NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SỐ: TỪ YÊU CẦU THỰC TIỄN ĐẾN CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

21:07 | 16/04/2026
Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giảng viên trẻ đóng vai trò mắt xích quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số giáo dục. Để khắc phục hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, các cơ sở giáo dục cần chủ động triển khai kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm theo hướng số hóa. Việc trang bị tư duy ứng dụng công nghệ và kỹ năng quản trị lớp học trên không gian mạng cho giảng viên trẻ

Trần Đức Khánh Hùng

Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội

Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giảng viên trẻ đóng vai trò mắt xích quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số giáo dục. Để khắc phục hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, các cơ sở giáo dục cần chủ động triển khai kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm theo hướng số hóa. Việc trang bị tư duy ứng dụng công nghệ và kỹ năng quản trị lớp học trên không gian mạng cho giảng viên trẻ không chỉ là giải pháp cấp bách trước mắt, mà còn là bước đi chiến lược để nâng cao vị thế và chất lượng đào tạo của nhà trường trong kỷ nguyên số.

Từ khoá: Giảng viên trẻ; năng lực sư phạm; chuyển đổi số.

Nhận bài: 14/4/2026; Biên tập: 15/4/2026; Duyệt đăng: 16/4/2026.

1. Đặt vấn đề

Năng lực sư phạm (NLSP) được xác định là cấu phần cốt lõi của năng lực nghề nghiệp, kết tinh từ sự am tường kiến thức chuyên môn, tác phong chuẩn mực và khả năng xử lý linh hoạt các tình huống nghiệp vụ. Đây là nhân tố quyết định hiệu quả của hoạt động sư phạm, trực tiếp ảnh hưởng đến việc hiện thực hóa sứ mệnh giáo dục tại các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, NLSP không mang tính tự thân mà là kết quả của quá trình đào tạo bài bản, tích lũy thực tiễn và tự vận động rèn luyện. Trong bối cảnh hiện nay, việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ, cần tập trung vào sự giao thoa giữa chuyên môn sâu và năng lực ứng dụng công nghệ số, coi đây là yêu cầu vừa mang tính cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ chiến lược cấp thiết.

2. Thực trạng công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ hiện nay

Trong những năm qua, Đảng ủy và Ban Giám hiệu các cơ sở giáo dục đã quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trọng tâm là việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị vào chiến lược phát triển đội ngũ nhà giáo, xác định bồi dưỡng năng lực sư phạm (NLSP) cho giảng viên trẻ là “khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt”. Đây chính là tiền đề lý luận và thực tiễn để định hướng toàn bộ hoạt động bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa trong tình hình mới. Về phía chủ thể, đội ngũ giảng viên trẻ đã thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động. Đa số giảng viên đều xác định rõ trách nhiệm cá nhân, chủ động xây dựng lộ trình tự đào tạo, tự hoàn thiện. Đáng chú ý, nhiều giảng viên trẻ đã phát huy thế mạnh tư duy đổi mới, tích cực ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại trên nền tảng số, khai thác hiệu quả tài nguyên thông tin và các phần mềm chuyên ngành để làm giàu tri thức chuyên môn. Sự nhạy bén trong việc tiếp cận các công cụ chuyển đổi số đã giúp họ không chỉ làm chủ bục giảng mà còn khẳng định được năng lực trong nghiên cứu khoa học, tổ chức seminar và tư vấn học thuật, tạo sức hút lớn đối với người học. Quy trình bồi dưỡng tại các khoa, bộ môn cũng được thực hiện chặt chẽ thông qua cơ chế “giám sát và phản hồi” liên tục. Những nội dung chưa đạt chuẩn đều được yêu cầu chỉnh sửa, thông qua bài giảng nghiêm túc trước khi thực hiện trên lớp, góp phần nâng cao năng lực toàn diện một cách vững chắc. Bên cạnh đó, nội dung và hình thức bồi dưỡng đã có bước đột phá theo hướng số hóa và cá nhân hóa lộ trình phát triển. Sự tự tin, chủ động trong việc đảm nhận các chuyên đề khó, cùng tinh thần cầu thị, khiêm tốn học hỏi từ các chuyên gia giàu kinh nghiệm đã tạo nên một diện mạo mới cho đội ngũ giảng viên trẻ: năng động, bản lĩnh và thích ứng cao với môi trường giáo dục số. Tuy nhiên, bên cạnh những cái đã đạt được trên thì công tác bồi dưỡng NLSP cho đội ngũ giảng viên trẻ ở các cơ sở giáo dục vẫn còn những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, nhận thức của một bộ phận cán bộ, giảng viên về vị trí, vai trò của việc nâng cao NLSP chưa thực sự đầy đủ và tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Trong công tác quản lý, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại một số cơ sở giáo dục còn thiếu tính định lượng và cụ thể; kế hoạch bồi dưỡng vẫn mang tính hình thức, chưa sát với nhu cầu thực tiễn và đặc biệt là chưa bắt kịp với tiến trình chuyển đổi số trong giáo dục. Mặc dù lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã có chủ trương quan tâm, song việc thiếu các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề riêng biệt về bồi dưỡng NLSP cho giảng viên trẻ đã dẫn đến sự thiếu hụt khung pháp lý và định hướng chiến lược dài hạn. Công tác bồi dưỡng vẫn còn tình trạng “thời vụ”, thiếu tính hệ thống; việc ứng dụng hệ thống quản trị số để theo dõi, đánh giá lộ trình phát triển năng lực của giảng viên trẻ còn bỏ ngỏ, dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng chưa đồng đều và thiếu tính bền vững.

