PGS.TS Trần Đình Tuấn -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số toàn cầu, giáo dục đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc về mục tiêu, nội dung, phương pháp và mô hình tổ chức. Những biến đổi này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xác định và xây dựng triết lý giáo dục phù hợp với thời đại số – nhằm đảm bảo hài hòa giữa giá trị nhân văn và năng lực thích ứng công nghệ. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, các yếu tố tác động, và đề xuất các nguyên tắc và nội dung cốt lõi của triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số. Qua đó, bài viết khẳng định vai trò của triết lý giáo dục như nền tảng tư tưởng cho đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Triết lý giáo dục, thời đại số, chuyển đổi số giáo dục, nhân văn số, học tập suốt đời.
1. Mở đầu
Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), và dữ liệu lớn (Big Data) đang làm thay đổi căn bản mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục. Sự chuyển đổi từ “giáo dục truyền thống” sang “giáo dục thông minh” không chỉ là sự thay đổi về phương tiện dạy học mà còn là biến chuyển sâu sắc về triết lý – tức là cách chúng ta quan niệm về mục tiêu, vai trò và bản chất của giáo dục.
Trong bối cảnh ấy, việc nghiên cứu và xác định triết lý giáo dục trong thời đại số là yêu cầu mang tính chiến lược, nhằm định hướng cho sự phát triển bền vững của nền giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXI.

PGS.TS Trần Đình Tuấn - Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1. Khái niệm triết lý giáo dục
Triết lý giáo dục là hệ thống những quan điểm mang tính định hướng, phản ánh mục tiêu, giá trị và phương pháp cơ bản của hoạt động giáo dục. Nó trả lời cho những câu hỏi cốt lõi: Giáo dục để làm gì? Dạy cái gì? Dạy như thế nào và cho ai?
Để trả lời cho những câu hỏi trên đây, V.I. Lênin đã từng khẳng định rằng, “Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị và tư tưởng của các bài giảng” [7, tr.248]. Theo đó, triết lý giáo dục là hướng vào thực hiện đường lối chính trị của chế độ xã hội.
Theo Hồ Chí Minh: “Học để làm việc, làm người. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì phải Cần – Kiệm – Liêm – Chính…” [6, tr.208].
Năm 1996, UNESCO nêu triết lý “Học” cho toàn thế giới với thông điệp: “Học để biết; Học để làm; Học để chung sống với nhau; Học để làm người”. Cũng theo UNESCO (2021), triết lý giáo dục hiện đại cần hướng tới việc “tái kiến tạo mối quan hệ giữa con người, tri thức và xã hội” – đặt trọng tâm vào con người, tính nhân văn và học tập suốt đời.
Đó là những quan điểm mang tính triết lý về giáo dục. Có thể nói rằng, triết lý giáo dục đóng vai trò như la bàn tư tưởng cho toàn bộ hoạt động giáo dục, đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu nhân văn và yêu cầu phát triển xã hội.
2.2. Tác động của thời đại số đến giáo dục
Thời đại số làm cho các nền giáo dục của các quốc gia phải thâm nhập vào nhau, cùng thực hiện những mục tiêu chung của nhân loại. Trong đó có cả các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, nền văn hóa dân tộc khác nhau. Mặt khác, thị trường lao động trong thời đại số có những đòi hỏi chung đối với mọi quốc gia. Điều đó đặt ra những yêu cầu chung cho các nền giáo dục của các quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo công dân toàn cầu. Quá trình phát triển của thời đại số đang đặt ra mâu thuẫn mới trong lĩnh vực giáo dục. Đó là mâu thuẫn giữa một bên phải giữ vững đặc trưng bản sắc của nền văn hóa dân tộc với sự hội nhập quốc tế, hình thành nền văn hóa cộng đồng mang tính thời đại ngày càng sâu rộng. Mâu thuẫn giữa yêu cầu đảm bảo xu hướng chính trị, tư tưởng của các chương trình giáo dục của các chế độ xã hội khác nhau với một bên là những yêu cầu chung của thời đại.
