NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ

08:33 | 28/08/2025
Trần Ngọc Sáng - Trần Thị Thu Hà Giảng viên Học viện cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là một yêu cầu cấp thiết. Bài viết khái quát cơ sở lý luận về trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị; đồng thời phân tích dữ liệu từ khảo sát thực tiễn để có cái nhìn tổng th

Trần Ngọc Sáng - Trần Thị Thu Hà

Giảng viên Học viện cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là một yêu cầu cấp thiết. Bài viết khái quát cơ sở lý luận về trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị; đồng thời phân tích dữ liệu từ khảo sát thực tiễn để có cái nhìn tổng thể về thực trạng trình độ năng lực của đội ngũ này, với những ưu điểm và hạn chế cụ thể. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị ngày càng toàn diện, đủ sức đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong thời kỳ mới.

Từ khóa: cán bộ, giảng viên; trình độ năng lực; trường chính trị.

Nhận bài: 22/8/2025; Biên tập 22/8/2025; Phản biện: 25/8/2025; Duyệt đăng: 28/8/2025;

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu và ngày càng sâu rộng, mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều đứng trước yêu cầu cấp bách phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tất cả các lĩnh vực. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã và đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức và vận hành của các thiết chế trong hệ thống chính trị, đòi hỏi nền hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải có tư duy mới, tầm nhìn chiến lược và năng lực chuyên môn vững vàng. Do đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định quan điểm chỉ đạo: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực…”[1].

Trong bối cảnh đó, các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là trường chính trị) giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở - lực lượng trực tiếp triển khai và hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn, cán bộ, giảng viên các trường chính trị cần được nâng cao trình độ năng lực để làm việc trong môi trường quốc tế một cách hiệu quả. Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên bao gồm nhiều yếu tố, cơ bản gồm có: trình độ học vấn chuyên ngành, trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ và tin học, năng lực sư phạm và khả năng nghiên cứu khoa học.

2. Khái quát về trình độ năng lực của cán bộ, giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Cán bộ, giảng viên trường chính trị được hiểu là những người được cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng, phân công công tác tại trường chính trị. Họ bao gồm đội ngũ lãnh đạo, quản lý và những người trực tiếp tham gia giảng dạy, nghiên cứu, xây dựng chương trình, tài liệu phục vụ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ của nhà trường. Cán bộ, giảng viên trường chính trị vừa là người truyền đạt tri thức lý luận chính trị - hành chính, vừa là người định hướng tư tưởng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị tại địa phương.

Việc xác định các tiêu chí về trình độ năng lực của cán bộ, giảng viên các trường chính trị là một vấn đề rất quan trọng. Trình độ năng lực là sự tổng hòa giữa học vấn, tư duy học thuật, năng lực sư phạm và khả năng thích ứng với phương pháp, ngôn ngữ, công nghệ và các chuẩn mực quốc tế. Trong đó, có 05 tiêu chí cốt lõi bao gồm:

Một là, trình độ học vấn chuyên ngành. Trình độ học vấn chuyên ngành cao giúp cán bộ, giảng viên có khả năng tiếp cận và phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn một cách hệ thống, khoa học và toàn diện. Hơn thế nữa, trong bối cảnh chương trình đào tạo lý luận chính trị ngày càng tích hợp liên ngành, với nhiều tri thức hiện đại, đề cao hợp tác quốc tế, thì trình độ học vấn chính là điều kiện tiên quyết để giảng viên nâng cao chất lượng bài giảng, cập nhật được các xu hướng học thuật mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy.

Hai là, trình độ lý luận chính trị. Đây là tiêu chí không thể thiếu đối với cán bộ, giảng viên giảng dạy lý luận chính trị, những người trực tiếp làm nhiệm vụ truyền bá, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị phải được đào tạo và bồi dưỡng bài bản về Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong môi trường làm việc quốc tế với nhiều hệ giá trị đa dạng, cán bộ, giảng viên trường chính trị phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường chính trị kiên định, khả năng đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch một cách sắc bén.

Ba là, trình độ ngoại ngữ và tin học. Đây là những công cụ thiết yếu của cán bộ, giảng viên trường chính trị trong thời đại số hóa và hội nhập. Ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), không chỉ giúp giảng viên tiếp cận tri thức học thuật quốc tế, cập nhật tài liệu mới, mà còn là điều kiện để tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo khoa học, giao lưu học thuật trong và ngoài nước. Tin học, đặc biệt là khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, là yêu cầu không thể thiếu để đáp ứng xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục. Năng lực ngoại ngữ và tin học không chỉ làm tăng hiệu quả truyền đạt, mà còn góp phần xây dựng phong cách làm việc tự tin, chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với tiêu chuẩn giáo dục quốc tế.

