MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG GIẢNG DẠY HỌC VIÊN QUỐC TẾ Ở CÁC NHÀ TRƯỚNG QUÂN ĐỘI

10:53 | 24/06/2026
Đinh Văn Luyến Khoa Tên lửa, Trường Sĩ quan Pháo binh Email: [email protected] Tĩm tắt Đào tạo học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, gĩp phần củng cố quan hệ quốc phịng giữa Việt Nam và các nước bạn bè truyền thống. Bài viết phân tích một số kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy học viên quốc tế, từ xây dựng mơi trường học tập, hỗ trợ ngơn ngữ, lồng ghép văn hĩa - chính trị đến tổ chức hoạt động ngoại khĩa. Đây là cơ sở quan trọng để các n

Đinh Văn Luyến

Khoa Tên lửa, Trường Sĩ quan Pháo binh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Đào tạo học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và các nước bạn bè truyền thống. Bài viết phân tích một số kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy học viên quốc tế, từ xây dựng môi trường học tập, hỗ trợ ngôn ngữ, lồng ghép văn hóa - chính trị đến tổ chức hoạt động ngoại khóa. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà trường tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo đối tượng này trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.

Từ khóa: Giảng dạy học viên quốc tế; nhà trường quân đội; kinh nghiệm thực tiễn.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng, công tác đào tạo học viên quốc tế trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành nhiệm vụ mang tính chiến lược, vừng chắc và lâu dài. Việc giáo dục, đào tạo cán bộ quân sự cho các nước bạn truyền thống như Lào, Campuchia, Cuba... được xem là nhiệm vụ quân sự đồng thời là nhiệm vụ đối ngoại, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữ nghị, hợp tác giữa Quân đội Việt Nam và quân đội các nước bạn.

Thực tiễn giảng dạy cho thấy học viên quốc tế thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập do sự khác biệt về ngôn ngữ, phương pháp học tập, phông tục tập quán và các yếu tố văn hoá, tâm lý xã hội. Trong khi đó, đối tượng giảng dạy cho học viên quốc tế trong Quân đội là đặc thù, vừa yêu cầu cao về chuyên môn nghiệp vụ, vừa cần đến sự nhạy cảm văn hóa, tính nhân văn và tinh thần trách nhiệm quốc tế.

2. Một số kinh nghiệm trong giảng dạy học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội

Một là, tạo dựng môi trường học tập thân thiện, phù hợp với đặc điểm học viên quốc tế

Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học đối với học viên quốc tế là môi trường học tập. Môi trường đó không chỉ là không gian vật chất, mà còn là không khí sư phạm, mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa học viên với nhau, giữa học viên với cán bộ quản lý, đồng thời là sự phù hợp với đặc điểm văn hóa, tâm lý và nhận thức của người học quốc tế.

Trong thực tế, học viên quốc tế thường mang theo những tập quán, thói quen học tập, sinh hoạt khác biệt so với học viên Việt Nam. Một số học viên gặp khó khăn trong giao tiếp do trình độ tiếng Việt còn hạn chế. Có người cảm thấy lạc lõng, thiếu tự tin, ngại ngùng trong môi trường hoàn toàn mới về văn hóa và xã hội. Do đó, việc xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực, nhân văn là điều kiện tiên quyết để học viên quốc tế hòa nhập, phát huy nội lực và tiếp thu tri thức một cách hiệu quả.

Để làm được điều đó, đội ngũ giảng viên cần phát huy cao độ phẩm chất sư phạm và năng lực giao tiếp sư phạm. Giảng viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn phải là người bạn đồng hành, biết lắng nghe, chia sẻ và định hướng cho học viên quốc tế. Thái độ tôn trọng văn hóa bản địa, sự chân thành, cởi mở, linh hoạt trong giao tiếp là nền tảng để tạo dựng niềm tin và sự hợp tác hai chiều trong giảng dạy.

Bên cạnh đó, cần thiết kế các hoạt động học tập mang tính tương tác cao, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa học tập trong lớp và học tập ngoài thao trường. Việc sử dụng phương pháp giảng dạy trực quan, sinh động, tận dụng phương tiện dạy học hiện đại, đồng thời lồng ghép yếu tố văn hóa Việt Nam một cách hợp lý giúp học viên quốc tế cảm thấy gần gũi và dễ tiếp cận với kiến thức.