Thời đại số tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc và phương thức giáo dục. Người học trở nên chủ động, tự định hướng và có khả năng học mọi nơi, mọi lúc. Người dạy chuyển từ vai trò “truyền đạt tri thức” sang “người hướng dẫn – thiết kế trải nghiệm học tập”. Quá trình dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực; từ học trong lớp sang học trực tuyến, học kết hợp. Quản lý giáo dục được thực hiện trên nền tảng dữ liệu, công nghệ và các hệ thống quản trị thông minh.
Những thay đổi này đặt ra yêu cầu về một triết lý giáo dục mới, phù hợp với bản chất của xã hội số và năng lực công dân toàn cầu.
3. Định hướng xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số
3.1. Nguyên tắc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số phải được kế thừa từ Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục. Đây là nguyên tắc đảm bảo về xu hướng chính trị, tư tưởng của giáo dục trong kỷ nguyên mới. Bản chất của triết lý giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên số là xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam trong bối cảnh mới. Đó là bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế và sự tác động mạnh mẽ của cuộc các mạng công nghiệp 4.0. Giáo dục Việt Nam muốn phát triển được thì quá trình đổi mới giáo dục phải đứng vững trên một cơ sở phương pháp luận nhất quán, mục tiêu phát triển giáo dục phải thống nhất với mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới..
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số phải giữ vững, phát huy những giá trị nhân văn, hiếu học, lấy đức làm gốc của dân tộc Việt Nam trong lịch sử. Đây là nguyên tắc đảm bảo cho sự phát triển bền vững của giáo dục trong bối cảnh hội nhập và biến đổi không ngừng của kỷ nguyên số.
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số phải giữ vững nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”. Đây là nguyên tắc chỉ đạo tổ chức hoạt động giáo dục đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số phải vừa phát huy bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại và thích ứng với nền kinh tế tri thức. Đây là nguyên tắc đảm bảo tính dân tộc, tính thời đại và tính khoa học của giáo dục.
3.2. Định hướng những nội dung cốt lõi của triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số
3.2.1. Dân tộc và thời đại - Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
Triết lý này chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa tính dân tộc với tính thời đại của giáo dục trong thời đại số. Theo đó, đổi mới phát triển giáo dục trong thời đại số là phải tiếp tục xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu của thời đại. Thực tiễn cho thấy, quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế và sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm cho sự vận động, phát triển của xã hội có những biến động ngày càng nhanh, càng phức tạp, đa chiều, có những tác động tạo nên thách thức khó lường trước. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi quá trình đổi mới giáo dục phải đứng vững trên quan điểm phương pháp luận nhất quán để ứng phó với mọi sự biến đổi mau lẹ của các yếu tố khách quan. Thực hiện quan điểm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong lĩnh vực giáo dục. Cái bất biến ở đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, cái vạn biến là sự vận động, phát triển và biến đổi không ngừng của bối cảnh mới. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là xây dựng nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc.
Nền giáo dục được xây dựng trên cơ sở của những giá trị văn hóa, đạo đức, nhân văn của con người Việt Nam.
Nền giáo dục hướng vào đào tạo, phát triển hoàn toàn người học theo chuẩn mực giá trị của con người việt Nam phù hợp với chuẩn mực giá trị thời đại trong bối cảnh mới.
