NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

07:55 | 07/04/2026
Nguyễn Cao Phong – Đoàn Ngọc Ánh Huy Trường Đại học Xây dựng Miền Tây Email: [email protected] Tóm tắt Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học, chỉ ra những hạn chế, bất cập hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

Nguyễn Cao Phong – Đoàn Ngọc Ánh Huy

Trường Đại học Xây dựng Miền Tây

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học, chỉ ra những hạn chế, bất cập hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Từ khóa: Bảo đảm chất lượng; hiệu quả; kiểm định giáo dục; giáo dục đại học; quản lý chất lượng.

Nhận bài: 02/4/2026; Biên tập: 03/4/2026; Duyệt đăng: 06/4/2026.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh nguồn nhân lực ngày càng gay gắt, chất lượng giáo dục đại học trở thành yếu tố quyết định vị thế của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là một trong những giải pháp then chốt nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu, công tác bảo đảm chất lượng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học hiện nay.

2. Cơ sở lý luận về bảo đảm chất lượng giáo dục đại học

Bảo đảm chất lượng giáo dục đại học được hiểu là tổng thể các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống và được triển khai thường xuyên nhằm duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng các chuẩn mực đã xác định cũng như nhu cầu của người học và xã hội. Ở góc độ lý luận hiện đại, bảo đảm chất lượng không chỉ là kiểm soát chất lượng đầu ra mà còn là quá trình quản trị chất lượng toàn diện, trong đó mọi yếu tố của quá trình giáo dục đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng.

Về cấu trúc, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học bao gồm hai thành tố cơ bản là bảo đảm chất lượng bên trong và bảo đảm chất lượng bên ngoài. Bảo đảm chất lượng bên trong là hệ thống các chính sách, quy trình, công cụ do cơ sở giáo dục xây dựng và vận hành nhằm tự kiểm soát và cải tiến chất lượng đào tạo. Đây là nền tảng cốt lõi, phản ánh năng lực tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục. Trong khi đó, bảo đảm chất lượng bên ngoài, mà tiêu biểu là kiểm định chất lượng giáo dục, là hoạt động đánh giá độc lập của các tổ chức có thẩm quyền nhằm xác nhận mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Hai thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo thành một chu trình cải tiến liên tục trong quản lý chất lượng giáo dục.

Cơ sở lý luận về bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay được định hướng rõ ràng bởi các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh việc chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ tư duy “quản lý giáo dục” sang “quản trị chất lượng giáo dục”.

Tiếp đó, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Điều này đòi hỏi công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học phải gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đặt ra những định hướng có ý nghĩa trực tiếp đến công tác bảo đảm chất lượng. Trước hết, Nghị quyết yêu cầu đổi mới căn bản tư duy quản trị giáo dục theo hướng hiện đại, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị chất lượng, coi người học là trung tâm, nhà trường là nền tảng và đội ngũ nhà giáo là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát triển hệ thống giáo dục đại học theo hướng mở, liên thông, gắn với thị trường lao động và hội nhập quốc tế, qua đó đặt ra yêu cầu tất yếu phải nâng cao chất lượng đào tạo một cách thực chất, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Bên cạnh đó, các định hướng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới căn bản giáo dục, trong đó công tác bảo đảm chất lượng giữ vai trò then chốt. Điều này cho thấy bảo đảm chất lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề chiến lược, gắn với sự phát triển bền vững của quốc gia.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, nội hàm của bảo đảm chất lượng giáo dục đại học tiếp tục được mở rộng. Nếu trước đây, chất lượng chủ yếu được đánh giá thông qua các yếu tố đầu vào và đầu ra, thì hiện nay, trọng tâm đã chuyển sang toàn bộ quá trình đào tạo và trải nghiệm của người học. Các yếu tố như mức độ hài lòng của sinh viên, khả năng thích ứng nghề nghiệp, năng lực số, kỹ năng mềm… ngày càng trở thành những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục.

Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng hệ thống quản trị chất lượng hiện đại, dựa trên dữ liệu và ứng dụng công nghệ số. Việc thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu trong quản lý đào tạo sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng dự báo trong bảo đảm chất lượng. Đồng thời, công nghệ số cũng tạo điều kiện để cá nhân hóa quá trình học tập, nâng cao trải nghiệm người học và cải tiến chất lượng đào tạo một cách liên tục.