Bốn là, năng lực sư phạm. Cán bộ, giảng viên trường chính trị không chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà còn là người hướng dẫn, tổ chức, dẫn dắt người học hình thành tư duy lý luận, bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng. Do đó, giảng viên cần thành thạo và biết cách vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại. Đồng thời, cán bộ, giảng viên phải có khả năng thiết kế bài giảng khoa học, logic, phù hợp với đặc điểm của học viên là cán bộ, công chức, viên chức. Năng lực sư phạm tốt sẽ giúp các bài giảng lý luận chính trị không khô khan, giáo điều mà trở nên sinh động, hấp dẫn và gắn với thực tiễn.

Năm là, khả năng nghiên cứu khoa học. Đây là tiêu chí thể hiện chiều sâu chuyên môn và góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Người cán bộ, giảng viên cần có năng lực phát hiện, đặt vấn đề và giải quyết các câu hỏi thực tiễn trên cơ sở lý luận vững chắc. Việc tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, tham gia hoạt động tổng kết thực tiễn, viết bài báo khoa học, báo cáo chuyên đề, biên soạn tài liệu giảng dạy… là những hoạt động không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng học thuật của mỗi cá nhân và tập thể nhà trường. Nghiên cứu khoa học cũng là con đường để các cán bộ, giảng viên tiếp cận các xu thế phát triển của đất nước và thế giới, từ đó cập nhật bài giảng và mở rộng tư duy lý luận cho học viên.

Có thể khẳng định, các tiêu chí nêu trên là hệ tiêu chuẩn cơ bản và thiết yếu để đánh giá trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị trong thời kỳ hội nhập. Việc đáp ứng được các tiêu chí này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, mà còn giúp các trường chính trị từng bước tiệm cận với các mô hình đào tạo chính trị - hành chính tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

3. Thực trạng trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian qua, nhóm nghiên cứu đề tài cấp bộ “Nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế của cán bộ, giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” (Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì) đã tiến hành khảo sát thực trạng về đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị. Nhóm nghiên cứu đã nhận được 500 câu trả lời. Kết quả khảo sát cho thấy, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị đã có nhiều ưu điểm nổi bật. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và phát triển trình độ năng lực cho đội ngũ này vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế.

*Về ưu điểm

Hiện nay, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị đang ngày càng được nâng cao về chất lượng, cụ thể như sau:

- Về trình độ học vấn chuyên ngành: Đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị trên cả nước đang có xu hướng được chuẩn hóa và nâng cao. Theo thống kê đến tháng 1/2025, cả nước có 2.648 cán bộ, viên chức đang công tác tại các trường chính trị, trong đó 1.961 người có trình độ thạc sĩ và 234 người có học vị tiến sĩ, chiếm lần lượt 74% và 8,84%[2]. Tỉ lệ cán bộ có trình độ sau đại học đạt trên 80% là một tín hiệu tích cực, thể hiện sự đầu tư và quan tâm đúng mức của các trường trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Về trình độ lý luận chính trị: Đây là thế mạnh nổi bật của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị. Tháng 1/2025, cả nước có 1.913 giảng viên có trình độ Cao cấp Lý luận chính trị[3] (chiếm tỉ lệ 72,24% tổng số cán bộ, viên chức). Đây là tiền đề để đội ngũ cán bộ, giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

- Về trình độ ngoại ngữ và tin học. Khảo sát cho thấy, các cán bộ, giảng viên thể hiện mức độ tự tin cao khi làm việc trong môi trường quốc tế (mặc dù chỉ có 1,0% "rất tự tin" và 11,5% "tự tin", nhưng một tỷ lệ lớn (42,9%) cảm thấy "bình thường" khi làm việc với đồng nghiệp/đối tác quốc tế). Điều này cho thấy tiềm năng làm việc trong môi trường quốc tế của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị có thể được phát triển. Bên cạnh đó, các cán bộ, giảng viên cũng thể hiện sự mong muốn cao trong việc học ngoại ngữ và kỹ năng làm việc quốc tế (88,9% các cán bộ, giảng viên được khảo sát bày tỏ mong muốn tham gia các khóa học ngoại ngữ để làm việc trong môi trường quốc tế và 88,3% mong muốn có cơ hội được đào tạo về kỹ năng làm việc với đối tác quốc tế). Điều này cho thấy nhận thức và ý thức trách nhiệm cao của cán bộ, giảng viên trong việc thích ứng với môi trường làm việc hội nhập và hiện đại.

