NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ KỶ LUẬT Ở HỆ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

06:10 | 14/05/2026
Nguyễn Hữu Hoàn - Thái Phi Hệ đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Quản lý kỷ luật là yếu tố nền tảng bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo trong các nhà trường Quân đội. Đối với Hệ đào tạo Sau đại học ở Học viện Chính trị, công tác này không chỉ nhằm duy trì nền nếp chính quy mà còn trực tiếp góp phần hình thành bản lĩnh, phẩm chất và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở làm rõ đặc điểm của đối tượng đào tạo, bài viết đánh giá thực trạng chất

Nguyễn Hữu Hoàn - Thái Phi

Hệ đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

Tóm tắt: Quản lý kỷ luật là yếu tố nền tảng bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo trong các nhà trường Quân đội. Đối với Hệ đào tạo Sau đại học ở Học viện Chính trị, công tác này không chỉ nhằm duy trì nền nếp chính quy mà còn trực tiếp góp phần hình thành bản lĩnh, phẩm chất và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở làm rõ đặc điểm của đối tượng đào tạo, bài viết đánh giá thực trạng chất lượng quản lý kỷ luật, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý kỷ luật, đáp ứng yêu cầu đào tạo trong bối cảnh mới.

Từ khóa: kỷ luật Quân đội, đào tạo sau đại học, Học viện Chính trị, quản lý kỷ luật.

1. Đặt vấn đề

Trong Quân đội, kỷ luật vừa là nguyên tắc tổ chức, vừa là điều kiện bảo đảm sức mạnh chiến đấu. Ở các học viện, nhà trường Quân đội, kỷ luật còn gắn trực tiếp với chất lượng đào tạo và sự hình thành nhân cách người cán bộ. Đối với Hệ đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị, nơi đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ sau đại học, yêu cầu về kỷ luật không chỉ dừng lại ở việc chấp hành quy định mà còn thể hiện ở tính tự giác, chuẩn mực trong học tập và phong cách công tác. Trong bối cảnh môi trường thông tin đa chiều, sự phát triển của công nghệ số và yêu cầu hiện đại hóa quân đội, quản lý kỷ luật đang đứng trước những yêu cầu mới cả về nội dung và phương thức thực hiện. Do đó, việc nghiên cứu nâng cao chất lượng quản lý kỷ luật ở Hệ đào tạo Sau đại học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về chất lượng quản lý kỷ luật

Chất lượng quản lý kỷ luật trong các nhà trường Quân đội là một phạm trù phản ánh mức độ hiệu quả của quá trình tổ chức, điều hành và kiểm soát việc chấp hành điều lệnh, điều lệ, quy chế, quy định của học viên, nhằm bảo đảm tính thống nhất, chính quy và sức mạnh tổ chức. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc mà còn là điều kiện trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và hình thành phẩm chất người cán bộ trong quân đội. Về bản chất, quản lý kỷ luật là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng, gắn chặt với quá trình hình thành ý thức tổ chức, tinh thần trách nhiệm và phong cách công tác của học viên. Trong đó, “chất lượng” quản lý kỷ luật không chỉ được đánh giá ở mức độ duy trì nền nếp, hạn chế vi phạm mà còn ở khả năng chuyển hóa các quy định bên ngoài thành nhu cầu tự giác, thói quen hành vi bền vững của mỗi cá nhân. Trong môi trường đào tạo sau đại học, chất lượng quản lý kỷ luật chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Trước hết là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy, nhân tố định hướng toàn bộ hoạt động quản lý. Bên cạnh đó là nội dung, phương pháp giáo dục kỷ luật, mức độ phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ và kinh nghiệm của học viên. Ngoài ra, môi trường sư phạm quân sự, sự gắn kết giữa quản lý kỷ luật với hoạt động học tập, nghiên cứu, cũng như cơ chế phát huy tính tự quản của học viên đều có tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý. Chất lượng quản lý kỷ luật được thể hiện trên một số nội dung cơ bản như mức độ chấp hành nghiêm các quy định, thể hiện ở sự ổn định của nền nếp chính quy và tỷ lệ vi phạm thấp; sự chuyển biến về ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và thái độ đối với kỷ luật của học viên; khả năng duy trì kỷ luật gắn với nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu và rèn luyện; tính bền vững của kết quả quản lý, thể hiện ở việc học viên có khả năng tự điều chỉnh hành vi ngay cả khi không có sự giám sát trực tiếp.

