NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI GẮN VỚI THỰC HIỆN PHƯƠNG CHÂM “CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA NHÀ TRƯỜNG LÀ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU CỦA ĐƠN VỊ”

06:31 | 18/11/2025
Thiếu tướng, TS Phùng Thị Phú - Phó Cục trưởng Cục Quân huấn – Nhà trường quân đội Tóm tắt: Phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” thể hiện rõ quan điểm gắn giáo dục – đào tạo với thực tiễn chiến đấu, gắn giảng đường với chiến trường, và coi sản phẩm đào tạo sĩ quan là yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Trong điều kiện xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng

Thiếu tướng, TS Phùng Thị Phú -

Phó Cục trưởng Cục Quân huấn – Nhà trường quân đội

Tóm tắt: Phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” thể hiện rõ quan điểm gắn giáo dục – đào tạo với thực tiễn chiến đấu, gắn giảng đường với chiến trường, và coi sản phẩm đào tạo sĩ quan là yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Trong điều kiện xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng viên ngày càng cao về phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Bài viết phân tích cơ sở lý luận – thực tiễn của vấn đề và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện, nhà trường quân đội, bảo đảm thực hiện tốt phương châm nêu trên trong tình hình mới.

Từ khóa: chất lượng đào tạo, sẵn sàng chiến đấu, đội ngũ giảng viên, nhà trường quân đội.

1. Đặt vấn đề

Các học viện, nhà trường quân đội là nơi đào tạo đội ngũ sĩ quan, cán bộ tham mưu, chỉ huy, chuyên gia kỹ thuật, hậu cần, chính trị… phục vụ nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Chất lượng đào tạo của nhà trường quyết định trực tiếp tới chất lượng đội ngũ sĩ quan ở đơn vị cơ sở, qua đó ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của toàn quân.

Trong đó, đội ngũ giảng viên là lực lượng then chốt quyết định chất lượng đào tạo. Đứng trước yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, tác chiến đa miền, việc gắn phương châm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng SSCĐ của đơn vị” với nâng cao chất lượng giảng viên là nhiệm vụ cấp thiết, mang tính chiến lược.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc gắn phương châm đào tạo với nâng cao chất lượng giảng viên

Một là, quan điểm Đảng về giáo dục – đào tạo quân đội nhấn mạnh đào tạo phải gắn với thực tiễn chiến đấu, chú trọng thực hành, rèn luyện bản lĩnh người chỉ huy. Đặc điểm hoạt động quân sự đòi hỏi người giảng viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hình thành tư duy quân sự, năng lực xử lý tình huống chiến đấu.

Hai là, phương châm đặt ra yêu cầu chất lượng toàn diện: kiến thức quân sự - chính trị - pháp luật, năng lực chỉ huy, tham mưu, tác phong quân nhân, thể lực và bản lĩnh người sĩ quan. Để đạt được điều đó, giảng viên phải có trình độ chuyên môn sâu, phương pháp sư phạm tốt, kinh nghiệm thực tiễn phong phú và khả năng cập nhật tri thức quân sự hiện đại.

Ba là, nhiệm vụ xây dựng quân đội hiện đại, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới đòi hỏi nhà trường quân đội phải đổi mới nội dung, chương trình đào tạo. Điều này yêu cầu đội ngũ giảng viên phải làm chủ tri thức mới: chiến tranh thông minh, tác chiến đa miền, tác chiến dựa trên công nghệ số và hệ thống chỉ huy – kiểm soát hiện đại. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại yêu cầu cán bộ phải có năng lực tác chiến trong môi trường công nghệ cao, vì vậy giảng viên phải làm chủ tri thức quân sự mới.

Bốn là, thực tiễn các đơn vị trong toàn quân khẳng định rằng cán bộ được đào tạo từ các học viện, nhà trường quân đội có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng SSCĐ. Do vậy, giảng viên phải đáp ứng tốt phương châm “đào tạo gắn chiến trường”, “giảng đường gắn thao trường”. Thực tiễn hoạt động của các học viện, nhà trường quân đội cho thấy giảng viên là yếu tố quyết định đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học.