Cũng cần coi trọng vai trò của học viên Việt Nam trong hỗ trợ học viên quốc tế. Thực tế cho thấy, các mô hình “Đôi bạn cùng tiến”, “Chi đoàn hỗ trợ học viên quốc tế”, “Bí thư chi đoàn đỡ đầu”... đã phát huy hiệu quả tích cực. Thông qua các hoạt động học tập nhóm, ngoại khóa, thể thao, văn nghệ, các học viên Việt Nam không chỉ giúp bạn học về ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn mà còn giúp bạn hiểu thêm về con người, văn hóa, truyền thống quân đội và đất nước Việt Nam.

Ngoài ra, nhà trường cần có sự chỉ đạo thống nhất và hỗ trợ từ nhiều cấp quản lý để tạo dựng môi trường học tập đồng bộ, an toàn, kỷ cương nhưng không gò bó. Việc phối hợp giữa các đơn vị chức năng như phòng quản lý đào tạo, phòng công tác học viên, đoàn thanh niên, hội phụ nữ là rất cần thiết nhằm tạo ra một hệ sinh thái giáo dục toàn diện, lấy người học làm trung tâm.

Như vậy, kinh nghiệm đầu tiên và có ý nghĩa nền tảng trong giảng dạy học viên quốc tế chính là xây dựng được một môi trường học tập tích cực, phù hợp với đặc điểm của họ. Đây là tiền đề để triển khai hiệu quả các phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá và các nội dung hỗ trợ khác trong toàn bộ quá trình đào tạo.

Hai là, giảng dạy tiếng Việt và hỗ trợ ngôn ngữ trong học tập

Ngôn ngữ là cầu nối thiết yếu giữa người dạy và người học, giữa tri thức và thực tiễn. Đối với học viên quốc tế, đặc biệt là học viên đến từ các quốc gia sử dụng hệ ngôn ngữ khác biệt như Lào và Campuchia, tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ then chốt để tiếp cận tri thức quân sự, hiểu rõ nội dung huấn luyện và hòa nhập môi trường học tập tại Việt Nam. Tuy nhiên, không ít học viên quốc tế gặp trở ngại lớn về tiếng Việt do xuất phát điểm thấp, thời gian học ngắn, phương pháp học chưa phù hợp. Do đó, hỗ trợ ngôn ngữ hiệu quả là một nội dung có tính quyết định đến kết quả đào tạo.

Trước hết, việc tổ chức các lớp học tiếng Việt dành riêng cho học viên quốc tế là cần thiết và cấp thiết. Các lớp học này không chỉ trang bị từ vựng cơ bản, ngữ pháp, cấu trúc câu mà còn cần tập trung vào tiếng Việt chuyên ngành quân sự. Nội dung cần lồng ghép các tình huống giao tiếp thường gặp trong môi trường quân đội, giúp học viên sử dụng thành thạo ngôn ngữ trong huấn luyện, học tập và sinh hoạt thường nhật. Đội ngũ giảng viên tiếng Việt cho học viên quốc tế cần có năng lực sư phạm chuyên sâu, hiểu rõ đặc điểm ngôn ngữ của học viên và kiên nhẫn trong quá trình giảng dạy.

Thứ hai, trong quá trình giảng dạy chuyên ngành, các giảng viên cần tích cực hỗ trợ ngôn ngữ bằng nhiều hình thức linh hoạt. Việc sử dụng hệ thống thuật ngữ song ngữ (tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ của học viên), bảng từ vựng chú giải, mô hình trực quan, tranh ảnh minh họa sẽ giúp học viên dễ hiểu, dễ ghi nhớ hơn. Giảng viên nên phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ sư phạm đơn giản, dễ tiếp cận, tránh lối diễn đạt phức tạp, trừu tượng. Với các bài giảng khó, có thể chuẩn bị đề cương song ngữ hoặc phiên dịch từ khóa trọng tâm, kết hợp với phương pháp trình bày chậm rãi, lặp lại hợp lý.

Thứ ba, cần phát huy vai trò của học viên Việt Nam trong hỗ trợ bạn học quốc tế về ngôn ngữ. Việc tổ chức các nhóm học tập ghép đôi, phân công học viên kèm cặp, giải thích lại bằng ngôn ngữ đơn giản, giúp dịch thuật tài liệu hoặc giải đáp những khúc mắc trong giờ học là rất thiết thực. Hoạt động này vừa thúc đẩy giao tiếp, rèn luyện kỹ năng tiếng Việt cho học viên quốc tế, vừa nâng cao năng lực tổ chức học tập cộng tác cho học viên Việt Nam.

Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ tiếng Việt, thi tìm hiểu văn hóa Việt Nam, sinh hoạt chuyên đề về từ vựng quân sự - chính trị cũng có tác dụng tích cực trong việc mở rộng vốn từ và tăng cường khả năng sử dụng tiếng Việt của học viên quốc tế. Môi trường giao tiếp tiếng Việt thường xuyên, sinh động sẽ giúp học viên không chỉ học tiếng mà còn yêu tiếng Việt.

Tóm lại, hỗ trợ ngôn ngữ không chỉ là vấn đề kỹ thuật dạy học mà còn là biểu hiện của sự đồng hành, sẻ chia. Kinh nghiệm này đòi hỏi sự kiên trì, sáng tạo và phối hợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng trong nhà trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để học viên quốc tế vượt qua rào cản ngôn ngữ, lĩnh hội tốt kiến thức chuyên môn và hòa nhập toàn diện với môi trường học tập Quân đội Việt Nam.

Ba là, kết hợp giáo dục kiến thức quân sự với giáo dục văn hóa, chính trị

Giảng dạy học viên quốc tế trong các nhà trường Quân đội không chỉ nhằm trang bị tri thức quân sự chuyên ngành mà còn hướng tới việc góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội chính quy, hiện đại và có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng cho các quốc gia bạn. Trong đó, việc kết hợp giữa giáo dục chuyên môn quân sự với giáo dục văn hóa, chính trị phù hợp với đặc điểm quốc gia, trình độ và nhu cầu đào tạo của từng đối tượng học viên là một trong những kinh nghiệm then chốt, có ý nghĩa chiến lược trong nâng cao chất lượng đào tạo. Từ thực tiễn giảng dạy tại các nhà trường Quân đội Việt Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

Quảng cáo

Thứ nhất, xác định rõ yêu cầu, mục tiêu của việc tích hợp nội dung giáo dục chính trị, văn hóa trong quá trình giảng dạy chuyên môn quân sự. Học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội Việt Nam đến từ nhiều quốc gia có chế độ chính trị, tôn giáo, văn hóa khác nhau. Vì vậy, việc giáo dục chính trị không thể theo lối áp đặt, đơn tuyến mà cần có sự linh hoạt, dựa trên nền tảng tôn trọng đặc điểm chính trị - xã hội, phong tục tập quán của nước bạn. Các nhà trường cần xác định nội dung, phạm vi và mức độ lồng ghép sao cho vừa thể hiện tính nguyên tắc, vừa đảm bảo tính thuyết phục và khả năng tiếp nhận của học viên. Trong đó, việc nhấn mạnh các giá trị phổ quát như hòa bình, hợp tác, đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần độc lập dân tộc, ý thức kỷ luật, đạo đức quân nhân... là những điểm phù hợp với hầu hết hệ giá trị của quân đội các nước.

Thứ hai, xây dựng nội dung và chương trình giảng dạy theo hướng tích hợp mềm giữa các yếu tố chính trị, văn hóa với nội dung học tập quân sự. Thực tiễn giảng dạy cho thấy, nếu nội dung chính trị, tư tưởng được lồng ghép một cách hợp lý trong các tình huống học tập, huấn luyện thực hành thì sẽ giúp học viên tiếp thu tự nhiên, sinh động và hiệu quả hơn. Ví dụ, trong khi giảng dạy các môn về chiến thuật, bắn pháo, công tác hậu cần hay điều lệnh, giảng viên có thể khéo léo dẫn dắt các nội dung về tinh thần chiến đấu kiên cường của Quân đội nhân dân Việt Nam, bài học lịch sử trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, hay phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Những nội dung này vừa nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng, vừa tạo động lực học tập cho học viên quốc tế.

Thứ ba, chú trọng hình thức tổ chức dạy học và phương pháp sư phạm. Việc lồng ghép nội dung chính trị, văn hóa trong giảng dạy đòi hỏi giảng viên không chỉ có kiến thức chuyên môn vững chắc mà còn cần khả năng sư phạm tinh tế. Những hình thức dạy học tích cực như học theo nhóm, thảo luận tình huống, kể chuyện lịch sử, sử dụng tranh ảnh, video minh họa... sẽ giúp học viên dễ dàng tiếp cận, đồng thời tạo không khí học tập thoải mái, thân thiện. Ngoài ra, giảng viên cần chủ động lắng nghe phản hồi từ học viên để điều chỉnh nội dung, cách thức truyền đạt cho phù hợp, đặc biệt là những học viên có hạn chế về ngôn ngữ hoặc khác biệt lớn về tư duy.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong giảng đường và trong môi trường sinh hoạt, huấn luyện. Môi trường quân sự là môi trường giáo dục toàn diện, trong đó mọi hoạt động đều mang tính sư phạm. Vì vậy, việc xây dựng nền nếp chính quy, kỷ luật, tác phong quân nhân, quan hệ đồng chí, tình bạn quốc tế cũng là phương tiện quan trọng để giáo dục học viên quốc tế về các giá trị văn hóa, chính trị phù hợp. Các nhà trường cần tổ chức tốt các buổi sinh hoạt chính trị tư tưởng, tọa đàm, hội thi tìm hiểu truyền thống, xem phim tư liệu cách mạng... với nội dung, hình thức phù hợp, hấp dẫn và có tính lan tỏa.

