NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

06:08 | 07/09/2025
ThS Võ Nguyễn Đoan Trinh - Trường Đại học Thủ Dầu Một Tóm tắt: Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học là con đường quan trọng nhất để nâng cao chất lượng đào tạo của các nhà trường đại học. Để nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Thủ Dầu Một trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển đồng bộ với chiến lược phát triển chung của nhà trường theo từng giai đoạn cụ thể.

ThS Võ Nguyễn Đoan Trinh -

Trường Đại học Thủ Dầu Một

Tóm tắt: Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học là con đường quan trọng nhất để nâng cao chất lượng đào tạo của các nhà trường đại học. Để nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Thủ Dầu Một trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển đồng bộ với chiến lược phát triển chung của nhà trường theo từng giai đoạn cụ thể.

Từ khoá: Nghiên cứu khoa học; Nâng cao chất lượng; Đại học Thủ Dầu Một.

Nhận bài: 3/9/2025; Biên tập: 4/9/2025; Duyệt đăng: 5/9/2025

1. Đặt vấn đề

Nghiên cứu khoa học và đào tạo là hai nhiệm vụ trung tâm của mọi nhà trường đại học. Hai nhiệm vụ này luôn gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ là điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ kia. Chất lượng của nhà trường đại học được đánh giá bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng trước hết phải được phản ánh bằng kết quả của việc thực hiện hai nhiệm vụ trung tâm là đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh của thời đại công nghệ hiện nay, không một nhà trường đại học nào có thể đổi mới, phát triển đến đỉnh cao về chất lượng đào tạo mà không gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học. Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học là con đường, biện pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng đào tạo.

Qua gần 15 năm (2009 – 2024) hình thành và phát triển, Trường Đại học Thủ Dầu Một đã định hình là một cơ sở giáo dục đa ngành, đa lĩnh vực; phát triển theo mô hình đại học tiên tiến. Từng bước, Trường đã và đang khẳng định vị thế của một đơn vị đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH) chất lượng cao, là đại diện tiêu biểu cho sức mạnh tri thức của tỉnh Bình Dương. Hoạt động NCKH của nhà trường nhằm mục tiêu trước hết là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh Bình Dương, của miền Đông Nam Bộ - vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và trở thành trung tâm tư vấn nghiên cứu trong khu vực. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Thủ Dầu Một trong những năm qua còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Hàng năm số lượng các bài báo khoa học của giảng viên trong nhà trường được xuất bản trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước còn ít so với số lượng đội ngũ giảng viên.

2. Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Thủ Dầu Một

2.1. Định hướng phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học phù hợp với quá trình phát triển của nhà trường

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Hội nghị Khoa học - Trường Đại học Thủ Dầu Một

Mục tiêu và nội dung chủ yếu của biện pháp này là xây dựng kế hoạch chiến lược dài hạn về hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường. Trong đó phải chỉ ra được các nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn cụ thể và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đó. Kế hoạch chiến lược phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học phải đồng bộ với kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường. Định hướng phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học không những thể hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành một cách toàn diện hoạt động nghiên cứu khoa học mà còn là công cụ, phương tiện giúp nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của mình trong từng bước đi cụ thể. Định hướng phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học phải phù hợp với đặc điểm, quy mô và các giai đoạn phát triển của nhà trường, đồng thời phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và trình độ phát triển kinh tế - các hội của địa phương. Trong Chiến lược phát triển Trường Đại học Thủ Dầu Một đến năm 2030 đã xác định: “Tập trung nghiên cứu các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn theo hướng các chương trình, ngành và chuyên ngành để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Bình Dương và Nhà trường” [5].

Tiếp đó, trong Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển của Trường Đại học Thủ Dầu Một đến năm 2030, lĩnh vực khoa học, công nghệ đã xác định mục tiêu tổng quát: “Phát triển Trường Đại học Thủ Dầu Một trở thành cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ trọng điểm ở khu vực Đông Nam bộ, có uy tín ở Việt Nam và khu vực ASEAN; tiếp cận trình độ nghiên cứu của đại học thông minh, tao ra tri thức, công nghệ, giải pháp mới góp phần phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế - xã hội”[3].

Dựa trên Chiến lược và Kế hoạch tổng thể đó, nhà trường đã cụ thể hóa thành đề án và kế hoạch nghiên cứu khoa học cụ thể theo từng giai đoạn và từng năm học. Trong đó xác định rõ mục đích, định hướng nội dung nghiên cứu và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học chung của nhà trường. Trên cơ sở đó, tổ chức cho đội ngũ cán bộ, giảng viên và các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong nhà trường tham khảo, đóng góp ý kiến, để đề xuất các nhiệm vụ nghiên cứu phù hợp với chức trách, nhiệm vụ được phân công. Việc xây dựng kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học cho từng giai đoạn cụ thể giúp nhà trường xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu phù hợp với quá trình phát triển của nhà trường.

