KÝ ỨC SÂU SẮC VỀ MỘT NGƯỜI THẦY NHÀ KHOA HỌC, NHÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

09:07 | 20/02/2026
GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đặt vấn đề: Cách đây không lâu, tôi đã viết bài nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc với tư cách là học trò được thầy dạy dỗ, dìu dắt trong học tập, nghiên cứu khoa học và giảng dạy chuyên sâu về tâm lý học. Bài viết được đăng trong cuốn sách “Phạm Minh Hạc với đồng nghiệp, bầu bạn và học trò”. Trong hội thảo khoa học lần này do Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo

GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn,

Nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Đặt vấn đề: Cách đây không lâu, tôi đã viết bài nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc với tư cách là học trò được thầy dạy dỗ, dìu dắt trong học tập, nghiên cứu khoa học và giảng dạy chuyên sâu về tâm lý học. Bài viết được đăng trong cuốn sách “Phạm Minh Hạc với đồng nghiệp, bầu bạn và học trò”. Trong hội thảo khoa học lần này do Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục phối hợp với Hội Cựu Giáo chức Việt Nam đồng tổ chức, tôi xin phép không tham luận về giá trị khoa học và thực tiễn của các công trình của giáo sư về tâm lý học, giáo dục học, quản lý giáo dục, chỉ nêu lên những ký ức sâu lắng nhất trong tâm thức, trong trải nghiệm mà tôi đã ghi nhận và tiếp tục phát huy.

KÝ ỨC SÂU SẮC VỀ MỘT NGƯỜI THẦY NHÀ KHOA HỌC, NHÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

1. Ký ức về một người thầy

Là một trong những hạt giống quý hiếm đầu tiên về khoa học tâm lý được đào tạo từ Trường Đại học Tổng hợp Matxcơva mang tên Lômônôxốv lừng danh thế giới. Năm 1962, thầy Phạm Minh Hạc nhận công tác tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cùng với đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên ngành tâm lý học giáo dục học, như: giáo sư Nguyễn Lân, các nhà giáo lão thành như: thầy Nguyễn Hữu Tảo, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Đỗ Thị Xuân, Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Hoàng Gia,… chuẩn bị cho sự ra đời của Khoa Tâm lý – Giáo dục đầu tiên của đất nước trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1965.

Chỉ sau một năm thành lập, năm 1966 Khoa đã tổ chức khóa đào tạo chuyên tu ngành tâm lý – giáo dục học, lớp chuyên nghiệp A gồm 50 học viên, là những cán bộ, sinh viên vừa tốt nghiệp Khoa cơ bản của các Trường Đại học Sư phạm ở miền Bắc lúc bấy giờ, nhằm tạo nguồn giảng viên ngành tâm lý giáo dục học cho cả nước, trong đó có tôi.

Thầy Phạm Minh Hạc trực tiếp giảng dạy những môn học rất cơ bản về tâm lý học như: Tâm lý học đại cương; lý luận hoạt động; hoạt động, giao tiếp với sự hình thành và phát triển nhân cách; lịch sử tâm lý học; phương pháp luận khoa học tâm lý.

Sau lớp chuyên nghiệp A tạo nguồn ấy, một số đồng chí được giữ lại làm giảng viên Khoa Tâm lý – Giáo dục thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Dưới sự dìu dắt, giúp đỡ ân tình của các Thầy như: Nguyễn Lân, Trương Anh Tuấn, Phạm Hoàng Gia, Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt và nhiều Thầy Cô giáo khác.

Năm 1968, thầy Phạm Minh Hạc tiếp tục học nghiên cứu sinh tại Liên Xô và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tâm lý học năm 1971 do giáo sư lừng danh A.R.Luria hướng dẫn.