Thứ năm, phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên chủ nhiệm, cán bộ quản lý học viên quốc tế trong việc giáo dục văn hóa, chính trị. Đây là lực lượng trực tiếp gắn bó với học viên, am hiểu hoàn cảnh, tâm lý, năng lực từng học viên, do đó có vai trò quan trọng trong hướng dẫn, định hướng nhận thức và hành vi của học viên. Các nhà trường cần tạo điều kiện để đội ngũ này thường xuyên cập nhật kiến thức về văn hóa, chính trị của các quốc gia bạn, qua đó tăng cường năng lực giao tiếp liên văn hóa, nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học viên.

Tóm lại, kinh nghiệm kết hợp giáo dục chính trị, văn hóa với nội dung giảng dạy quân sự không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo nền tảng tư tưởng, bản lĩnh cho học viên quốc tế sau khi tốt nghiệp. Trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng và đặc thù của từng đối tượng, việc tích hợp linh hoạt, hiệu quả các nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị, văn hóa sẽ làm phong phú hơn môi trường đào tạo, góp phần bồi dưỡng những cán bộ quân sự quốc tế có năng lực, phẩm chất tốt và tình cảm gắn bó sâu sắc với Việt Nam.

Bốn là, tăng cường hoạt động ngoại khóa và giao lưu văn hóa, quân sự

Trong môi trường đào tạo học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội, việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa và chương trình giao lưu văn hóa, quân sự đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục, góp phần hình thành bản lĩnh, phẩm chất chính trị và tăng cường sự gắn kết giữa học viên các nước. Những hoạt động này không chỉ giúp học viên quốc tế hòa nhập nhanh chóng với môi trường học tập, sinh hoạt, mà còn thúc đẩy quá trình hiểu biết lẫn nhau, xây dựng tinh thần đoàn kết, hữu nghị quốc tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu “dạy tốt, học tốt, sống có kỷ luật” trong các nhà trường Quân đội.

Thứ nhất, các hoạt động ngoại khóa đóng vai trò là cầu nối bổ trợ cho quá trình học tập chính khóa, giúp học viên rèn luyện thể lực, tinh thần, khả năng giao tiếp và kỹ năng sống. Tổ chức các hoạt động thể thao, tham quan di tích lịch sử - văn hóa, giao lưu với địa phương, thăm đơn vị chiến đấu là những hình thức được áp dụng thường xuyên. Qua đó, học viên quốc tế không chỉ có thêm trải nghiệm thực tế mà còn được tiếp cận sinh động với môi trường văn hóa - xã hội - quân sự Việt Nam. Nhiều nhà trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa gắn với các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, các phong trào thi đua, đồng thời có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện văn hóa, tôn giáo, phong tục của học viên quốc tế. Việc đa dạng hóa các loại hình ngoại khóa có định hướng đã giúp học viên chủ động, tích cực tham gia và phát triển toàn diện hơn trong môi trường quân sự.

Thứ hai, việc tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa – quân sự giữa học viên Việt Nam và học viên quốc tế tạo ra một không gian tương tác đa chiều, trong đó giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa và những nét đẹp trong lối sống quân nhân được trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Trong giao lưu, học viên quốc tế được khích lệ tham gia các tiết mục văn nghệ dân tộc, biểu diễn võ thuật, trình diễn trang phục truyền thống, tổ chức thi tìm hiểu văn hóa - lịch sử Việt Nam. Ngược lại, học viên Việt Nam cũng có cơ hội tìm hiểu thêm về phong tục, văn hóa, lối sống quân đội của các nước bạn. Những hoạt động này đã làm tăng mức độ đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau, hạn chế tình trạng mặc cảm, tự ti, giúp học viên quốc tế cảm nhận sâu sắc tình cảm chân thành, thân thiện của Quân đội và nhân dân Việt Nam.