- Về năng lực sư phạm: Nhìn chung đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị hiện nay có nhiều kinh nghiệm giảng dạy thực tế. Tính đến tháng 1/2025, trong toàn hệ thống các trường chính trị có 35 giảng viên cao cấp, 1.174 giảng viên chính[4]. Ngoài ra, căn cứ kết quả khảo sát, có 60,2% giảng viên có thâm niên công tác từ 15 năm trở lên. Điều này phản ánh sự ổn định về nhân sự và độ chín nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị.

- Về khả năng nghiên cứu khoa học: Đa số cán bộ, giảng viên đều nhận thức rõ vai trò của nghiên cứu khoa học đối với giảng dạy và phát triển nghề nghiệp (kết quả khảo sát cho thấy có 91,8% đồng tình rằng việc đi nghiên cứu thực tế hoặc học tập tại nước ngoài là cần thiết).

* Về hạn chế

Tuy đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng thực tế cũng cho thấy năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị chưa đáp ứng yêu cầu, cụ thể như sau:

Quảng cáo

- Tỉ lệ cán bộ, giảng viên có học vị tiến sĩ còn thấp. Theo thống kê, năm 2023, các trường chính trị chỉ có 163 cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ (chiếm tỉ lệ 5,7%)[5]; đến tháng 1/2025, số lượng cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ đã tăng lên, song mới đạt tỉ lệ 8,84% (234 tiến sĩ). Điều này cho thấy các trường chính trị vẫn cần nỗ lực nhiều hơn nữa trong việc phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên về trình độ học vấn.

- Về trình độ lý luận chính trị: Mặc dù trình độ lý luận chính trị là một thế mạnh nổi bật của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị, song thực tiễn cũng cho thấy vẫn còn không ít trường hợp cán bộ, giảng viên dù có bằng cấp cao về lý luận chính trị nhưng trong quá trình công tác lại vi phạm nội quy, quy chế, thậm chí cá biệt còn có hành vi vi phạm pháp luật. Thực tế này cho thấy bằng cấp không phản ánh đầy đủ bản chất và chiều sâu của trình độ lý luận chính trị, đặc biệt là về bản lĩnh, phẩm chất chính trị và năng lực vận dụng vào thực tiễn công vụ.

- Về khả năng ngoại ngữ và tin học: Kết quả khảo sát cho thấy có đến 63,2% tự đánh giá kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ ở mức “trung bình”, 19,7% ở mức “yếu”, và chỉ 1% cảm thấy “rất tự tin” khi làm việc quốc tế. Khả năng ứng dụng ngoại ngữ trong công việc thực tiễn của cán bộ, giảng viên trường chính trị cũng còn rất hạn chế (96,7% chưa từng trình bày tại hội thảo quốc tế, 95,3% không có công bố quốc tế, và 71,7% chưa từng sử dụng ngoại ngữ trong trao đổi qua email). Khả năng vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy của một số cán bộ, giảng viên, đặc biệt là các cán bộ, giảng viên lớn tuổi, cũng còn những hạn chế nhất định. Điều này phản ánh khoảng cách khá lớn giữa năng lực hiện có và yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh toàn cầu hóa.

- Năng lực nghiên cứu khoa học quốc tế của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị còn yếu, thể hiện ở việc hầu hết giảng viên chưa từng tham gia các dự án, đề án với đối tác nước ngoài (91,6%), chưa từng tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hội thảo khoa học quốc tế (96,5%).

- Việc đổi mới phương pháp giảng dạy còn chậm. Trong thực tế, một số giảng viên chưa làm chủ được phương pháp dạy học tích cực, còn lúng túng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, thiết kế bài giảng trực tuyến hay tương tác với học viên theo hướng lấy người học là trung tâm.

Những hạn chế trong năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có sự đan xen và tác động lẫn nhau.

Thứ nhất, vẫn còn một bộ phận cán bộ, giảng viên chưa thực sự chủ động, chưa ý thức đầy đủ về vai trò của việc học tập suốt đời, thiếu tinh thần tự bồi dưỡng và thích ứng với yêu cầu mới của công việc trong thời đại chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, công tác đào tạo, bồi dưỡng sau đại học, đặc biệt là đào tạo trình độ tiến sĩ cho cán bộ, giảng viên trường chính trị còn gặp nhiều khó khăn. Một phần là do điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ nghiên cứu còn hạn chế; mặt khác, nhiều giảng viên vừa phải giảng dạy, vừa kiêm nhiệm công tác quản lý, vừa phải đảm bảo yêu cầu nghiên cứu, vừa phải to toan công việc gia đình, do đó khó có thể tập trung học tập nâng cao trình độ chuyên môn.