Từ những cơ sở lý luận trên có thể khẳng định rằng, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học không chỉ là yêu cầu nội tại của hệ thống giáo dục mà còn là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Việc vận dụng hiệu quả các quan điểm của Đảng và Nhà nước, kết hợp với các mô hình quản trị hiện đại, sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

3. Thực trạng công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam đã có những bước phát triển rõ nét, từng bước tiệm cận với các chuẩn mực khu vực và quốc tế. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã được hình thành tương đối đồng bộ, cả về hành lang pháp lý, tổ chức kiểm định và hoạt động triển khai thực tiễn.

Theo số liệu công bố của Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cập nhật đến ngày 28/02/2026, cả nước đã có 277 cơ sở giáo dục (trường đại học, học viện, cao đẳng sư phạm) hoàn thành báo cáo tự đánh giá chu kỳ 1 và 143 cơ sở hoàn thành chu kỳ 2, cho thấy mức độ bao phủ ngày càng rộng của hoạt động bảo đảm chất lượng nội bộ trong toàn hệ thống. Đáng chú ý, số lượng cơ sở giáo dục được đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng tiếp tục gia tăng mạnh. Tính lũy kế theo các chu kỳ kiểm định, đã có 206 cơ sở giáo dục đại học được công nhận đạt chuẩn ở chu kỳ 1 và 136 cơ sở giáo dục đại học được công nhận đạt chuẩn ở chu kỳ 2, phản ánh xu hướng tái kiểm định và nâng cao chất lượng theo hướng bền vững.

So với giai đoạn trước (năm 2024 có khoảng 208 cơ sở được công nhận), các số liệu mới cho thấy không chỉ gia tăng về số lượng mà còn chuyển dịch sang chiều sâu chất lượng, thể hiện qua việc nhiều cơ sở đã hoàn thành kiểm định chu kỳ 2 - một yêu cầu quan trọng trong đảm bảo và cải tiến liên tục.

Bên cạnh đó, công tác kiểm định chương trình đào tạo cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có 2.179 chương trình đào tạo được kiểm định, trong đó 1.558 chương trình theo tiêu chuẩn trong nước và 621 chương trình theo tiêu chuẩn nước ngoài. Con số này tiếp tục tăng trong các năm, tính đến ngày 28/02/2026, có 3.226 chương trình được kiểm định, trong đó 2.505 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 721 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài, đã phản ánh xu hướng mở rộng kiểm định và nâng cao chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học.

Ngoài ra, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong đã được thiết lập tại hầu hết các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều trường đã hình thành các đơn vị chuyên trách, xây dựng quy trình tự đánh giá và áp dụng các mô hình quản lý chất lượng hiện đại, góp phần từng bước hình thành văn hóa chất lượng trong nhà trường. Ở tầm vĩ mô, công tác kiểm định đã góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và uy tín của các cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân .

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập.

Thứ nhất, mặc dù số lượng cơ sở được kiểm định tăng nhanh, nhưng vẫn còn khoảng 15-25% cơ sở giáo dục đại học chưa được kiểm định hoặc chưa hoàn thành chu kỳ kiểm định đầy đủ, cho thấy mức độ bao phủ chưa thực sự toàn diện. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng kiểm định trong toàn hệ thống.

Thứ hai, số lượng chương trình đào tạo được kiểm định tuy đã tăng mạnh, nhưng so với tổng số hàng nghìn chương trình đào tạo hiện có, tỷ lệ này vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, số chương trình đạt chuẩn quốc tế (khoảng hơn 600 chương trình) còn chiếm tỷ lệ chưa cao, phản ánh mức độ hội nhập quốc tế trong kiểm định chất lượng còn chưa đồng đều giữa các cơ sở giáo dục .

Thứ ba, hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong ở nhiều cơ sở giáo dục đại học còn chưa cao. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường vẫn chưa vận hành hiệu quả hệ thống quản trị dữ liệu, chưa gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình đào tạo và quản trị nhà trường . Điều này dẫn đến tình trạng bảo đảm chất lượng mang tính hình thức, chưa thực sự trở thành công cụ quản lý hữu hiệu.

Quảng cáo

Thứ tư, năng lực của đội ngũ làm công tác bảo đảm chất lượng còn hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiểm định viên và cán bộ bảo đảm chất lượng tuy đã được triển khai, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng trong bối cảnh mở rộng quy mô kiểm định.

Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ trong bảo đảm chất lượng còn chưa đồng bộ. Hiện nay, dữ liệu về người học, chương trình đào tạo, kết quả học tập và việc làm sau tốt nghiệp còn phân tán ở nhiều hệ thống khác nhau, thiếu tính liên thông và chưa được khai thác hiệu quả để phục vụ công tác quản lý chất lượng. Trong khi đó, xu hướng quản trị đại học hiện đại đòi hỏi phải dựa trên dữ liệu và công nghệ số để nâng cao hiệu quả ra quyết định.

Từ thực trạng trên có thể thấy, mặc dù công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, song vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu phát triển và thực tiễn triển khai. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng trong giai đoạn tới.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học

Trước yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế, việc nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng cần được triển khai theo hướng toàn diện, thực chất và bền vững.

Trước hết, cần nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học.

Thực tiễn cho thấy, ở nhiều trường, bảo đảm chất lượng vẫn bị xem là nhiệm vụ mang tính thủ tục, phục vụ kiểm định, chưa trở thành giá trị cốt lõi trong hoạt động đào tạo. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “làm để kiểm định” sang “làm để nâng cao chất lượng”. Điều này đòi hỏi sự thay đổi nhận thức của đội ngũ lãnh đạo, giảng viên và sinh viên, coi chất lượng là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống. Việc xây dựng văn hóa chất lượng cần được cụ thể hóa thông qua các quy chế nội bộ, chuẩn mực nghề nghiệp, cơ chế khuyến khích và đánh giá dựa trên chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ người học.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và tiếp cận quản trị đại học tiên tiến.

Các cơ sở giáo dục cần xây dựng hệ thống thu thập và quản lý dữ liệu đồng bộ, bao gồm dữ liệu về tuyển sinh, quá trình học tập, kết quả tốt nghiệp, việc làm sau đào tạo và phản hồi của người học, doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các quyết định về điều chỉnh chương trình, phương pháp giảng dạy, phân bổ nguồn lực cần được đưa ra dựa trên minh chứng cụ thể. Việc áp dụng chu trình cải tiến liên tục (lập kế hoạch - triển khai - đánh giá - cải tiến) cần trở thành nguyên tắc vận hành thường xuyên trong quản trị chất lượng.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa kiểm định chất lượng và cải tiến liên tục.

Kiểm định không nên được coi là “đích đến” mà phải là “điểm khởi đầu” của quá trình nâng cao chất lượng. Sau mỗi chu kỳ kiểm định, các cơ sở giáo dục cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để khắc phục những hạn chế đã được chỉ ra, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát việc thực hiện các khuyến nghị. Bộ tiêu chuẩn kiểm định cần được sử dụng như một công cụ tham chiếu thường xuyên trong quản lý đào tạo, thay vì chỉ sử dụng khi chuẩn bị đánh giá ngoài. Điều này sẽ giúp bảo đảm tính thực chất và bền vững của công tác bảo đảm chất lượng.

Thứ tư, phát triển đội ngũ làm công tác bảo đảm chất lượng theo hướng chuyên nghiệp hóa.

Trong bối cảnh hiện nay, bảo đảm chất lượng không còn là công việc mang tính hành chính mà đòi hỏi trình độ chuyên môn cao về quản trị giáo dục, phân tích dữ liệu và đánh giá chất lượng. Do đó, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ này, đồng thời xây dựng cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ phù hợp. Bên cạnh đó, cần hình thành mạng lưới chuyên gia bảo đảm chất lượng trong và ngoài cơ sở giáo dục, thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao năng lực chuyên môn.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả quản trị chất lượng. Các cơ sở giáo dục cần triển khai các hệ thống quản lý học tập, hệ thống quản trị đại học tích hợp, công cụ khảo sát và đánh giá trực tuyến, qua đó thu thập dữ liệu một cách kịp thời và chính xác. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn có thể hỗ trợ dự báo xu hướng học tập, phát hiện sớm các vấn đề trong đào tạo và đề xuất giải pháp cải tiến phù hợp. Đồng thời, công nghệ cũng góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng giải trình của cơ sở giáo dục đối với xã hội.

Thứ sáu, tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục đại học với thị trường lao động và các bên liên quan trong bảo đảm chất lượng.