Năm là, đội ngũ giảng viên của các học viện, nhà trường quân đội ngày càng có trình độ cao, song cũng đứng trước thách thức: chênh lệch thế hệ, thiếu cán bộ trẻ có trình độ sau đại học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa. Kết quả khảo sát tại nhiều học viện cho thấy sự chênh lệch trình độ, thiếu giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn, hạn chế trong ứng dụng công nghệ mô phỏng, công nghệ số… đang là thách thức lớn.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI GẮN VỚI THỰC HIỆN PHƯƠNG CHÂM “CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA NHÀ TRƯỜNG LÀ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU CỦA ĐƠN VỊ”

3. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng viên trong thực hiện phương châm

Phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức và tác phong mẫu mực. Giảng viên phải là tấm gương về lập trường tư tưởng, kỷ luật, phong cách quân nhân. Có khả năng định hướng tư duy chính trị – quân sự cho học viên.

Nắm vững lý luận quân sự và kiến thức chuyên ngành hiện đại. Thành thạo khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, chiến thuật – chiến dịch. Làm chủ tri thức về tác chiến đa miền, chiến tranh thông minh, C4ISR, AI quân sự…

Kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Có thời gian giữ chức vụ ở đơn vị chiến đấu, tham gia diễn tập quy mô lớn. Có khả năng chuyển hóa kinh nghiệm thực tiễn thành bài giảng, tình huống mô phỏng.

Năng lực sư phạm và công nghệ dạy học hiện đại. Thành thạo phương pháp dạy học tích cực, mô hình mô phỏng chiến trường, sa bàn ảo. Sử dụng tốt CNTT, phần mềm mô phỏng tác chiến, hệ thống bản đồ số.

Năng lực nghiên cứu khoa học quân sự. Có khả năng tham gia đề tài các cấp, biên soạn giáo trình, sáng kiến cải tiến mô hình học cụ. Đóng góp vào phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới.

Ngoài ra, giảng viên ở nhà trường quân đội phải đạt chuẩn về chức vụ và chuẩn về ngoại ngữ, tin học theo quy định của Bộ Quốc phòng. Theo đó, giảng viên giảng dạy, đào tạo học viên ở chức vụ nào thì phải được trải nghiệm thực tiễn ở chức vụ ấy trở lên. Đồng thời, giảng viên phải biết sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ trong thực hành giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

4. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên gắn với thực hiện phương châm đào tạo

4.1. Quy hoạch, tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giảng viên có chiến lược, khoa học phù hợp với quy hoạch phát triển nhà trường quân đội hiện đại

* Mục tiêu của giải pháp

Quy hoạch, tuyển chọn và sử dụng giảng viên giữ vị trí trung tâm trong phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội. Đây là giải pháp căn bản, lâu dài nhằm tạo nguồn giảng viên vững mạnh, bảo đảm cho sự ổn định, kế thừa và phát triển của các học viện, nhà trường quân đội. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đào tạo sĩ quan chính quy, có trình độ tác chiến hiện đại đòi hỏi giảng viên phải được lựa chọn kỹ lưỡng, bồi dưỡng bài bản và sử dụng đúng sở trường.

Mục tiêu của giải pháp nhằm bảo đảm cho các học viện, nhà trường quân đội xây dựng được đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, mạnh về chất lượng, có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn – nghiệp vụ cao, tư duy khoa học, khả năng sư phạm và năng lực thực tiễn phong phú. Từ đó, hình thành một lực lượng giảng viên chuẩn hóa, hiện đại, chuyên sâu và kế thừa liên tục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục – đào tạo và thực hiện thắng lợi phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.”

* Nội dung của giải pháp

- Xây dựng quy hoạch đội ngũ giảng viên gắn với chiến lược phát triển nhà trường. Quy hoạch theo tầm nhìn dài hạn (10–15 năm) gắn với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Xác định rõ cơ cấu ngành nghề, độ tuổi, trình độ học vấn, học hàm – học vị cho từng khoa, bộ môn. Bảo đảm tính kế thừa, liên thông: có đội ngũ kế cận chất lượng, tránh đặt nhà trường vào tình trạng “đứt gãy nguồn giảng viên”. Ứng dụng dữ liệu số để quản lý hồ sơ giảng viên, đánh giá năng lực, dự báo nhu cầu nhân lực.