Hai là, nội dung, hình thức và phương pháp bồi dưỡng NLSP hiện nay vẫn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thiếu sự phân hóa theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức chuyên trách chưa thực sự nhịp nhàng, dẫn đến sự phân tán nguồn lực và chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy tính tích cực, tư duy sáng tạo của giảng viên trẻ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trong tổ chức thực hiện, kế hoạch bồi dưỡng ở nhiều nơi vẫn mang tính chắp vá, thụ động và thiếu tầm nhìn chiến lược. Quy trình chủ yếu mới dừng lại ở khâu giao nhiệm vụ hành chính, chưa chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ và hướng dẫn thực hành. Sự đứt gãy trong việc duy trì kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, đặc biệt là đối với nhóm giảng viên mới vào nghề, đã tạo ra sự phát triển không đồng đều về trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc thiết lập một lộ trình bồi dưỡng cá nhân hóa trên nền tảng quản trị thông minh nhằm tối ưu hóa tiềm năng của đội ngũ kế cận.

Ba là, bên cạnh những yếu tố khách quan, tính chủ động và ý thức tự giác trong việc nâng cao năng lực sư phạm (NLSP) của một bộ phận giảng viên trẻ vẫn còn hạn chế. Quá trình tự đào tạo, tự bồi dưỡng chưa thực sự trở thành nhu cầu nội tại hay một thói quen chuyên môn bền vững. Điều này dẫn đến những lỗ hổng trong kỹ năng sư phạm thực hành: từ việc thiết kế đề cương bài giảng còn dàn trải, thiếu trọng tâm, đến việc phân bổ thời lượng chưa khoa học. Do tâm lý thiếu ổn định và bản lĩnh nghề nghiệp chưa vững, không ít giảng viên trẻ còn lúng túng, thiếu tự tin khi xử lý các tình huống sư phạm thực tế. Đặc biệt, chất lượng bài giảng của một bộ phận giảng viên trẻ chưa đáp ứng được kỳ vọng chuyên sâu. Nội dung truyền thụ chủ yếu dừng lại ở mức độ lý thuyết cơ bản, thiếu sự phân tích đa chiều, liên hệ thực tiễn chưa sát sao và phương pháp giảng dạy còn nặng về độc thoại một chiều. Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và các công cụ bổ trợ công nghệ số còn mang tính hình thức, chưa khai thác tối đa lợi thế của hệ sinh thái giáo dục hiện đại để kích thích tư duy người học.

3. Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ ở các cơ sở giáo dục hiện nay

Một là, thúc đẩy sự chuyển biến về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trẻ.

Đây là giải pháp then chốt, giữ vai trò quyết định đến hiệu quả bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trẻ. Về mặt lý luận và thực tiễn, nhận thức đúng đắn luôn là tiền đề cho hành động chính xác. Do đó, các cấp ủy, hệ thống chỉ huy, cơ quan chức năng và đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm phải xác định bồi dưỡng NLSP là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có tính chiến lược lâu dài. Để tạo chuyển biến thực chất, các chủ thể cần đánh giá khách quan thực trạng NLSP và những thách thức mới từ môi trường giáo dục số. Việc nâng cao nhận thức phải gắn liền với việc xác định rõ phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp (từ Đảng ủy đến các khoa, bộ môn). Toàn bộ hệ thống phải thống nhất quan điểm: bồi dưỡng giảng viên trẻ thực chất là quá trình xây dựng đội ngũ kế cận đủ tâm và tầm, đáp ứng chuẩn hóa trình độ nhà giáo trong tình hình mới. Việc quán triệt sâu sắc các chủ trương, phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là giải pháp căn cơ, giúp tối ưu hóa công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo sự phát triển bền vững của cơ sở giáo dục trước những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn.