Thứ ba, môi trường làm việc tại các trường chính trị phần lớn mang tính chất khu vực, chủ yếu phục vụ đối tượng đào tạo ở cấp cơ sở, nên ít có cơ hội tiếp cận với các hoạt động học thuật quốc tế hoặc thực tiễn quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô, khiến năng lực ngoại ngữ, khả năng hội nhập quốc tế và năng lực nghiên cứu khoa học quốc tế của giảng viên bị giới hạn. Thực tế này cũng làm hạn chế việc hình thành động lực của giảng viên trong việc phát triển các kỹ năng học thuật nâng cao.

Thứ tư, Đảng ủy, Ban giám hiệu một số trường chính trị chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng chiến lược dài hạn phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, thiếu cơ chế khuyến khích về tài chính, khen thưởng hoặc tạo điều kiện để giảng viên tham gia hội thảo quốc tế, học tập ở nước ngoài. Đồng thời, việc tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, giảng viên ở một số nơi còn nặng tính hình thức, chưa thật sự căn cứ vào năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và khả năng đổi mới phương pháp giảng dạy.

3. Giải pháp nâng cao trình độ năng lực của cán bộ, giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế hiện nay

Môi trường quốc tế hiện nay đang vận động hết sức nhanh chóng và phức tạp, với đặc trưng nổi bật là tính toàn cầu hóa sâu rộng, sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Trong bối cảnh đó, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường… không còn giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà mang tính khu vực và toàn cầu. Mọi hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế, giao lưu học thuật và giáo dục - đào tạo đều đòi hỏi khả năng tương tác liên văn hóa, năng lực sử dụng ngoại ngữ và tư duy hội nhập cao. Sự cạnh tranh về tri thức, công nghệ, mô hình quản lý và nhân lực chất lượng cao cũng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Chính từ những đặc điểm đó, môi trường quốc tế đặt ra yêu cầu ngày càng cao và đa chiều đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị. Trước hết, người cán bộ, giảng viên cần có năng lực tư duy toàn cầu, tức là khả năng nhận thức, phân tích các vấn đề chính trị - xã hội trong mối liên hệ với bối cảnh khu vực và thế giới. Thứ hai, họ cần thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, để có thể tiếp cận tri thức mới, tham gia các hoạt động chuyên môn trong môi trường quốc tế. Thứ ba, cán bộ, giảng viên phải có kỹ năng sử dụng công nghệ hiện đại để không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn. Thứ tư, môi trường quốc tế cũng đòi hỏi giảng viên phải có phẩm chất chính trị vững vàng, khả năng thích ứng linh hoạt với thay đổi, có phong cách làm việc chuyên nghiệp và thái độ cầu thị, sẵn sàng học hỏi không ngừng. Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này, đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời đại hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số toàn cầu.

Căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tình hình thực tế, để nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường chính trị đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn trong bối cảnh mới, cần triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện và phù hợp với thực tiễn. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, các trường chính trị cần chủ động xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ, giảng viên với các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn rõ ràng, xác định lộ trình nâng cao đồng bộ các năng lực: chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng hội nhập và bản lĩnh chính trị. Trong đó, đặc biệt chú trọng đào tạo ngoại ngữ chuyên sâu, mang tính chuyên biệt, kết hợp giữa dạy ngoại ngữ giao tiếp, học thuật và từ vựng chuyên ngành lý luận chính trị. Cần triển khai các chương trình bồi dưỡng tin học ứng dụng, kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa, kỹ năng thuyết trình, viết học thuật bằng ngoại ngữ một cách bài bản và đồng bộ. Ngoài việc tổ chức các lớp học tại chỗ, các trường chính trị cũng cần liên kết với các cơ sở giáo dục uy tín trong và ngoài nước, từ đó hình thành đội ngũ cán bộ, giảng viên có khả năng thích nghi và hội nhập hiệu quả trong môi trường quốc tế.