- Tiêu chuẩn hóa công tác tuyển chọn giảng viên. Xây dựng bộ tiêu chí tuyển chọn khoa học, trong đó chú trọng: Phẩm chất chính trị, đạo đức, kỷ luật quân đội. Kiến thức chuyên ngành và tri thức quân sự nền tảng. Năng lực nghiên cứu và tư duy khoa học. Kỹ năng sư phạm quân sự, khả năng truyền đạt, tổ chức lớp học. Đặc biệt ưu tiên sĩ quan đã qua thực tiễn chỉ huy, tham mưu ở đơn vị.

Tuyển chọn theo nhiều nguồn, bảo đảm “mở” nhưng có kiểm soát: Học viên tốt nghiệp xuất sắc ở các trường sĩ quan. Cán bộ trẻ ở đơn vị có năng lực, có triển vọng phát triển. Cán bộ giữ chức vụ chỉ huy cấp trung đội/đại đội để làm giảng viên chiến thuật – tham mưu. Chuyên gia kỹ thuật từ các viện nghiên cứu quân sự. Thực hiện tuyển chọn theo quy trình 5 bước: (1) Xác định nhu cầu; (2) Kiểm tra – sát hạch; (3) Thẩm định phẩm chất; (4) Phỏng vấn – dạy thử; (5) Ra quyết định bổ nhiệm.

- Sử dụng đội ngũ giảng viên đúng chuyên môn, đúng sở trường. Phân công giảng dạy phù hợp năng lực; tránh bố trí giảng viên không đúng ngành hoặc manh mún, dàn trải. Bố trí xen kẽ chức vụ giảng dạy – quản lý – nghiên cứu để phát huy toàn diện năng lực giảng viên.

Luân phiên công tác giữa giảng đường và thực tiễn đơn vị: Giảng viên chiến thuật – tham mưu xuống đơn vị chủ lực 6–12 tháng. Giảng viên kỹ thuật cập nhật công nghệ ở doanh nghiệp quốc phòng. Giảng viên chính trị tham gia thực tế tại các trung đoàn, lữ đoàn.

- Trẻ hóa, chuẩn hóa và quốc tế hóa đội ngũ giảng viên. Xây dựng cơ cấu độ tuổi hợp lý, phấn đấu tỷ lệ giảng viên trẻ (dưới 40 tuổi) đạt từ 35–40% tùy từng học viện. Khuyến khích đào tạo sau đại học, đặc biệt là thạc sĩ, tiến sĩ trong và ngoài quân đội. Tạo điều kiện cho giảng viên tham gia hợp tác quốc tế, hội thảo quân sự, khóa học ở nước bạn hoặc các nước có nền quân sự tiên tiến.

- Đánh giá, sàng lọc đội ngũ giảng viên định kỳ. Áp dụng bộ tiêu chí đánh giá đa chiều: Chất lượng giảng dạy (qua phản hồi, dự giờ, kết quả học viên). Kết quả nghiên cứu khoa học. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ quân sự, rèn luyện. Khả năng ứng dụng công nghệ và đổi mới phương pháp dạy học.

Thực hiện cơ chế sàng lọc nghiêm túc: Những giảng viên không hoàn thành nhiệm vụ nhiều năm cần chuyển vị trí phù hợp. Kịp thời động viên, khen thưởng giảng viên giỏi, tạo động lực phát triển.

* Cách thức tổ chức thực hiện giải pháp

Cấp ủy, chỉ huy nhà trường xây dựng nghị quyết chuyên đề về phát triển đội ngũ giảng viên. Phòng cán bộ – khoa giáo dục tham mưu quy hoạch, phân loại giảng viên theo 4 nhóm: giỏi, khá, đạt, cần bồi dưỡng. Các khoa, bộ môn chủ động xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực theo từng chuyên ngành. Đầu tư ngân sách trọng điểm cho đào tạo, bồi dưỡng giảng viên chiến lược. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý hồ sơ, đánh giá và điều hành nhân lực giảng viên.

4.2. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm quân sự của giảng viên ở các học viện, nhà trường quân đội

* Mục tiêu của giải pháp

Trong các học viện, nhà trường quân đội, giảng viên là nhân tố trung tâm trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ sĩ quan, cán bộ các cấp. Nhiệm vụ đào tạo hiện nay chuyển mạnh sang hướng chuẩn hóa – hiện đại hóa – hội nhập quốc tế, đòi hỏi giảng viên không chỉ giỏi về lý luận quân sự mà còn phải có trình độ sư phạm quân sự hiện đại, kỹ năng giảng dạy sáng tạo và năng lực tổ chức dạy học thực hành gắn với thực tiễn chiến đấu.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn một bộ phận giảng viên chưa thực sự nắm vững phương pháp sư phạm hiện đại, hạn chế trong sử dụng công nghệ dạy học, còn nặng về truyền thụ, ít phát huy tính chủ động của học viên. Do đó, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm quân sự là yêu cầu cấp bách, bảo đảm thực hiện thắng lợi phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.”