Nền giáo dục phải hướng vào thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
3.2.2. Phát triển giáo dục - Phát triển xã hội - Lấy con người làm trung tâm.
Triết lý này chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục với phát triển xã hội và phát triển con người. Mục tiêu của phát triển giáo dục là phát triển hoàn toàn con người. Mục tiêu của phát triển xã hội, xét đến cùng cũng là nhằm đảm bảo cho sự phát triển toàn diện con người. Phát triển giáo dục và phát triển xã hội cùng có mục tiêu chung vì con người. Con người là trung tâm của sự phát triển giáo dục và phát triển xã hội. Con người vừa là đối tượng được hưởng thụ thành quả của sự phát triển vừa là chủ thể tích cực của sự phát triển đó. Sự phát triển giáo dục, phát triển xã hội, phát triển con người phải tương thích với nhau, tương tác qua lại lẫn nhau cùng phát triển. C.Mac đã nói: Con người tạo ra hoàn cảnh trong chừng mực nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người trong hoàn cảnh đó. Giáo dục vì con người, vì sự phát triển toàn diện và hạnh phúc của mỗi cá nhân, đồng thời phục vụ sự phát triển bền vững của quốc gia.
Phát triển giáo dục là điều kiện để phát triển con người. Một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại mang đậm bản sắc dân tộc sẽ là cơ sở cho sự phát triển hoàn toàn những phẩm chất, năng lực cá nhân của người học theo chuẩn mực giá trị của xã hội.
Phát triển con người là điều kiện để phát triển xã hội. Xã hội muốn phát triển phải có nguồn nhân lực lao động chất lượng cao. Đó là con người được giáo dục, đào tạo, có phẩm chất đạo đức, ý chí quyết tâm, tinh thần, nghị lực vượt khó, vượt khổ, tìm tòi sáng tạo trong công việc; có kiến thức và trình độ năng lực làm chủ khoa học, công nghệ trong kỷ nguyên số; có sức khỏe và các phẩm chất nhân cách hài hòa để biết sống cùng nhau trong bối cảnh hội nhập.
Phát triển xã hội là điều kiện để phát triển giáo dục và phát triển con người. Xã hội phát triển đến đâu thì giáo dục và con người cũng phát triển tương đương đến đó. Giáo dục có thể đi trước, đón đầu sự phát triển của xã hội nhưng không thể vượt ra ngoài tầm phát triển của xã hội.
3.2.3. Học tập suốt đời – Học mọi nơi, mọi lúc – Học để tồn tại và phát triển
Thời đại số mở ra cơ hội cho con người có thể học tập suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi, người học có thể tự thiết kế hành trình học của mình. Mặt khác, thời đại số đặt ra yêu cầu bắt buộc con người phải học tập suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi. Đây vừa là phương thức học tập để không bị tụt hậu lại phía sau vừa là điều kiện để thích ứng với sự vận động, phát triển biến đổi nhanh chóng của xã hội. Nếu ngừng học hỏi, sẽ bị bỏ lại phía sau. Học tập liên tục là yêu cầu tất yếu để cập nhật kỹ năng, kiến thức mới, thích ứng mọi hoàn cảnh. Giúp cá nhân tự chủ, biến đổi bản thân, tạo ra những đóng góp tích cực cho xã hội.
Triết lý này khẳng định: Mỗi công dân là chủ thể học tập suốt đời của chính mình, nhà trường là nơi khơi dậy năng lực tự học và sáng tạo.
Giáo dục trong thời đại số cần xây dựng xã hội học tập số, với hệ sinh thái học tập trực tuyến, kho học liệu mở và công cụ hỗ trợ cá nhân hóa việc học.
Mỗi cá nhân có thể tự lựa chọn cho mình những nội dung và phương thức học tập phù hợp với khả năng và điều kiện riêng của mình.
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số không chỉ hướng tới học để biết mà còn học để làm, học để phát triển, học để cống hiến và học để biết cách chung sống với người khác.
Giáo dục cần gắn với thị trường lao động số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, doanh nghiệp, cộng đồng và nhu cầu phát triển đất nước.
Triết lý: “Giáo dục là động lực của sáng tạo và phát triển xã hội tri thức.”
3.2.4. Phát triển công nghệ số - Giữ vững tính nhân văn - Giữ vững xu hướng chính trị, tư tưởng của giáo dục.
Trong khi công nghệ số đang trở thành công cụ không thể thiếu, triết lý giáo dục cần cảnh báo nguy cơ lệ thuộc và mất nhân tính, phai nhạt lý tưởng sống của học sinh, sinh viên. Giáo dục phải giúp con người làm chủ công nghệ, không bị công nghệ chi phối. Phát triển năng lực số nhân văn, biết sử dụng công nghệ vì lợi ích cộng đồng, đạo đức và trách nhiệm xã hội.