Trong điều kiện hiện nay, khi môi trường đào tạo có nhiều biến đổi do tác động của khoa học - công nghệ và không gian mạng, kỷ luật không chỉ giới hạn trong phạm vi hành vi trực tiếp mà còn bao gồm kỷ luật trong tư duy, trong hoạt động học tập và trong môi trường số. Điều này đòi hỏi công tác quản lý phải vừa bảo đảm tính nghiêm minh, vừa linh hoạt, phù hợp với đặc thù đào tạo sau đại học. Chất lượng quản lý kỷ luật là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó cốt lõi là sự kết hợp hài hòa giữa quản lý và giáo dục, giữa tính bắt buộc và tính tự giác. Đây chính là nền tảng để xây dựng đội ngũ học viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, phong cách làm việc khoa học và năng lực hoàn thành nhiệm vụ trong môi trường quân đội hiện đại.

2.2. Thực trạng chất lượng quản lý kỷ luật ở Hệ đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị hiện nay

Trong những năm gần đây, công tác quản lý kỷ luật tại Hệ đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về nhận thức, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được. Hệ thống quy chế, quy định từng bước được rà soát, bổ sung, hoàn thiện theo hướng đồng bộ, phù hợp hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo và đặc thù của đối tượng học viên sau đại học. Nội dung các quy định ngày càng cụ thể, rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức quản lý, kiểm tra và đánh giá. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp được duy trì nền nếp, từng bước nâng cao chất lượng; đã chú trọng hơn đến việc gắn kết quản lý kỷ luật với giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý học tập và nghiên cứu khoa học. Trong thực tiễn, ý thức chấp hành kỷ luật của đa số học viên có chuyển biến rõ rệt. Học viên cơ bản thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, sinh hoạt, quy định của đơn vị; có ý thức giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống và tác phong của người cán bộ quân đội. Nhiều học viên thể hiện tinh thần tự giác cao trong học tập, nghiên cứu, chủ động sắp xếp thời gian, chấp hành quy định về học tập, bảo đảm tiến độ và chất lượng đào tạo. Một số mô hình, biện pháp quản lý được triển khai theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc điểm học viên sau đại học, như kết hợp giữa quản lý theo đơn vị với quản lý theo nhóm học tập, phát huy vai trò tự quản, tự giám sát của tập thể và trách nhiệm cá nhân. Những kết quả đó góp phần xây dựng môi trường đào tạo có nền nếp, chính quy, kỷ cương, đồng thời vẫn bảo đảm tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng quản lý kỷ luật vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Trước hết, mức độ tự giác trong chấp hành kỷ luật giữa các học viên chưa thật sự đồng đều. Ở một số trường hợp, việc thực hiện quy định còn mang tính hình thức, đối phó, phụ thuộc vào sự kiểm tra, nhắc nhở của cán bộ quản lý. Điều này cho thấy quá trình chuyển hóa từ “chấp hành bắt buộc” sang “tự giác chấp hành” chưa thật sự vững chắc. Bên cạnh đó, phương thức quản lý ở một số khâu còn nặng về hành chính, thiên về kiểm soát bên ngoài, chưa chú trọng đúng mức đến việc phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của học viên. Việc áp dụng các biện pháp quản lý chưa thật sự linh hoạt theo đặc điểm của đối tượng đào tạo sau đại học, dẫn đến hiệu quả chưa cao và thiếu tính bền vững. Một hạn chế đáng chú ý khác là sự gắn kết giữa quản lý kỷ luật với hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và môi trường số chưa thật chặt chẽ. Trong bối cảnh đổi mới phương thức đào tạo theo hướng linh hoạt, kết hợp trực tiếp và trực tuyến, nhiều hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học diễn ra ngoài phạm vi quản lý truyền thống, gây khó khăn trong theo dõi, đánh giá toàn diện việc chấp hành kỷ luật của học viên. Việc quản lý kỷ luật trong học tập, trong sử dụng không gian mạng, trong khai thác và xử lý thông tin tuy đã được quan tâm nhưng chưa có giải pháp thật sự đồng bộ và hiệu quả. Đồng thời, tác động từ môi trường xã hội và không gian mạng ngày càng sâu rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thái độ và hành vi của học viên, đặt ra những thách thức mới đối với công tác quản lý kỷ luật, nhất là trong quản lý thời gian, định hướng thông tin và kiểm soát hành vi cá nhân.