Mục tiêu của giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn sâu, nghiệp vụ sư phạm vững vàng, tư duy đổi mới sáng tạo, có khả năng giảng dạy, huấn luyện, nghiên cứu, hướng dẫn học viên toàn diện. Chuẩn hóa giảng viên theo tiêu chí “chính trị vững vàng – quân sự tinh thông – sư phạm mẫu mực – nghiên cứu giỏi – ứng dụng tốt công nghệ số”.

* Nội dung của giải pháp

- Chuẩn hóa trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Xây dựng chuẩn năng lực giảng viên quân sự gồm 4 nhóm tiêu chí: (1) Phẩm chất, bản lĩnh chính trị – tư tưởng: kiên định, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, nhân dân. (2) Trình độ chuyên môn quân sự: am hiểu sâu về chiến thuật, chiến dịch, kỹ thuật, hậu cần, chính trị, tùy từng học viện. (3) Năng lực sư phạm quân sự: nắm vững quy luật dạy học, tâm lý học quân sự, phương pháp dạy học tích cực. (4) Năng lực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ: có khả năng xây dựng giáo án số, mô phỏng tác chiến, khai thác hệ thống e-learning.

Rà soát, phân loại và bồi dưỡng giảng viên theo nhóm trình độ: (1) Nhóm giảng viên trẻ: tập trung bồi dưỡng kỹ năng sư phạm cơ bản, phương pháp dạy học hiện đại. (2) Nhóm giảng viên có kinh nghiệm: bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, viết bài báo khoa học. (3) Nhóm giảng viên đầu ngành: bồi dưỡng năng lực đào tạo giảng viên mới, chủ trì chương trình đào tạo.

- Đổi mới chương trình, nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm quân sự. Tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm định kỳ (6 tháng – 1 năm) cho giảng viên mới và giảng viên nâng cao. Nội dung đào tạo tập trung vào: Lý luận dạy học hiện đại và nghệ thuật sư phạm quân sự. Phương pháp tổ chức bài giảng, xây dựng tình huống huấn luyện, mô phỏng chiến thuật – chiến dịch. Kỹ năng đánh giá học viên theo năng lực. Ứng dụng công nghệ thông tin, mô phỏng, bản đồ số, sa bàn ảo trong dạy học. Kỹ năng giao tiếp sư phạm, quản lý lớp học và xử lý tình huống sư phạm đặc thù môi trường quân đội.

Mở lớp “Giảng viên quân sự chất lượng cao” với nội dung chuyên sâu, giảng viên tham gia sẽ được huấn luyện thực hành, dạy thử, phản biện, trao đổi kinh nghiệm giữa các học viện.

- Tăng cường bồi dưỡng thực tiễn và khả năng xử lý tình huống chiến đấu. Định kỳ luân chuyển giảng viên về đơn vị để “làm giàu” thực tiễn. Tham gia các cuộc diễn tập lớn của quân khu, quân đoàn, quân chủng. Tổ chức “Ngân hàng tình huống chiến thuật – chiến dịch” phục vụ giảng dạy. Đẩy mạnh học tập, rèn luyện thực tiễn và trao đổi học thuật. Luân phiên giảng viên về đơn vị thực tế, tham gia huấn luyện, diễn tập, chỉ huy để cập nhật thực tiễn chiến đấu, bổ sung vào bài giảng.

Tổ chức hội thảo khoa học, diễn đàn giảng viên trẻ, chia sẻ kinh nghiệm đổi mới giảng dạy, công bố kết quả nghiên cứu sư phạm quân sự. Phát triển hình thức “hội giảng, thao giảng, thi giảng viên giỏi các cấp” làm động lực nâng cao tay nghề sư phạm. Khuyến khích giảng viên tham gia các hội thảo quốc tế, trao đổi với chuyên gia quân sự nước ngoài để tiếp thu phương pháp giảng dạy tiên tiến.