Giữ vững xu hướng chính trị, tư tưởng của giáo dục trong thời đại số là phải nuôi dưỡng lý tưởng sống cho thế hệ trẻ theo định hướng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, nhân dân ấm no, dân chủ, công bằng, văn minh. Lý tưởng đó phải được phổ biến trong không gian mạng xã hội, nền tảng học tập số, cộng đồng trực tuyến, gắn với các từ khóa: khát vọng, sáng tạo, hội nhập, trách nhiệm số, tham gia công dân. Nếu giáo dục lý tưởng chính trị cho học sinh, sinh viên không đi cùng những kênh và ngôn ngữ của thời đại số, nguy cơ tụt hậu của nhà trường so với thời đại số là rất lớn.
Triết lý: “Công nghệ phục vụ con người, giáo dục nuôi dưỡng con người nhân văn, sống có lý tưởng trong thế giới số.”
3.2.5. Phát triển năng lực sáng tạo - Tư duy phản biện – Khả năng thích ứng
Trong thời đại số hóa, tri thức biến đổi không ngừng, khiến năng lực sáng tạo và thích ứng trở thành yếu tố cốt lõi để thành công. Năng lực sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng thích ứng không chỉ giúp cá nhân không bị tụt hậu mà còn tạo động lực phát triển bản thân và đóng góp cho xã hội. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục phải thay đổi để phát triển con người tương thích với sự phát triển của xã hội, có khả năng hòa nhập quốc tế, kết hợp công nghệ và giá trị truyền thống.
Triết lý giáo dục cần hướng đến: Học để tư duy, không chỉ học để ghi nhớ; Học để đổi mới, giải quyết vấn đề thực tiễn; Học để thích ứng với biến đổi liên tục của xã hội và công nghệ.
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ mới đòi hỏi trí tuệ sinh học của con người phải song hành với công nghệ, phát triển tư duy sáng tạo và năng lực số. Các tài liệu nghiên cứu gần đây đều khẳng định rằng giáo dục trong kỷ nguyên số cần tích hợp ba trụ cột: năng lực số (digital skills), tư duy phê phán – truyền thông (media and information literacy) và tham gia công dân (civic engagement).
Để nâng cao năng lực số & sáng tạo, giáo dục cần phải chú trọng phát triển cho người học tư duy phản biện, kỹ năng xã hội, đổi mới sáng tạo, sử dụng công nghệ hiệu quả. Về phương diện quản lý cần có chính sách hỗ trợ giáo viên, kết nối trường học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp để tạo cơ hội thực hành, sáng tạo.
Triết lý: “Giáo dục không chỉ truyền đạt câu trả lời, mà khơi dậy năng lực đặt câu hỏi và kiến tạo tương lai.”
3.2.6. Đảm bảo công bằng, bình đẳng và cơ hội học tập cho mọi người
Trong xã hội số, khoảng cách số (digital divide) có thể tạo ra bất bình đẳng mới. Triết lý giáo dục Việt Nam cần hướng tới công bằng số, đảm bảo mọi người đều có quyền tiếp cận giáo dục chất lượng thông qua: Hạ tầng số toàn dân; Nguồn học liệu mở; Chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, người yếu thế.
Để đảm bảo công bằng, bình đẳng và cơ hội học tập cho mọi người trong thời đại số cần phải tập trung vào các giải pháp chủ yếu như sau:
Đầu tư hạ tầng và công nghệ số: Phát triển hạ tầng giao thông, điện lưới đến vùng sâu, vùng xa, kết hợp với hạ tầng số. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giảng dạy và quản lý giáo dục. Khuyến khích các mô hình giáo dục số, xuyên biên giới và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Hỗ trợ vùng khó khăn & dân tộc thiểu số: Tăng cường xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú, trường chuyên biệt đạt chuẩn quốc gia. Đảm bảo chế độ, chính sách đầy đủ, kịp thời cho học sinh, sinh viên, giáo viên vùng khó khăn. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học, dự bị đại học cho vùng dân tộc thiểu số.