Hai là, chủ động lập kế hoạch, đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ theo từng nhóm đối tượng.

Đây là giải pháp trọng yếu, đóng vai trò điều kiện tiên quyết ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bồi dưỡng năng lực sư phạm . Việc triển khai giải pháp này chính là sự cụ thể hóa các chủ trương lãnh đạo vào thực tiễn huấn luyện và đào tạo tại nhà trường. Để tối ưu hóa nguồn lực, các cơ sở giáo dục cần xây dựng hệ thống kế hoạch đồng bộ từ cấp Trường, Khoa, Bộ môn đến từng cá nhân. Công tác hoạch định phải dựa trên việc phân loại, đánh giá chính xác trình độ và đặc điểm của từng nhóm giảng viên trẻ để áp dụng các mô hình phù hợp như: bồi dưỡng tập trung, tập huấn định kỳ hoặc đào tạo trực tuyến (e-learning). Một kế hoạch khoa học cần xác định rõ: mục tiêu chuẩn đầu ra, nội dung trọng tâm, khung thời gian, lực lượng nòng cốt và các điều kiện đảm bảo về hạ tầng công nghệ. Nội dung bồi dưỡng cần thoát ly khỏi tính trừu tượng, tập trung vào các kỹ năng nghiệp vụ then chốt: quản trị tri thức, biên soạn giáo án điện tử, kỹ năng điều hành seminar và năng lực nghiên cứu khoa học độc lập. Trong bối cảnh mới, cần kiên quyết đổi mới hình thức bồi dưỡng theo hướng đa dạng và sáng tạo. Bên cạnh các phương pháp truyền thống, cần tích cực ứng dụng các mô hình sư phạm số, hội thảo khoa học và các diễn đàn trao đổi chuyên môn trên không gian mạng. Sự linh hoạt trong phương thức tiếp cận không chỉ giúp nâng cao chất lượng bài giảng mà còn tạo động lực để giảng viên trẻ chủ động chiếm lĩnh các công nghệ giáo dục hiện đại.

Ba là, không ngừng tích lũy, tổng kết kinh nghiệm để từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.

Năng lực sư phạm là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài qua thực tiễn giảng dạy. Thông qua mỗi bài giảng, giảng viên trẻ phải chủ động tự rút kinh nghiệm, tinh chỉnh phương pháp và cập nhật giáo án để chuyển hóa tri thức thành kỹ năng nghiệp vụ thực thụ. Bên cạnh nỗ lực cá nhân, tinh thần cầu thị và việc học hỏi từ đồng nghiệp là yếu tố then chốt giúp hoàn thiện phong cách sư phạm. Tuy nhiên, mọi kỹ năng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi dựa trên nền tảng đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị vững vàng. Chính động lực nội sinh này sẽ giúp giảng viên trẻ vượt qua rào cản kinh nghiệm để nhanh chóng hòa nhập vào đội ngũ. Sau cùng, nỗ lực chủ quan luôn giữ vai trò quyết định tối hậu. Việc biến quá trình bồi dưỡng thành nhu cầu tự thân, kết hợp giữa rèn luyện tư duy phản biện và đạo đức nghề nghiệp, chính là quy luật cốt lõi để nâng tầm năng lực giảng viên trẻ trong môi trường giáo dục hiện đại.

Quảng cáo

Bốn là, tăng cường phát huy tinh thần tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện và bồi dưỡng năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trẻ.