2.2. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên của nhà trường

Đây là biện pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của nhà trường trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Muốn nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường phải coi trọng việc phát triển đội ngũ các nhà khoa học. Trong khi xây dựng kế hoạch định hướng các vấn đề nghiên cứu phải đồng thời xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch định hướng phát triển đội ngũ các nhà khoa học của nhà trường.

Trước hết, cần phải tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm và tạo hứng thú cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của nhà trường về hoạt động nghiên cứu khoa học. Mỗi giảng viên cần phải nhận thức rằng, hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học là trách nhiệm pháp lý, phải chiếm tỷ lệ thời gian tương đương với hoạt động giảng dạy. Nhà trường phải đưa các hoạt động nghiên cứu khoa học vào tiêu chí đánh giá thi đua và đánh giá chất lượng giảng viên hàng năm. Tùy theo thâm niên công tác và tùy theo trình độ học vấn của giảng viên mà quy định số giờ và sản phẩm nghiên cứu khoa học hàng năm. Giảng viên không tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học là không hoàn thành nhiệm vụ.

Về phương diện tổ chức, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học chuyên trách của nhà trường, lấy lực lượng này làm nòng cốt để phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học chung của toàn trường. Phòng Khoa học, Công nghệ của nhà trường có chức năng tham mưu cho Ban Giám hiệu và tư vấn cho các khoa giáo viên, các đơn vị trực thuộc trong nhà trường về hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong quá trình tổ chức các hoạt động nghiên cứu phải phát hiện những cá nhân có năng khiếu nổi trội để có biện pháp bồi dưỡng, phát triển thành chuyên gia đầu ngành của nhà trường. Mỗi ngành đều phải xây dựng được chuyên gia đầu ngành của ngành mình đảm nhiệm. Chuyên gia đầu ngành sẽ là người tiên phong trong các hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành.

2.3. Hoàn thiện quy trình tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học phù hợp với đặc điểm của nhà trường

Quảng cáo

Hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học. Con đường khám phá khoa học rất đa dạng và mang tính mạo hiểm cao, có khi thành công, có khi thất bại. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học bao giờ cũng có những quy luật và nguyên tắc nhất định. Biện pháp này nhằm xây dựng một quy trình tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học hợp lý nhất, phù hợp với quy luật, nguyên tắc chung và đặc điểm riêng của nhà trường, đảm bảo cho sự thành công và tránh được những thất bại trong hoạt động nghiên cứu.

Biện pháp này đòi hỏi, mọi hoạt động nghiên cứu khoa học phải được dựa trên một cơ sở phương pháp luận nhất quán. Cơ sở phương pháp luận chung nhất là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thể chế hóa thành các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và của các cơ quan chức năng. Dựa trên cơ sở các v ăn bản chỉ đạo đó để nhà trường xây dựng Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học phù hợp với đặc điểm riêng của trường, phù hợp với thực tiễn của địa phương và bối cảnh chung của đất nước.

Trong thực tiễn, những năm qua, Trường Đại học Thủ Dầu Một thường xuyên cập nhật, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học cho phù hợp với những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, như Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25/10/2014 Quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học; Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT ngày 27/7/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường đã xác định những yêu cầu về nội dung, phương pháp, chỉ ra quy trình các bước hoạt động nghiên cứu khoa học, quy định các điều kiện đảm bảo, đồng thời phân cấp, phân quyền trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị trong nhà trường. Quy chế là công cụ quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học, đảm bảo hài hòa giữa trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, giảng viên và các cơ quan, đơn vị trong nhà trường.

2.4. Đa dạng hóa nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học của nhà trường

Trường Đại học Thủ Dầu Một là trường đại học đa ngành. Mỗi ngành có đối tượng nghiên cứu khác nhau, có những đặc điểm, yêu cầu riêng về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức nghiên cứu. Mặt khác, đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường cũng đa dạng về trình độ học vấn, về đặc điểm bản thân. Biện pháp này nhằm tạo cơ hội để nhiều người có thể tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân.

Trước hết, cần phải đa dạng hóa nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức nghiên cứu theo từng ngành đào tạo của nhà trường. Đồng thời phải đa dạng hóa về cấp độ và loại hình đề tài. Nhà trường phải chủ động xây dựng được hệ thống đề tài các cấp. Có đề tài cấp quốc gia, cấp bộ, cấp ngành, cấp sở, cấp trường, cấp khoa, phòng… Từng cơ quan, đơn vị phải chủ động đề xuất đề tài, không chờ đợi trên phân công thì mới làm. Phải kết hợp các loại hình đề tài nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai. Ngoài các đề tài khoa học ra, phải tổ chức cho cán bộ, giáo viên, sinh viên viết tham luận hội thảo khoa học, viết sách chuyên khảo, tham khảo, viết giáo trình, viết báo cho tạp chí. Viết báo trên các tạp chí chuyên ngành là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi giảng viên đại học.