Thứ hai, mở rộng cơ hội cọ xát và hợp tác quốc tế nhằm tạo điều kiện cho giảng viên phát triển năng lực thực tiễn. Để thực hiện giải pháp này, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cần tham mưu cho Đảng và Nhà nước các cơ chế, chính sách để thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các trường chính trị với các viện nghiên cứu, trường đại học nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, nghiên cứu chung. Đồng thời, các trường chính trị cần chủ động trong việc khuyến khích xây dựng các nhóm nghiên cứu, tổ chức viết bài và công bố quốc tế có hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và chính sách khích lệ phù hợp.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế. Đảng và Nhà nước cần nghiên cứu ban hành một cơ chế mang tính đổi mới và chiến lược hơn, nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho việc thu hút, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao. Nên có chính sách ưu tiên tuyển dụng những giảng viên đã được đào tạo sau đại học ở nước ngoài hoặc có kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế, bởi họ là những người đã tiếp cận với nền tri thức toàn cầu và có khả năng truyền cảm hứng đổi mới trong giảng dạy lý luận chính trị. Ngoài ra, cần xây dựng các chính sách đặc thù để thu hút và giữ chân đội ngũ cán bộ, giảng viên giỏi để nguồn nhân lực chất lượng cao cống hiến lâu dài cho các trường chính trị.

Thứ tư, đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng. Điều này nhằm nâng cao tính thực tiễn, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu thực tế. Các trường chính trị cần quản lý chuyên môn theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp giảng dạy tích cực, nghiên cứu tình huống, mô phỏng tình huống quốc tế và cập nhật kiến thức mới từ các tổ chức quốc tế vào nội dung đào tạo.

Thứ năm, phát huy tinh thần tự học, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, giảng viên. Đây là yếu tố mang tính cơ bản và nền tảng. Đối với vấn đề này, ý thức chủ động phát triển bản thân của đội ngũ cán bộ, giảng viên là yếu tố cốt lõi. Ở khía cạnh còn lại, các trường chính trị cần xây dựng cơ chế khuyến khích và tạo điều kiện cho họ tiếp cận các nguồn học liệu quốc tế, tham gia cộng đồng học thuật toàn cầu và thực hiện các đề tài nghiên cứu ứng dụng liên quan đến hội nhập quốc tế.

Tóm lại, trong bối cảnh hiện nay, trình độ chuyên môn cao, năng lực thực tiễn vững vàng, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế tốt và tư duy đổi mới sáng tạo chính là những yêu cầu tất yếu và quan trọng đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị. Trước những thách thức đang đặt ra ngày càng gay gắt, đội ngũ giảng viên cần được tạo mọi điều kiện để hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện. Để làm được điều này, rất cần sự quan tâm, đầu tư đúng mức từ các cấp ủy Đảng, Chính quyền từ Trung ương tới địa phương, đặc biệt là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhằm hỗ trợ, động viên và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, có như vậy mới đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng trong tình hình mới./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, 2.

[2]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Báo cáo Số 2964 - BC/HVCTQG ngày 01/3/2024 về tổng kết công tác các trường chính trị, trường bộ, ngành năm 2023, phương hướng, nhiệm vụ năm 2024

[3]. Mạnh Thắng & MH (2025), Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác trường chính trị năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, https://hcma.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=18876.

ENHANCING THE CAPACITY OF STAFFS AND LECTURERS AT PROVINCIAL POLITICAL SCHOOLS TO MEET THE DEMANDS OF WORKING IN AN INTERNATIONAL ENVIRONMENT

Trần Ngọc Sáng - Trần Thị Thu Hà

Lecturer, Ho Chi Minh City Cadre Academy

Email: [email protected]

Abstract: In the context of globalization and extensive international integration, strengthening the professional capacity of staffs and lectures at political schools in centrally-run provinces and cities has become an urgent requirement. This article outlines the theoretical foundations of faculty and staff competency development within political schools and analyzes empirical survey data to comprehensively assess their current qualifications, highlighting both strengths and limitations. Based on these findings, the paper proposes key solutions to build a more competent, well-rounded faculty and staff capable of meeting the practical demands of the current era.

Keywords: faculty, staff, level, capacity, political schools...


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr 110 – 111.

[2] Mạnh Thắng & MH (2025), Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác trường chính trị năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, https://hcma.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=18876.

[3] Mạnh Thắng & MH (2025), Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác trường chính trị năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, https://hcma.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=18876.

[4] Mạnh Thắng & MH (2025), Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác trường chính trị năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, https://hcma.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=18876.

[5] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Báo cáo Số 2964 - BC/HVCTQG ngày 01/3/2024 về tổng kết công tác các trường chính trị, trường bộ, ngành năm 2023, phương hướng, nhiệm vụ năm 2024.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.