Đây là giải pháp quan trọng nhằm phát huy yếu tố nội lực, thúc đẩy giảng viên trẻ phát triển năng lực nhận thức, năng lực công tác trong quá trình hoàn thiện kĩ năng sư phạm của người giảng viên. Phát huy yếu tố nội lực là giải pháp trọng yếu nhằm thúc đẩy giảng viên trẻ hoàn thiện năng lực nhận thức và kỹ năng sư phạm. Khi cá nhân xác định được niềm say mê và khát khao khẳng định bản thân, họ sẽ chủ động vượt qua mọi rào cản để chiếm lĩnh tri thức và trau dồi đạo đức nghề nghiệp. Mọi giải pháp hỗ trợ bên ngoài chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành động cơ, ý chí và quyết tâm tự giáo dục của mỗi giảng viên. Vì vậy, đây được xem là biện pháp có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến tiến trình nâng cao năng lực sư phạm hiện nay. Để hiện thực hóa điều này, mỗi giảng viên trẻ cần xây dựng kế hoạch tự học tập và rèn luyện một cách khoa học, nghiêm túc. Bản kế hoạch không chỉ là minh chứng cho tinh thần tự giác mà còn là công cụ quản trị bản thân hiệu quả, hướng tới việc hình thành các năng lực chuyên biệt theo chuẩn nhà giáo. Thực tiễn chứng minh rằng, mọi mục tiêu đều khó đạt được nếu thiếu một lộ trình chặt chẽ hoặc thiếu quyết tâm thực thi. Do đó, việc xây dựng và kiên trì thực hiện kế hoạch tự rèn luyện là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu để giảng viên trẻ khẳng định vị thế và uy tín trong môi trường giáo dục hiện đại.

Bồi dưỡng năng lực sư phạm (NLSP) cho đội ngũ giảng viên trẻ là một hệ thống các tác động đồng bộ từ tổ chức, các lực lượng chuyên trách đến sự nỗ lực tự thân của mỗi cá nhân. Quá trình này tập trung vào việc củng cố hệ thống tri thức, tinh luyện phương pháp tác phong và làm chủ các kỹ năng sư phạm hiện đại, nhằm hướng tới mục tiêu tối thượng là nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng các chuẩn mực giáo dục khắt khe. Đây là một nhiệm vụ mang tính khách quan, thường xuyên nhưng cũng đầy thách thức và phức tạp trong bối cảnh hiện nay. Để tối ưu hóa hiệu quả công tác bồi dưỡng, đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải quán triệt sâu sắc các yêu cầu thực tiễn, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi và đồng bộ. Các nhóm giải pháp này không tồn tại biệt lập mà nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng và hỗ trợ lẫn nhau. Trong đó, việc khai thác triệt để các nguồn lực hiện có đặc biệt là sự giao thoa giữa kinh nghiệm truyền thống và năng lực số sẽ tạo ra tiền đề vững chắc để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống. Sự kết hợp hài hòa giữa sự lãnh đạo sát sao của tổ chức và động lực tự thân của giảng viên chính là chìa khóa để xây dựng đội ngũ kế cận đủ bản lĩnh, tâm huyết, sẵn sàng đưa sự nghiệp giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường lên tầm cao mới.

4. Kết luận

Nâng cao năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ trong giai đoạn chuyển đổi số là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống và sự nỗ lực không ngừng của mỗi cá nhân. Khi các giải pháp được triển khai một cách thực chất và hiệu quả, đây sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2012), Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược Phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020.

2. Bộ Quốc phòng, (2013), Chiến lược Phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 2523/QĐ-BQP ngày 15- 7-2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).

3. Chính phủ, (2012), Chiến lược Phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ- TTg ngày 13/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ).

4. Đồng Ngọc Châu, (2019), Giải pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trẻ ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Sĩ quan Lục quân 2.

5. Lê Minh Vụ, (2009), Quy trình đánh giá năng lực sư phạm quân sự của đối tượng tuyển chọn đào tạo giảng viên hiện nay, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

ENHANCING PEDAGOGICAL COMPETENCE FOR YOUNG LECTURERS IN THE DIGITAL TRANSFORMATION ERA: FROM PRACTICAL REQUIREMENTS TO IMPLEMENTATION MEASURES

Trần Đức Khánh Hùng

Faculty of National Defense and Security Education - Hanoi University of Science and Technology

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution, young lecturers play a pivotal role in realizing the goals of digital transformation in education. To overcome limitations in practical experience, educational institutions need to proactively implement plans to develop pedagogical competence in a digital-oriented direction. Equipping young lecturers with technological application mindsets and skills in managing online classrooms is not only an urgent short-term solution but also a strategic step toward enhancing the institution’s position and training quality in the digital era.

Keywords: Young lecturers; pedagogical competence; digital transformation

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.