Yêu cầu chung về nội dung nghiên cứu là phải đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học, tính thực tiễn. Nội dung nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn của nhà trường, của địa phương và của ngành đào tạo, phải phát hiện các mâu thuẫn và hướng vào giải quyết các mâu thuẫn trong thực tiễn, nhằm cải tạo thực tiễn theo chiều hướng tốt hơn. Nhà trường phải xác định được hệ thống đề tài và các nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm, trong điểm trong từng giai đoạn, phù hợp với thực tiễn. Ưu tiên trước hết là thực tiễn phát triển của nhà trường. Đồng thời phải cập nhật nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Dương và của miền Đông Nam Bộ. Đó là trách nhiệm và cũng là thế mạnh của Trường Đại học Thủ Dầu Một.

2.5. Đảm bảo cơ sở vất chất và nguồn kinh phí để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học

Cơ sở vật chất và nguồn kinh phí là điều kiện quan trọng đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong thực tiễn, đôi khi các hoạt động nghiên cứu khoa học không triển khai được vì thiếu kinh phí, thiếu các điều kiện đảm bảo. Biện pháp này nhằm phân loại, định hướng về việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất và các nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học sao cho có hiệu quả.

Cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm phòng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị và các cơ sở thực địa để triển khai thực hành. Trong thời đại ngày nay, trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi điều kiện đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học còn phải cập nhật các phần mềm ứng dụng, phần thông tin, trí tuệ nhân tạo AI và các thành tựu công nghệ mới. Điều đó đặt ra thực trạng rằng, không nhà trường đại học nào có thể tự mình trang trải đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học từ A đến Z. Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi các nhà trường phải có kế hoạch kết hợp mua sắm hợp lý với thuê mượn và liên kết sử dụng. Nhà trường phải liên kết với các cơ sở nghiên cứu khoa học khác và với địa phương, với doanh nghiệp để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học.

Để tạo nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học cần phải tăng cường tính tự chủ của các cơ quan đơn vị trong nhà trường. Từng bước ký kết các đề tài khoa học với các doanh nghiệp và địa phương. Khai thác nguồn kinh phí từ các công trình, đề tài khoa học có thể ứng dụng trong thực tiễn mang lại lợi ích về kinh tế cho các doanh nghiệp và địa phương. Ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng các vườn ươm công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gắn phát triển công nghệ với tạo sản phẩm mới có khả năng thương mại cao; thực hiện dịch vụ khoa học và công nghệ. Ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động “khởi nghiệp”.

Một trong những biện pháp quan trọng là liên kết giữa các ngành thế mạnh của nhà trường với các trường đại học có uy tín ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phát huy thế mạnh của khoa Điện – Điện tử, liên kết với các nhà trường đại học khác để nghiên cứu về điện - điện tử, tự động, trí tuệ nhân tạo, robốt, internet kết nối vạn vật… Liên kết với các nhà máy, khu công nghiệp thực hiện tư vấn, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực điện - điện tử, tự động, viễn thông. Đồng thời từng bước hợp tác với các trường đại học của các nước trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và công bố quốc tế.

3. Kết luận

Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học là con đường quan trọng nhất để nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường đại học. Trong những năm qua, trường Đại học Thủ Dầu Một đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường. Các định hướng về hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng rõ ràng, mang tính khoa học và sát với thực tiễn nhiều hơn. Đội ngũ cán bộ, giảng viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Quy trình hoạt động nghiên cứu khoa học từng bước được định hình và đi vào thực tiễn. Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học liên tục được cải tiến, phát triển, hoàn thiện và nâng cao.

Thực tiễn, hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Thủ Dầu Một bước đầu đã phát huy tác dụng, được đông đảo cán bộ, giảng viên và sinh viên trong nhà trường tích cực hưởng ứng. Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Thủ Dầu Một là phương pháp tích cực và hữu hiệu giúp giảng viên, sinh viên phát huy sáng kiến, phát triển tư duy, tìm tòi, ứng dụng các thành tựu khoa học, chuyển giao những công nghệ mới vào thực tế cuộc sống, góp phần đẩy nhanh quá trình đào tạo, phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Tài liệu Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên chính hạng II, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI về đổi mối căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

[3]. Hội đồng Trường Đại học Thủ Dầu Một (2018), Nghị quyết số 05/QĐ-HĐTr ngày 22/06/2018 của Chủ tịch Hội đồng Trường về việc thông qua Chiến lược phát triển Trường Đại học Thủ Dầu Một đến năm 2030.

[4]. Hội đồng Trường Đại học Thủ Dầu Một (2019), Quyết định số 03/QĐ-HĐTr ngày 22/01/2019 của Chủ tịch Hội đồng Trường về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển Trường đến năm 2030. Lĩnh vực: Khoa học công nghệ.

[5]. Trần Khánh Đức (2010), Phát triển nguồn nhân lực thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.