường lối ngoại giao Việt Nam rất gần gũi nhau, bởi ngoại giao chính là sự giao thoa của chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh...; là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, và tương lai, kết nối Việt Nam với các nước. Ngoại giao lấy nền tảng là văn hóa dân tộc, mang nội hàm văn hóa dân tộc. Bản sắc của ngoại giao Việt Nam cũng chính là bản sắc dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam, được hun đút qua đấu tranh với thiên tai và chống ngoại xâm hàng ngàn năm để gây dựng nên nền văn hiến lâu đời. Sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam thể hiện ở tính chính danh, chính nghĩa, từ phong cách ứng xử nhân văn, có trước có sau, cách hành xử thượng tôn pháp luật và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. “Cành uyển chuyển” là phong cách, nghệ thuật ứng xử linh hoạt, vận dụng nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đặc biệt trong các hoàn cảnh khó khăn, có sự mâu thuẫn giữa những xu thế khác nhau, giữa đòi hỏi phải hài hòa cái chung và cái riêng, nhằm giữ vững bản sắc, giá trị đất nước và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc Việt Nam phù hợp với những giá trị chung của nhân loại”. Tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh là cách ứng xử “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “biết dừng, biết biến. Với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là thực hiện các mục tiêu: “Tạo lập và giữ vững môi trường, hòa bình, ổn định”, “huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước” và “nâng cao vị thế uy tín của đất nước”, lấy hình ảnh cây tre Việt Nam để định hướng cho trường phái ngoại giao riêng, đặc sắc và độc đáo của văn hóa Việt Nam - “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”: Đó là, mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; đó là, linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; đó là, đoàn kết, nhân ái, bao dung nhưng luôn đặt lợi ích quốc gia tối thượng, kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; đó là, biết cương, biết nhu; biết mình, biết người; “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Hình tượng ấy, cốt cách ấy được đúc kết văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam: ý chí kiên cường, bản lĩnh vượt qua mọi khó khăn; mềm dẻo, hòa hiếu, rộng mở, bao dung, tất cả vì độc lập, tự do, vì sự phát triển của đất nước, cuộc sống bình an, hạnh phúc của nhân dân.

Hiện nay, ngoại giao “cây tre Việt Nam” là thành quả phát triển và là vị thế quốc tế thực tế của Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc Đổi Mới cho đến nay, trong đó có đóng góp rất lớn của công tác đối ngoại. Công cuộc Đổi Mới của Việt Nam đã đưa công tác đối ngoại của đất nước vươn xa tầm mới nhưng vẫn luôn giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã sử dụng hình tượng hóa ngoại giao như là một bên cánh của con chim, không thể thiếu cho sự phát triển của Việt Nam. Chính sách hội nhập và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam gắn sự nghiệp phát triển của đất nước với sự phát triển và biến động của khu vực và trên thế giới. Con thuyền phát triển của Việt Nam phụ thuộc vào “sóng yên biển lặng” của thế giới, vào bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về mục tiêu và hướng đi của người cầm lái con thuyền. Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đến nay, đường lối “đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”[1] của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã được khẳng định xuyên suốt qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Với đường lối đối ngoại đó, Việt Nam luôn giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại, có quan điểm, lập trường riêng đối với các vấn đề quốc tế... Giữ vững độc lập, tự chủ, nhưng không biệt lập, đóng cửa, tự cô lập, mà luôn mở rộng sự hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với các nước, các nền kinh tế, các tổ chức quốc tế và khu vực; luôn phấn đấu vì hòa bình, thúc đẩy tình hữu nghị, sự hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, việc Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa đã tạo nên sự tin cậy trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế, được mở rộng và đạt nhiều thành tựu thông qua hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác trên các lĩnh vực, như kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc phòng, an ninh với các nước. Việc tập trung kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, để tạo thế chân kiềng vững chắc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; chủ động phòng ngừa và hóa giải các nguy cơ an ninh thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và thượng tôn pháp luật. Duy trì hiệu quả các mối quan hệ với các đối tác, “trước hết là các nước láng giềng và các nước lớn, đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả; ưu tiên duy trì ổn định và giữ đà quan hệ, tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, đồng thời xử lý các khác biệt và vấn đề nảy sinh trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, kiểm soát bất đồng, dựa trên luật pháp quốc tế và thông lệ khu vực”[2].