Quảng cáo

2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý kỷ luật ở Hệ đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị hiện nay

Đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao trong bối cảnh mới, việc nâng cao chất lượng quản lý kỷ luật ở Hệ đào tạo Sau đại học cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, phù hợp với đặc thù đối tượng học viên và xu thế đổi mới giáo dục - đào tạo, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp. Đây là nhân tố giữ vai trò định hướng và quyết định chất lượng quản lý kỷ luật. Cấp ủy, chỉ huy cần nhận thức đầy đủ rằng quản lý kỷ luật không chỉ nhằm duy trì nền nếp chính quy mà còn trực tiếp góp phần hình thành bản lĩnh chính trị, phong cách công tác và năng lực tổ chức thực tiễn của học viên sau đại học. Trên cơ sở đó, cần cụ thể hóa mục tiêu, yêu cầu quản lý kỷ luật thành các chương trình, kế hoạch sát với từng loại hình đào tạo, từng chuyên ngành và đặc điểm học viên. Việc lãnh đạo, chỉ đạo phải được duy trì thường xuyên thông qua kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, kịp thời điều chỉnh những bất cập nảy sinh. Đồng thời, cần đề cao vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trong chấp hành kỷ luật, tác phong làm việc khoa học; qua đó tạo sức lan tỏa, nâng cao tính thuyết phục trong giáo dục và quản lý.

Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý theo hướng phát huy tính tự giác của học viên. Đối tượng học viên sau đại học phần lớn đã có kinh nghiệm công tác, trình độ nhận thức cao, do đó nếu chỉ áp dụng phương thức quản lý mang tính hành chính, mệnh lệnh sẽ khó đạt hiệu quả bền vững. Cần chuyển mạnh từ quản lý thiên về “kiểm soát” sang “định hướng và dẫn dắt”, lấy xây dựng ý thức tự giác làm trung tâm. Trọng tâm là giúp học viên nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa kỷ luật với trách nhiệm nghề nghiệp, danh dự cá nhân và uy tín của người cán bộ. Khi nhận thức được nâng cao, việc chấp hành kỷ luật sẽ trở thành nhu cầu tự thân. Bên cạnh đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa quy định bắt buộc với các cơ chế khuyến khích như đánh giá, xếp loại, biểu dương gắn với kết quả rèn luyện kỷ luật; qua đó tạo động lực tích cực, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh hành vi.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ quản lý kỷ luật với hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học. Trong đào tạo sau đại học, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học chiếm vị trí trung tâm, do đó quản lý kỷ luật cần được tích hợp vào toàn bộ quá trình này. Cần cụ thể hóa yêu cầu kỷ luật trong từng khâu của quá trình đào tạo: từ xây dựng kế hoạch học tập, lựa chọn và triển khai đề tài, đến công bố kết quả nghiên cứu. Kỷ luật không chỉ thể hiện ở việc chấp hành thời gian, quy định mà còn ở tính trung thực khoa học, tinh thần trách nhiệm, thái độ nghiêm túc đối với sản phẩm trí tuệ. Các yêu cầu như tuân thủ quy định trích dẫn, chống sao chép, bảo đảm tiến độ nghiên cứu, thực hiện đúng quy trình khoa học… cần được coi là tiêu chí quan trọng trong đánh giá kỷ luật. Việc gắn kết này giúp học viên nhận thức rõ kỷ luật là điều kiện bảo đảm chất lượng học tập và uy tín nghề nghiệp, không phải yếu tố áp đặt từ bên ngoài.