Về nước công tác từ năm 1972, nhưng ngay sau đó, thầy Phạm Minh Hạc lần lượt được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Khoa giáo Trung ương,.. Tuy nhiên, với nhiệt huyết trong sự nghiệp giáo dục, Thầy vẫn tiếp tục tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên ngành tâm lý giáo dục, quản lý giáo dục qua các chuyên đề cao học, nghiên cứu sinh. Điều này góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu, giúp cho việc thắt chặt mối quan hệ giữa Khoa Tâm lý giáo dục học – nơi đào tạo cán bộ, giảng viên chuyên ngành với nhiều cơ sở đào tạo, nhiều cơ sở nghiên cứu khác, góp phần phát huy vai trò đầu tàu, tạo nguồn của Khoa Tâm lý Giáo dục với tư cách khoa sư phạm đầu ngành của một Trường Đại học Sư phạm trọng điểm, chuẩn mực của cả nước.

Năm 1977, thầy Phạm Minh Hạc bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tâm lý về “Hành vi và hoạt động” tại Liên Xô. Cũng trong thời gian này, tôi có may mắn được học nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học Giáo dục Liên Xô và bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ tâm lý học với sự động viên, khích lệ của các thầy cô đang học tập, nghiên cứu tại Matxcơva, trong đó có các thầy Phạm Minh Hạc, thầy Hồ Ngọc Đại, cô Đặng Xuân Hoài.

Thế hệ học trò chúng tôi tự hào về chức danh giáo sư mà thầy Phạm Minh Hạc được Nhà nước phong hàm năm 1984. Sau đó, năm 1999, Thầy được phong Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học chính trị Nga.

2. Ký ức về một nhà khoa học

Là một nhà khoa học thực thụ, giáo sư Phạm Minh Hạc đã chủ nhiệm nhiều chương trình khoa học cấp Bộ, cấp Ngành, cấp Nhà nước. Trong đó, ký ức sâu sắc nhất mà tôi ghi nhớ là hai chương trình khoa học nổi bật và có vinh dự được trực tiếp tham gia nghiên cứu, đó là:

1/Chương trình: “Con người là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế xã hội”, Mã số KX-07, gồm một hệ 29 đề tài khoa học, thu hút hơn 200 nhà khoa học các ngành trong cả nước cùng tham gia. Tiến hành khảo sát 66.165 khách thể thuộc nhiều nhóm lứa tuổi, nhóm dân tộc, các ngành khoa học khác nhau ở 31 tỉnh, thành phố trong cả nước, miền Bắc 13 tỉnh, miền Trung 11 tỉnh, miền Nam 7 tỉnh, kết quả nghiên cứu có nhiều ý nghĩa thực tiễn, khẳng định: con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

2/Chương trình “Phát triển văn hóa xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Mã số KH-XH-04, Tiến hành vào những năm 1996-2000, Chương trình KH-XH-04, gồm 6 đề tài cấp Nhà nước với sự tham gia của 40 nhà khoa học, Chương trình đã tiến hành khảo sát, điều tra, đo đạc trắc nghiệm trên 6.739 khách thể và hồi cứu điều tra trên 35.000 khách thể, thu được nhiều tài liệu phong phú về phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong 2 chương trình trên, bản thân tôi có may mắn được tham gia 2 đề tài.

Chủ nhiệm đề tài KX-07-04 “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội”.

Phó chủ nhiệm đề tài KH.XH-04-03 “Xây dựng lối sống đạo đức và chuẩn mực, giá trị xã hội, môi trường, điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Sau mỗi Chương trình, bản thân tôi nhận thấy có sự trưởng thành thêm, đem trí tuệ, công sức để hoàn thành tốt các đề tài nói trên. Từ các công trình trên, kết quả nghiên cứu được xã hội hoá trên các tạp chí uy tín trong nước. Các đề tài khi nghiệm thu được đánh giá với kết quả và chất lượng tốt.

Trong kho tàng khoa học quý báu của đất nước, giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đã có nhiều đóng góp cả về lý luận và thực tiễn. Cho đến nay, các giá trị đó vẫn tiếp tục phát huy và có ý nghĩa khoa học trường tồn.