Thứ ba, cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa các hoạt động ngoại khóa và chương trình giáo dục chính trị - tư tưởng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện. Khi tổ chức cho học viên quốc tế tham gia hoạt động “về nguồn”, sinh hoạt chính trị, tọa đàm, hội thảo chuyên đề về chủ quyền quốc gia, truyền thống quân đội, cần có sự chuẩn bị kỹ về nội dung, cách thức truyền tải phù hợp với khả năng tiếp nhận của người học. Những trải nghiệm này giúp học viên quốc tế hiểu sâu hơn về lịch sử cách mạng Việt Nam, lý tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó củng cố niềm tin và tình cảm đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Việc này còn góp phần truyền tải hình ảnh đất nước, con người và quân đội Việt Nam đến với bạn bè quốc tế một cách sinh động, trực quan và sâu sắc.

Thứ tư, để các hoạt động ngoại khóa, giao lưu văn hóa phát huy hiệu quả, cần có sự chỉ đạo thống nhất từ cấp nhà trường, sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý, cơ quan chính trị, cơ sở đào tạo chuyên môn và tổ chức đoàn thể. Cần có đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên có hiểu biết về văn hóa các nước, có khả năng tổ chức hoạt động sáng tạo, linh hoạt, giàu tinh thần trách nhiệm và chủ động. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nội bộ, tăng cường giáo dục học viên Việt Nam về ý thức tôn trọng sự khác biệt, xây dựng thái độ thân thiện, chia sẻ, giúp đỡ bạn học quốc tế. Việc duy trì cơ chế phản hồi từ học viên quốc tế sau mỗi đợt hoạt động ngoại khóa cũng là cách làm hiệu quả nhằm điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch tổ chức trong tương lai.

3. Kết luận

Tăng cường hoạt động ngoại khóa và giao lưu văn hóa - quân sự là một trong những kinh nghiệm quan trọng, thiết thực và giàu giá trị trong giảng dạy học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội. Thông qua các hoạt động này, học viên quốc tế không chỉ được bổ sung tri thức, kỹ năng mềm mà còn được bồi dưỡng tình cảm gắn bó với đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần vun đắp mối quan hệ hữu nghị quốc tế trong tình hình mới.

Giảng dạy học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng, thể hiện sinh động chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quân sự. Tuy nhiên, do sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, tư duy và phương pháp học tập nên quá trình giảng dạy đối tượng này đòi hỏi phải có những kinh nghiệm đặc thù, cách tiếp cận linh hoạt và phương pháp sư phạm phù hợp.

Từ thực tiễn giảng dạy, có thể rút ra một số kinh nghiệm quý báu như: tạo dựng môi trường học tập thân thiện và phù hợp; chú trọng giảng dạy tiếng Việt và hỗ trợ ngôn ngữ trong quá trình học tập; kết hợp linh hoạt giữa giảng dạy kiến thức quân sự với giáo dục văn hóa - chính trị phù hợp đặc điểm đối tượng; tăng cường hoạt động ngoại khóa và giao lưu văn hóa, quân sự. Những kinh nghiệm này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo học viên quốc tế, mà còn tạo dựng niềm tin, sự gắn bó của họ với Việt Nam nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc nâng cao chất lượng đào tạo học viên quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Vì vậy, mỗi cán bộ, giảng viên cần không ngừng nghiên cứu, đổi mới và chia sẻ kinh nghiệm để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ mới./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Quốc phòng (2020), Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, Nxb Quân đội nhân dân.

[2]. Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu (2022), Hướng dẫn công tác đào tạo học viên quốc tế tại các nhà trường Quân đội, văn bản nghiệp vụ.

[3]. Lê Quang Thiều (2021), “Đào tạo học viên quốc tế trong các học viện, nhà trường Quân đội - thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 125.

[4]. Trần Văn Bình (2023), “Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học viên quốc tế tại học viện Quân sự”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 2.

[5]. Nguyễn Hữu Thành (2020), Giáo dục quốc phòng và an ninh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

SOME EXPERIENCES IN TEACHING INTERNATIONAL STUDENTS IN MILITARY TRAINING INSTITUTIONS

Abstract: Training international students in military schools is a particularly important political task that contributes to strengthening defense relations between Vietnam and its traditional friendly countries. This article analyzes some practical experiences in teaching international students, from creating a learning environment, providing language support, integrating culture and politics, to organizing extracurricular activities. This serves as an important foundation for schools to continue improving the quality of training for this group during a time of deep international integration.

Keywords: Teaching international students; military school; practical experience

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hĩa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm cơng bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.