Thứ tư, tăng cường quản lý kỷ luật trong môi trường số. Sự phát triển của công nghệ thông tin và không gian mạng vừa mở rộng phương thức đào tạo, vừa đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý kỷ luật. Vì vậy, cần xây dựng, bổ sung các quy định cụ thể về sử dụng internet, mạng xã hội, bảo đảm phù hợp với đặc thù môi trường quân sự và hoạt động học tập. Đồng thời, chú trọng giáo dục cho học viên kỹ năng tiếp nhận, chọn lọc, kiểm chứng thông tin, nâng cao “sức đề kháng” trước các thông tin xấu độc, giữ vững bản lĩnh chính trị trong không gian mạng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý như theo dõi tiến độ học tập, nghiên cứu, quản lý hoạt động học tập trên các nền tảng số; qua đó vừa tạo thuận lợi cho học viên, vừa nâng cao hiệu quả giám sát và đánh giá.

Thứ năm, xây dựng và phát huy hiệu quả cơ chế tự quản của học viên. Tự quản là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng quản lý kỷ luật một cách bền vững. Cần tạo điều kiện để học viên tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý thông qua các hình thức phù hợp như xây dựng quy ước học tập, sinh hoạt; tổ chức tự đánh giá, tự phê bình và góp ý trong tập thể; phát huy vai trò của các tổ, nhóm học tập. Cơ chế tự quản phải được thiết kế linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng lớp, từng chuyên ngành, bảo đảm vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo, vừa giữ vững nguyên tắc tổ chức kỷ luật. Khi học viên trở thành chủ thể của quá trình quản lý, họ sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm đối với tập thể và bản thân, đồng thời rèn luyện năng lực tổ chức, quản lý, những phẩm chất cần thiết của người cán bộ sau khi ra trường.

Thứ sáu, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục kỷ luật theo hướng hiện đại, phù hợp đối tượng. Cùng với các giải pháp trên, cần chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục kỷ luật theo hướng gắn với thực tiễn công tác, tăng tính thuyết phục và khả năng vận dụng. Nội dung giáo dục không chỉ dừng ở phổ biến quy định mà cần làm rõ ý nghĩa chính trị, pháp lý và nghề nghiệp của kỷ luật; đồng thời liên hệ với yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới. Phương pháp giáo dục cần đa dạng, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận với thực tiễn, tăng cường trao đổi, thảo luận, xử lý tình huống. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và hình thành thói quen chấp hành kỷ luật một cách tự giác, bền vững.

3. Kết luận

Quản lý kỷ luật ở Hệ đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị là quá trình vừa bảo đảm tính nguyên tắc, vừa đòi hỏi sự linh hoạt phù hợp với đặc thù đối tượng và môi trường đào tạo. Trong bối cảnh hiện nay, việc nâng cao chất lượng công tác này cần được thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa quản lý và giáo dục, giữa tính bắt buộc và tính tự giác, giữa yêu cầu xây dựng chính quy với đặc trưng của hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy khoa học, phong cách làm việc chuẩn mực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Quốc phòng, Thông tư số 143/2023/ TT-BQP ngày 27/12/2023 về Quy định xử lý kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 2023.

2. Bộ Tổng Tham mưu, Chỉ thị về việc nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật trong toàn quân, số 11/CT-TM, ngày 12/4/2023, Hà Nội, 2023.

3. Đảng bộ Hệ 5, Học viện Chính trị, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Hệ 5 nhiệm kỳ 2025 - 2030, Hà Nội, 2025.

4. Bùi Quang Huy (2020), Nâng cao chất lượng quản lý, rèn luyện kỷ luật cho học viên trong các nhà trường Quân đội hiện nay, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

5. Nguyễn Văn Phương (2020), Nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật của quân nhân ở đơn vị cơ sở, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.