Không chỉ tham gia nghiên cứu, ứng dụng thành quả trong đào tạo, triển khai kết quả nghiên cứu các đề tài vào thực tiễn, tôi có may mắn được giáo sư Phạm Minh Hạc chỉ đạo sát sao, nhiệt tâm và có kết quả tích cực. Cũng vì vậy, tôi có điều kiện tổ chức và tham gia một số hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế và trong nước vào những năm 1990-1998 của thế kỷ qua.

Khi là phó chủ tịch Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam 2 nhiệm kỳ do giáo sư Phạm Minh Hạc là Chủ tịch Hội, chúng tôi đã tổ chức có kết quả các hội thảo có tầm cỡ quốc tế ở Việt Nam vào những năm 1996-1997, trong đó đáng kể nhất là 2 hội thảo khoa học:

Hội thảo “Jean Piaget – Nhà tâm lý học vĩ đại thế kỷ XX” nhân kỷ niệm 105 ngày sinh Jean Piaget, tháng 12 năm 1996 tại Hà Nội và tại Thành phố Hồ Chí Minh, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học quốc tế và trong nước có uy tín.

Hội thảo khoa học “L.X.Vưgốtxki – Nhà tâm lý học kiệt xuất thế kỷ XX” tại Hà Nội với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý học quốc tế, trong đó có các nhà khoa học tâm lý Nga và các nhà khoa học của cả nước. Sau đó, hàng năm Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học và đã gây được tiếng vang trong nước, chẳng hạn:

Hội thảo “Tâm lý học – Giáo dục học trong thời kỳ đổi mới” tháng 12 năm 2006.

Quảng cáo

Hội thảo “Văn hóa học đường, lý luận và thực tiễn”, tháng ba, năm 2009.

Hội thảo “Động cơ học tập của người học và trách nhiệm của người dạy, thực trạng và giải pháp” tháng 7 năm 2015.

Hội thảo “Tâm lý học giáo dục học với việc thực hiện Nghị quyết 29-NQTƯ của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” tháng 12 năm 2016.

Và còn nhiều hội thảo khoa học khác.

3. Ký ức về một nhà quản lý giáo dục

Với cương vị là người thầy, nhà giáo, nhà khoa học mẫu mực, thầy Phạm Minh Hạc đã đảm nhiệm 3 nhiệm kỳ là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII từ năm 1986-2001, 2 nhiệm kỳ là đại biểu Quốc hội các khoá VII và VIII từ năm 1981-1991, từng là Phó Chủ tịch và Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương.

Bên cạnh đó, Thầy còn đảm nhiệm trọng trách là Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phó Ban khoa giáo Trung ương. Giáo sư Phạm Minh Hạc từng là Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước. Tôi có may mắn 2 kỳ là Ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư, Phó giáo sư chuyên ngành Tâm lý – Giáo dục học. Bản thân tôi được phong hàm phó giáo sư tâm lý học vào năm 1991 và giáo sư năm 2001 với sự quan tâm ân cần, chu đáo của người thầy kính yêu, giáo sư Phạm Minh Hạc.

Là nhà khoa học, nhà quản lý trên nhiều cương vị khác nhau, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc có công lớn trong việc xây dựng tổ chức các hội khoa học. Năm 1990, Hội khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam ra đời, thầy đã đảm nhiệm chức danh chủ tịch Hội trong nhiều khóa liên tiếp, Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam đã phát huy vai trò tích cực trong việc tư vấn, phản biện nhiều văn bản pháp luật, văn hóa và khoa giáo cho Nhà nước.

Trên cơ sở Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam, nhiều phân hội tâm lý giáo dục được thành lập, hoạt động có kết quả ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước và trong các bộ như: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và nhiều bộ khác.

Tôi có may mắn là một trong các Phó Chủ tịch Hội Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, và là Chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục của một Trường Đại học Sư phạm trọng điểm, được tham gia vào nghiên cứu, điều tra dư luận xã hội của các tầng lớp nhân dân trong cả nước về các cơ quan dân cử, phục vụ trực tiếp các kỳ họp của Quốc hội các khóa VIII, IX, tôi đã nhiều lần xin ý kiến chỉ đạo của giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đáng kính - Nhà quản lý đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau lúc bấy giờ về một số vấn đề mà tôi đã phát biểu ý kiến với các đồng chí lãnh đạo Văn phòng Quốc hội, các cơ quan chuyên môn của Quốc hội.