- Ứng dụng chuyển đổi số trong đào tạo và phát triển năng lực sư phạm. Xây dựng hệ sinh thái số trong đào tạo: Hệ thống quản lý học tập (LMS) dùng chung cho toàn quân. Thư viện bài giảng số, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, mô phỏng chiến trường ảo. Kho học liệu mở để giảng viên chia sẻ tài nguyên sư phạm. Đào tạo giảng viên “hai năng lực”: giảng dạy truyền thống và dạy học số. Bồi dưỡng kỹ năng sử dụng công nghệ mới: AI hỗ trợ bài giảng, phần mềm mô phỏng, thực tế ảo (VR/AR), hệ thống bản đồ chiến thuật số 3D.

- Cơ chế khuyến khích và chính sách phát triển giảng viên. Coi kết quả nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm là tiêu chí đánh giá bắt buộc khi xét nâng ngạch, phong tặng danh hiệu Nhà giáo, bổ nhiệm chức danh. Khen thưởng giảng viên có sáng kiến, mô hình dạy học hiệu quả, có bài báo khoa học, giáo trình được nghiệm thu. Tạo điều kiện về thời gian, kinh phí và cơ hội học tập cho giảng viên đi đào tạo sau đại học, học tập ở nước ngoài. Tăng cường chính sách thu hút nhân tài: học viên xuất sắc, sĩ quan có năng lực chỉ huy, nhà khoa học trẻ tham gia giảng dạy.

* Cách thức tổ chức thực hiện giải pháp

Cấp ủy, chỉ huy nhà trường ban hành nghị quyết chuyên đề về nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên.

Phòng đào tạo, phòng cán bộ, khoa sư phạm quân sự phối hợp xây dựng kế hoạch đào tạo – bồi dưỡng từng năm, gắn với quy hoạch đội ngũ.

Quảng cáo

Thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ về trình độ chuyên môn – sư phạm của giảng viên. Xây dựng cơ sở dữ liệu giảng viên số để theo dõi quá trình học tập, công tác, bồi dưỡng, thi đua.

Thực hiện tốt giải pháp này sẽ giúp cho 100% giảng viên được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo chuẩn hiện đại. Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học, có bài giảng số, bài báo khoa học tăng rõ rệt. Mỗi học viện, nhà trường hình thành đội ngũ giảng viên giỏi, chuyên gia đầu ngành, hạt nhân đổi mới dạy học. Học viên được học trong môi trường sư phạm hiện đại, rèn luyện bản lĩnh, năng lực chỉ huy – tham mưu thực tiễn. Chất lượng đào tạo được nâng cao, góp phần trực tiếp nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị trong toàn quân.

4.3. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học ở các học viện, nhà trường quân đội theo hướng coi trọng kinh nghiệm thực tiễn gắn với tăng cường sử dụng phương pháp dạy học hiện đại phù hợp đặc điểm hoạt động quân sự

* Mục tiêu của giải pháp

Chuyển từ dạy học truyền thụ sang dạy học phát triển năng lực người học theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Nâng cao hiệu quả rèn luyện tư duy chỉ huy – tham mưu, năng lực xử lý tình huống chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân đội trong bối cảnh mới .

Thông qua đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường, góp phần phát triển năng lực của học viên.

* Nội dung và phương thức tổ chức thực hiện giải pháp

- Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mô phỏng, sa bàn số, thực tế ảo (VR/AR) phù hợp với nhu cầy giáo dục, đào tạo của nhà trường. Xây dựng hệ thống mô phỏng chiến trường phục vụ dạy chiến thuật – chiến dịch. Tạo bài tập mô phỏng tình huống, bản đồ số 3D, hệ thống “diễn tập chỉ huy – tham mưu ảo”. Phát triển sa bàn số có tính tương tác cao cho các học viện binh chủng.

- Tổ chức dạy học theo tình huống chiến thuật – chiến dịch. Thiết kế “ngân hàng tình huống chiến đấu”: hành quân, tác chiến phòng thủ, tiến công, phòng ngự khu vực…sát với thực tiễn tác chiến trong bối cảnh mới. Yêu cầu học viên phân tích–quyết định–đánh giá ngay trên lớp. Lấy người học làm trung tâm, giảng viên đóng vai trò dẫn dắt.

- Áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Coi trọng kinh nghiệm truyền thống đồng thời phải tích cực áp dụng các phương pháp dạy học mới, hiện đại. Chú ý các phương pháp dạy học theo dự án (Project-based learning) trong đào tạo kỹ thuật – hậu cần. Dạy học nghịch đảo (Flipped classroom) trong các học phần chiến thuật. Thảo luận nhóm, tranh luận khoa học trong dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự và trong luyện tập ở mô hình học cụ.

- Chuẩn hóa bài giảng điện tử và hệ thống học liệu số. Tích cực thực hiện số hóa, xây dựng nguồn dữ liệu học tập đa dạng, phong phú vừa đảm bảo cập nhật khoa học vừa đảm bảo bí mật quân sự. Thực hiện 100% giảng viên phải có bài giảng số, bài giảng e-learning, video mô phỏng. Xây dựng thư viện bài giảng chuẩn hóa để chia sẻ giữa các nhà trường quân đội.

- Tăng cường gắn dạy học lý thuyết với huấn luyện thực hành, lấy thực hành làm chính. Tổ chức “tuần thực hành chiến thuật”, “tháng huấn luyện thực địa”. Học viên được thực hiện đầy đủ 5 bước hoạt động của người chỉ huy. Kết hợp chặt chẽ với đơn vị để tạo môi trường tác chiến thực tế.

Thực hiện tốt giải pháp này sẽ là cơ sở giúp học viên phát triển tư duy độc lập, khả năng xử trí tình huống chiến đấu. Giảm lối dạy học thuyết trình, tăng mức độ tương tác và sáng tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan và đáp ứng yêu cầu chiến tranh hiện đại. Thông qua đó mà nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện nhà trường quân đội trong bối cảnh mới.

4.4. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên

* Mục tiêu của giải pháp

Xây dựng đội ngũ giảng viên có năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) vững, có khả năng dẫn dắt và tham gia các đề tài chiến lược.

Tạo ra các sản phẩm khoa học phục vụ trực tiếp công tác huấn luyện, SSCĐ và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam.

* Nội dung và cách thức tổ chức thực hiện giải pháp

- Bồi dưỡng năng lực NCKH theo hướng chuẩn hóa và chuyên sâu. Tổ chức các khóa bồi dưỡng về: phương pháp luận nghiên cứu quân sự, kỹ thuật phân tích dữ liệu, mô phỏng – sa bàn số, viết công bố khoa học. Tập huấn kỹ năng lập đề cương, tổ chức thực nghiệm, tổng kết thực tiễn, chuyển giao kết quả nghiên cứu.

- Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong từng khoa, bộ môn. Tập hợp giảng viên có chuyên môn gần, có kinh nghiệm thực tiễn và năng lực nghiên cứu. Mỗi nhóm có một chủ nhiệm nhóm, có kế hoạch nghiên cứu 3–5 năm. Khuyến khích hình thành Nhóm nghiên cứu chiến thuật – chiến dịch, Nhóm nghiên cứu mô phỏng tác chiến, Nhóm nghiên cứu tâm lý – giáo dục quân sự, v.v.

- Tăng cường gắn nghiên cứu với thực tiễn huấn luyện – chiến đấu. Đưa giảng viên tham gia diễn tập thực binh, huấn luyện nâng cao. Thu thập số liệu, tổng kết, rút kinh nghiệm, đưa vào các báo cáo khoa học và giáo trình. Khuyến khích đề tài phục vụ trực tiếp cải tiến mô hình học cụ, vũ khí trang bị và phương pháp tác chiến mới.

- Đầu tư cơ sở vật chất, tài chính cho hoạt động NCKH. Trang bị phòng thí nghiệm mô phỏng, phòng phân tích số liệu, thư viện điện tử, kho tài liệu quân sự số. Dành ngân sách ưu tiên cho giảng viên có công bố khoa học, chủ nhiệm đề tài các cấp.

- Hoàn thiện cơ chế đánh giá và khuyến khích NCKH. Kết quả NCKH phải là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá giảng viên năm học, xét nâng lương, nâng ngạch, bổ nhiệm chức danh. Tổ chức giải thưởng “Giảng viên nghiên cứu xuất sắc”, “Nhóm nghiên cứu tiêu biểu”.

Thực hiện tốt giải pháp này sẽ là cơ sở để tạo ra đội ngũ giảng viên có năng lực phân tích khoa học, phát hiện vấn đề mới. Góp phần tăng số lượng và chất lượng đề tài phục vụ huấn luyện – SSCĐ. Nâng cao trình độ tư duy quân sự, góp phần phát triển khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam.