Chính sách đột phá cho đội ngũ giáo viên: Áp dụng phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% (100% cho vùng khó khăn) để giữ chân người tài. Cấp học bổng và hỗ trợ du học, nghiên cứu tại nước ngoài, tăng cường hợp tác quốc tế.
Xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời: Phát triển các chương trình linh hoạt, mở rộng, đảm bảo công bằng cho mọi công dân. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công bằng xã hội trong giáo dục.
Hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư: Khuyến khích liên kết đào tạo với các đại học, doanh nghiệp nước ngoài uy tín. Thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục đại học và nghề nghiệp, mở rộng hợp tác thành lập đơn vị đào tạo chung.
Các giải pháp trên đây nhằm khai phóng tiềm năng dân tộc, tạo sức bật phát triển dựa trên tri thức. Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Những nỗ lực này hướng tới một nền giáo dục công bằng, bình đẳng, nơi công nghệ số trở thành công cụ thu hẹp khoảng cách, trao cơ hội học tập cho mọi người dân Việt Nam.
Triết lý: “Không để ai bị bỏ lại phía sau trong không gian giáo dục số.”
4. Kết luận
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời đại số cần được định hình như một hệ tư tưởng giáo dục mới, vừa kế thừa truyền thống dân tộc, vừa thích ứng với thời đại. Những nội dung cốt lõi cần được quán triệt trong mọi chính sách, chương trình và hoạt động giáo dục, gồm:
- Dân tộc và thời đại.
- Phát triển giáo dục - Phát triển xã hội - Lấy con người làm trung tâm.
- Học tập suốt đời – Học mọi nơi, mọi lúc – Học để tồn tại và phát triển
- Phát triển công nghệ số - Tính nhân văn - Tính tư tưởng của giáo dục.
- Phát triển năng lực sáng tạo - Tư duy phản biện – Khả năng thích ứng
- Đảm bảo công bằng, bình đẳng và cơ hội học tập cho mọi người
Triết lý tổng quát của giáo dục Việt Nam trong thời đại số có thể diễn đạt bằng các từ khóa như sau: “Giáo dục số - dân tộc – thời đại – khoa học - lý tưởng – nhân văn – sáng tạo – suốt đời – vì con người và sự phát triển bền vững.”
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Chiến lược chuyển đổi số ngành Giáo dục và Đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghi quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22/12/2024.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025
[5]. Hồ Chí Minh (1945), “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2002, tr.32
[6]. Hồ Chí Minh (1949), Học để làm việc, làm người, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, tr 208.
[7]. V.I. Lênin: Toàn tập, T.47, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 248.
[8]. Trần Đình Tuấn (2012), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội
[9]. Trần Đình Tuấn (2022), Triết lý giáo dục về người thày giáo Trong dòng chảy văn hóa dân gian Việt Nam. https://tapchigiaochuc.com.vn/triet-ly-giao-duc-ve-nguoi-thay-giao-trong-dong-chay-van-hoa-dan-gian-viet-nam.html.html
[10]. Trần Đình Tuấn (2023), Đề cương Văn hoá Việt Nam với việc xây dựng nền Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc. 12:24 | 20/02/2023, https://tapchigiaochuc.com.vn/de-cuong-van-hoa-viet-nam-voi-viec-xay-dung-nen-giao-duc-xa-hoi-chu-nghia-tien-tien-mang-dam-ban-sac-dan-toc.html
[11]. UNESCO (2021). Reimagining our futures together: A new social contract for education. Paris: UNESCO Publishing.
[12]. OECD (2023). The Future of Education and Skills 2030. OECD Publishing.
Ý kiến bạn đọc