Trong bài viết này, tôi chỉ nêu lên một vài thông tin về việc trao đổi, góp ý về một số vấn đề trước đây chúng tôi đã nêu lên với Văn phòng Quốc hội.

3.1. Khi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của nhân dân các dân tộc ít người ở huyện Na Rỳ, tỉnh Bắc Kạn, nhiều người dân tộc Tày nêu ý kiến: cấp trên không nên gọi chúng tôi là dân tộc thiểu số, người thiểu số, nên gọi chúng tôi là dân tộc ít người. Bởi lâu nay, Đảng và Nhà nước Chủ trương thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương. Do vậy, chúng tôi, những người dân tộc thiểu số có những thiệt thòi so với dân tộc đa số về nhiều quyền lợi trong chính trị cũng như các quyền lợi xã hội. Vì vậy, Quốc hội nên gọi chúng tôi là dân tộc ít người, không nên gọi là dân tộc thiểu số. Chúng tôi đã báo cáo ý kiến này với Văn phòng Quốc hội ngay từ Quốc hội khóa VIII.

3.2. Khi thảo luận về Luật Giáo dục sửa đổi, chúng tôi đã nêu lên một số ý kiến sau: Ban đầu chúng ta có 2 bộ, Bộ Giáo dục, quản lý các bậc học, cấp học từ mầm non đến đại học sư phạm; Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, quản lý các loại trường, các cơ sở đào tạo từ trung học, cao đẳng chuyên nghiệp, dạy nghề đến các trường đại học đa ngành, chuyên ngành. Sau đó chúng ta nhập 2 Bộ thành Bộ Giáo dục và Đào tạo như hiện nay. Thực ra, trong giáo dục không chỉ nâng cao dân trí mà còn có đào tạo nhân lực, đào tạo nhân tài, không nên chỉ dùng từ bồi dưỡng, nhân tài, không nên chỉ có Luật Giáo dục mà phải nói tới Luật Giáo dục và Đào tạo.

Trong Luật Giáo dục có nói tới tổ chức “Hội phụ huynh học sinh”, thực ra không nên gọi là “Hội phụ huynh” mà chỉ nên gọi là “Ban đại diện gia đình học sinh” trong mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Lâu nay, trong dân gian và trong quản lý vẫn chịu ảnh hưởng của chế độ phụ hệ, quyền huynh thế phụ, chỉ nói tới cha anh bỏ qua người mẹ, trọng nam khinh nữ, như: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, vì quan niệm như vậy nên đã gán lỗi cho người phụ nữ: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Theo chúng tôi, có thể “Con hư tại cả mẹ cha, cháu hư, hư tại cả tại bà lẫn ông, tại xã hội, cộng đồng còn nhiều thói hư”. Mặt khác, nếu được gọi là Hội, điều này đồng nghĩa với việc hội phải có Cương lĩnh, phải có Điều lệ. Trong thực tế, hội phụ huynh không có Cương lĩnh, cũng không có Điều lệ hoạt động. Do đó, nên bỏ cách gọi hội phụ huynh trong văn bản Luật Giáo dục và cả trong thực tiễn lâu nay vẫn đang sử dụng.

Theo chúng tôi, nên chuyển Bộ Giáo dục và Đào tạo như lâu nay trở lại thành Bộ Giáo dục, vì trong giáo dục có đào tạo.

Trước đây, Quốc hội và Nhà nước đã nói tới Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an,... Sau đó, trong việc đổi mới cơ cấu tổ chức của các cơ quan bộ, đã có lúc chúng ta quy gán chưa chính xác, chưa hợp lý tên một số bộ, chẳng hạn: Bộ Công an gọi là Bộ Nội vụ. Thực, ra Bộ Nội vụ phụ trách các vấn đề nội chính, khác với Bộ Ngoại giao (ngoại vụ) để thu gọn đầu mối, nhằm giảm bớt cán bộ quản lý, các cơ quan chức năng và nhân viên, chúng ta đã gộp một số bộ thành bộ mới có quy mô, chức năng, trọng trách ôm đồm chưa hợp lý, chẳng hạn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công thương gồm công nghiệp và thương nghiệp.