4.5. Xây dựng môi trường sư phạm quân sự mẫu mực

* Mục tiêu của giải pháp

Xây dựng nhà trường quân đội chính quy, kỷ luật, mẫu mực, văn hóa cao. Biến nhà trường thành môi trường giáo dục tích cực đối với cả giảng viên và học viên.

Tạo không gian giáo dục toàn diện, rèn luyện phẩm chất quân nhân cho học viên và cán bộ, giảng viên trong nhà trường.

Quá trình tổ chức xây dựng, cải tạo môi trường là quá trình phát triển toàn diện của đội ngũ giảng viên, góp phần nâng cao tình yêu nghề, thu hút và thúc đẩy đội ngũ giảng viên tích cực hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

* Nội dung và phương thức tổ chức thực hiện giải pháp

- Xây dựng môi trường chính trị – tư tưởng vững mạnh. Tổ chức sinh hoạt chính trị – học tập nghị quyết nghiêm túc, chiều sâu. Đấu tranh chống quan điểm sai trái, các biểu hiện suy thoái trong nhà trường. Xây dựng niềm tin, lý tưởng chiến đấu, kiên định mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại.

- Thực hiện tốt xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật. Duy trì nghiêm chế độ ngày, tuần; lễ tiết, tác phong quân nhân. Tạo môi trường kỷ luật tự giác, văn hóa chấp hành mệnh lệnh. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý vi phạm kỷ luật.

- Xây dựng văn hóa sư phạm quân sự nhân văn, mẫu mực. Giảng viên gương mẫu về phẩm chất, tác phong, phương pháp làm việc. Tạo mối quan hệ thầy – trò chuẩn mực: tôn trọng, kỷ luật, trách nhiệm. Tổ chức các hoạt động văn hóa – thể thao, thi đua, giao lưu với đơn vị.

- Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy học hiện đại. Xây dựng giảng đường thông minh, trường bắn ảo, thao trường mô phỏng 3D. Hoàn thiện hệ thống thư viện số, khu huấn luyện chuyên ngành, phòng học tích hợp. Xây dựng cảnh quan xanh – sạch – đẹp, tạo môi trường học tập tích cực.

- Thực hiện tốt cơ chế dân chủ, đoàn kết nội bộ. Cấp ủy, chỉ huy các cấp nêu gương trong điều hành, đối thoại với giảng viên – học viên. Khuyến khích sáng kiến, lắng nghe phản hồi từ học viên về chất lượng dạy học. Tạo môi trường công khai, minh bạch trong đánh giá – khen thưởng.

- Tăng cường bảo đảm chính sách và động lực phát triển cho giảng viên. Có chính sách thu hút, đãi ngộ giảng viên có trình độ cao. Bảo đảm kinh phí nghiên cứu khoa học, biên soạn tài liệu, cải tiến mô hình học cụ. Khuyến khích thi đua “Giảng viên giỏi”, “Nhà giáo tiêu biểu quân đội”.

Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần hình thành môi trường sư phạm giàu tính chiến đấu, tính nhân văn, kỷ luật nghiêm. Cán bộ, giảng viên, học viên được rèn luyện toàn diện, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Nhà trường trở thành đơn vị kiểu mẫu, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Các giải pháp nêu trên tạo thành hệ thống đồng bộ, tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và hiệu quả đào tạo của các học viện, nhà trường quân đội. Khi được triển khai tốt, chúng sẽ góp phần thực hiện thắng lợi phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.”

5. Kết luận

Việc gắn thực hiện phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng SSCĐ của đơn vị” với nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện, nhà trường quân đội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo sĩ quan, lãnh đạo, chỉ huy các cấp – những người trực tiếp tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Trong bối cảnh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng phức tạp, hiện đại, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng và bản thân giảng viên. Khi đội ngũ giảng viên thực sự vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, giàu thực tiễn, sáng tạo trong phương pháp dạy học thì chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao, qua đó góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng SSCĐ của toàn quân.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 4/11/2013, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI,

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2021

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024

[4].Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[5]. Quân ủy Trung ương, về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội; Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29 tháng 01 năm 2025

[6]. Quân ủy Trung ương, về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng xây dựng Quân đội trong tình hình mới; Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW.

[7]. Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Đề án xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội giai đoạn 2023-2030.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.