3. Kết luận

Cây tre là một phần trong bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời được xem như biểu tượng cho tinh thần và cốt cách của con người Việt Nam. Ngoại giao “cây tre Việt Nam”, theo cách khái quát của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, đã trở thành phương châm đối ngoại trong thời kỳ mới. Đây là đường lối thể hiện sự kiên định nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời đòi hỏi sự sáng tạo, năng động và linh hoạt, phù hợp với thực lực, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cũng như với những diễn biến của tình hình thế giới, khu vực và đặc điểm từng đối tác trong quan hệ quốc tế.

Sự uyển chuyển trong chính sách và các bước đi đối ngoại của Việt Nam không phải là sự ngả nghiêng, thực dụng hay vô nguyên tắc. Ngược lại, đó là sự sáng tạo, năng động và linh hoạt về sách lược, được triển khai trên cơ sở kiên định chiến lược, nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trong mọi hoàn cảnh. Chỉ trên cơ sở giữ vững nguyên tắc và kiên định chiến lược mới có thể vận dụng sự sáng tạo, năng động và linh hoạt về sách lược; đồng thời chính sự sáng tạo, năng động, linh hoạt ấy góp phần nâng cao hiệu quả triển khai chiến lược đối ngoại của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr. 161.

[2] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 195

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Phát huy vai trò của Hội Cựu giáo chức qua 5 năm thực hiện chủ trương “bốn cùng”

Tại Hội nghị Tổng kết năm học của Ngành GD&ĐT Nghệ An do UBND tổ chức ngày 17/8/2026

CHI HỘI CỰU GIÁO CHỨC ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI TRAO TẶNG SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN TRƯỜNG TIỂU HỌC, TRUNG HỌC CƠ SỞ TRẦN VĂN ƠN- XÃ BOM BO THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

TCGCVN - Chi hội Cựu giáo chức Trường Đại học Đồng Nai là tổ chức xã hội trực thuộc Trường Đại học Đồng Nai, Hội Cựu Giáo Chức thành phố Đồng Nai, tập hợp các cán bộ, giáo viên hưu trí của trường. Chi hội thực hiện vai trò chăm lo đời sống tinh thần cho hội viên, giữ gìn truyền thống đạo lý "tôn sư trọng đạo" và tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội góp phần xây dựng địa phương và giáo dục thế hệ trẻ…

TẠP CHÍ GIÁO CHỨC VIỆT NAM – Hành trình 20 năm xây dựng và trưởng thành

Tạp chí Giáo chức Việt Nam tròn 20 năm xây dựng và phát triển là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt đối với những người làm báo, làm khoa học giáo dục và các thế hệ nhà giáo Việt Nam. Từ những ngày đầu hoạt động trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, Tạp chí đã từng bước khẳng định vị trí là một diễn đàn khoa học giáo dục, nơi kết nối, chia sẻ và lan tỏa tri thức trong cộng đồng nhà giáo. Hai thập kỷ đã đi qua, hành trình ấy được ghi dấu không chỉ bằng hàng trăm số báo và hàng nghìn công trình khoa

Lan tỏa triết lý giáo dục, khẳng định bản sắc của một ngôi trường tiên phong đổi mới

TCGCVN - Chiều ngày 08/8/2026, tại Trường THPT Đông Đô (Hà Nội), Trường THPT Đông Đô phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Sư phạm tổ chức Hội thảo khoa học giới thiệu cuốn sách "Bản sắc Đông Đô trong tiến trình đổi mới giáo dục Việt Nam" của TS. Võ Thế Quân, Chủ tịch Hội đồng Trường THPT Đông Đô. Sự kiện là một trong những hoạt động trọng điểm chào mừng 35 năm thành lập Trường THPT Đông Đô (1991–2026), thu hút sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà giáo lão thành, đại d

GIÁO SƯ, VIỆN SĨ PHẠM MINH HẠC – NHÀ KHOA HỌC XUẤT SẮC VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ GIÁ TRỊ KHAI SÁNG VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

TCGCVN - Ngày 31/7/2026, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông là mất mát lớn đối với nền giáo dục, khoa học tâm lý và khoa học giáo dục Việt Nam. Với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, Tạp chí điện tử Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và sự nghiệp của một nhà giáo dục lớn, người đã cống hiến trọn đời cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.