Chúng tôi cho rằng, công thương phụ trách những vấn đề thương mại có tính công ở tầm quốc tế, khu vực, quốc gia, còn tư thương là thương mại có tính gia đình, cá nhân. Nếu có Bộ Công thương phụ trách các lĩnh vực gồm công nghiệp và thương nghiệp thì tại sao nhiều lĩnh vực khác như nông nghiệp không có nông thương, lâm nghiệp không có lâm thương, ngư nghiệp không có ngư thương, thủ công nghiệp không có thủ công nghiệp thương?

Trên thực tế có thể tồn tại một số bộ ghép như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường,… có thể có sự hợp lý nhất định cả về hình thức và nội dung.

Trong việc thu gọn đầu mối tinh giản cơ cấu tổ chức và biên chế, số lượng nhân viên được tổ chức theo hướng hợp lý hóa, tối ưu hoá, hiện đại hoá cần tiến hành công việc toàn diện hơn. Không nên vì mục tiêu thu gọn, giảm biên chế mà làm vội và làm thiếu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Chưa chú ý đầy đủ, sâu sắc, hợp lý, nguồn cội lịch sử, văn hóa, truyền thống, nghề nghiệp,… của các bộ phận được ghép lại với nhau thành một tổ chức có tên mới. Chẳng hạn như, việc sắp xếp lại các thôn, xã, phường đang triển khai mạnh mẽ trong bối cảnh hiện tại.

3.3. Nói về “chí công vô tư”. Trong Báo cáo tổng kết nghiệm thu đề tài KX-07-04 “Đặc trưng xu thế phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế-xã hội”, chúng tôi là chủ nhiệm thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước KX-07, từ kết quả nghiên cứu chúng tôi nêu lên một số ý nói lên sự biến đổi về định hướng giá trị ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ qua:

Giá trị lợi ích cá nhân và gia đình trội hơn giá trị lợi ích tập thể và xã hội.

Giá trị kinh tế trội hội hơn giá trị tinh thần.

Giá trị lợi ích trước mắt trội hơn lợi ích lâu dài.

Giá trị hiện đại lấn át giá trị truyền thống.

Từ đó, chúng tôi nêu lên một số quan niệm về “chí công vô tư” như sau:

Trong tác phẩm Đường Kách mệnh viết năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên 23 Điều tư cách người Kách mệnh, thể hiện qua 3 mối quan hệ: Với bản thân qua 14 Điều, với người khác 5 Điều và với công việc 4 Điều. Trong 14 Điều với bản thân, Nguyễn Ái Quốc có nêu lên vị công vong tư – có nghĩa là vì cái chung mà bớt đi, làm giảm đi cái riêng không phù hợp, không phải là chỉ vì cái chung mà bỏ hẳn cái riêng. Triết học duy vật biện chứng đã khẳng định cái riêng, cái bộ phận nằm trong cái chung, cái toàn thể, cái chung phải chú ý tới cái riêng, cái bộ phận, vì thế nên dùng quan niệm vị công vong tư đầy đủ hơn, đúng hơn so với chí công vô tư.

Trên đây, trong bản tham luận này, chúng tôi đã trình bày một số ý cơ bản nói lên ký ức sâu lắng của bản thân về giáo sư, viện sĩ, nhà khoa học Phạm Minh Hạc với tư cách một người thầy, một nhà giáo, một nhà quản lý giáo dục mẫu mực. Viết về thầy giáo, giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc có biết bao điều muốn nói. Tuy nhiên, đây là những điều tâm huyết ăn sâu trong tâm thức, qua các trải nghiệm thực tiễn mới thấy hết các giá trị chân, thiện, mỹ của tình người. Ký ức của tôi về giáo sư viện sĩ Phạm Minh Hạc là một trong những ký ức sâu lắng ấy.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.