Chất lượng đào tạo cần được đánh giá không chỉ từ góc độ nhà trường mà còn từ phía người sử dụng lao động và xã hội. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế thu thập và sử dụng thường xuyên ý kiến phản hồi của doanh nghiệp, cựu sinh viên và các tổ chức nghề nghiệp trong việc xây dựng và điều chỉnh chương trình đào tạo. Việc mở rộng hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập và nghiên cứu ứng dụng sẽ góp phần nâng cao tính thực tiễn và chất lượng đầu ra của sinh viên.

Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế trong kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.

Việc tham gia các mạng lưới kiểm định khu vực và quốc tế không chỉ giúp các cơ sở giáo dục nâng cao uy tín mà còn tạo điều kiện tiếp cận các mô hình quản trị chất lượng tiên tiến. Thông qua hợp tác quốc tế, các cơ sở giáo dục có thể học hỏi kinh nghiệm, chuẩn hóa quy trình và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn mực toàn cầu. Đây cũng là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng mang tính toàn cầu hóa.

5. Kết luận

Bảo đảm chất lượng giáo dục đại học là yếu tố then chốt quyết định chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, công tác này cần được đổi mới theo hướng thực chất, hiện đại và hiệu quả.

Việc xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng mạnh, gắn với văn hóa chất lượng và ứng dụng công nghệ sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời đại mới.

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

  2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

  3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

  4. Cục Quản lý chất lượng (Ngày 18/9/2024). Danh sách các cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá và được đánh giá/công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (cập nhật đến ngày 31/8/2024). Truy cập từ https://vqa.moet.gov.vn/vi/thong-bao-quan-ly-bao-dam/thong-bao/danh-sach-cac-co-so-giao-duc-chuong-trinh-dao-tao-giao-duc-dai-hoc-va-cao-dang-su-pham-da-hoan-thanh-bao-cao-tu-danh-gia-va-duoc-danh-gia-cong-nhan-dat-tieu-chuan-chat-luong-giao-duc-cap-nhat-den-ngay-31-8-2024-56.html

  5. Cục Quản lý chất lượng (Ngày 03/9/2025). Sáu nội dung lớn sửa đổi quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Truy cập từ https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/sau-noi-dung-lon-sua-doi-quy-dinh-ve-kiem-dinh-chat-luong-co-so-giao-duc-dai-hoc-221.html

  6. Cục Quản lý chất lượng (Ngày 05/03/2026). Danh sách các cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá và được đánh giá/công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (cập nhật đến ngày 28/02/2026).Truy cập từ https://vqa.moet.gov.vn/vi/thong-bao-quan-ly-bao-dam/thong-bao/danh-sach-cac-co-so-giao-duc-chuong-trinh-dao-tao-giao-duc-dai-hoc-va-cao-dang-su-pham-da-hoan-thanh-bao-cao-tu-danh-gia-va-duoc-danh-gia-cong-nhan-dat-tieu-chuan-chat-luong-giao-duc-cap-nhat-den-ngay-28-02-2026-87.html

  7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

  8. Hà, G. (Ngày 14/10/2025). Hướng tới chuẩn quốc tế trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam. Tạp chí Giáo dục điện tử. Truy cập từ https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/90295/211/huong-toi-chuan-quoc-te-trong-kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-dai-hoc-viet-nam/

  9. , N. (Ngày 10/02/2025). Kiểm định chất lượng giáo dục đại học: Khẳng định vị thế, Tạp chí Giáo dục và thời đại điện tử. Truy cập từ https://giaoducthoidai.vn/kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-dai-hoc-khang-dinh-vi-the-post718738.html

  10. Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học. Luật số 125/2025/QH15, ban hành ngày 10/12/2025.

  11. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 78/QĐ-TTg ngày 14/01/2022 phê duyệt Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm giai đoạn 2022–2030.

ENHANCING THE EFFECTIVENESS OF QUALITY ASSURANCE IN HIGHER EDUCATION INSTITUTIONS IN THE CURRENT CONTEXT

Nguyen Cao Phong – Doan Ngoc Anh Huy

Mien Tay Construction University

Email: [email protected]

Abstract

In the context of comprehensive educational reform, quality assurance in higher education plays a crucial role in improving human resource quality. This paper examines the theoretical and practical aspects of quality assurance in higher education institutions, identifies current limitations and shortcomings, and proposes several solutions to strengthen its effectiveness in response to digital transformation and global integration.

Keywords: Quality assurance; effectiveness; accreditation; higher education; quality management.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.