Kỷ niệm 80 năm ngày ra đời bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945 - 2/9/2025) - TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NĂM 1945 MỘT ÁNG HÙNG VĂN LẬP QUỐC VĨ ĐẠI

21:53 | 26/08/2025
ThS. Nguyễn Đức Thắng - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là NHà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

ThS. Nguyễn Đức Thắng -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là NHà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã hội tụ và tỏa sáng truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mở đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là một áng văn lập quốc vĩ đại, mà còn là một tác phẩm chính luận mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc, góp phần tích cực đặt nền tảng cho một trật tự pháp lý hiện đại trong thế kỷ XX.

Thực tiễn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới đã cho thấy, không phải quốc gia nào sau khi giành được độc lập, tự chủ cũng có được một bản Tuyên ngôn Độc lập. Sự kiện ra đời Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 ở Việt Nam đã phản ánh sự kết tinh những phẩm giá cao quý nhất của dân tộc Việt Nam; đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là một bản Tuyên ngôn Độc lập hùng tráng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, của dân tộc Việt Nam khởi thảo.

Ngay trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người còn trân trọng viện dẫn trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của nước Pháp một triết lý nổi tiếng, đó là: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Việc trân trọng viện dẫn những tinh hoa trong hai cuộc cách mạng tiêu biểu của nước Pháp và nước Mỹ để mở đầu cho Tuyên ngôn lập quốc của nước mình, vừa thể hiện nét độc đáo, sáng tạo, đầy tính nhân văn cao cả và cử chỉ ngoại giao rất tinh tế, sắc bén của chủ nhân một quốc gia độc lập; nhưng cũng vừa mang tính chủ động tiến công cách mạng của một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược sâu rộng trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa, quân sự...

Bằng tầm nhìn chiến lược về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam tuyên bố mong muốn xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa nước ta với nước Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Điều đó sáng ngời tư tưởng đại nghĩa, lòng khoan dung cao cả của nhân dân Việt Nam. Bởi vì, trong hơn 30 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, Người đã thấu hiểu tận tim gan bản chất bóc lột dã man, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Ngay cả khi đã vạch rõ tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta, chúng đã “bóc lột dân ta đến tận xương tủy”; rồi trong vòng 5 năm chúng lại “bán” nước ta cho phát xít Nhật, gây cho nhân dân ta thảm cảnh “một cổ hai tròng”, với hơn hai triệu đồng bào bị chết đói. Song đến khi thực dân Pháp thất thế và rút chạy, nhân dân Việt Nam vẫn độ lượng khoan hồng, giang tay cứu giúp cho nhiều người Pháp và tài sản của họ thoát khỏi bàn tay tàn bạo, đê hèn của phát xít Nhật lúc đó.

Quảng cáo

Nhân dân nước Mỹ rất tự hào về Tô-mát Giép-phơ-xơn, người đã khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Niềm tự hào đó càng được đề cao khi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới lại được mở đầu bằng chính những nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, đúng vào thời điểm quân Đồng minh vừa chiến thắng phe phát xít. Sự thật lịch sử đó không có cớ gì mà Chính phủ Mỹ đương thời lại bỏ qua cử chỉ đặc biệt thân thiện của nhân dân Việt Nam.

Nhưng điều còn thú vị hơn là trực tiếp vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam đã cho viên thiếu tá tình báo L.A Pát-ti, đại diện của quân đội Mỹ ở Hà Nội khi đó, được xem trước bản Tuyên ngôn Độc lập mà Người sẽ đọc tại cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội, khiến cho chính viên thiếu tá tình báo này phỉa thú thực rằng “không còn tin ở tai mình nữa”. Sau hơn ba thập kỷ với biết bao chính biến thăng trầm của lịch sử, ngài L.A Pat-ti đã tự thuật lại sự kiện trên rất sinh động, hấp dẫn và nghiêm túc trong tác phẩm Why Viet Nam? (Tại sao Việt Nam?).

Rõ ràng, ngay trong thời kỳ đầu lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đặt nền móng mối quan hệ ngoại giao thân thiện giữa Việt Nam với Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, trong đó có nước Mỹ và nước Pháp. Thế nhưng, cơ hội lịch sử đó đã bị chính phủ đương thời ở Mỹ và ở Pháp bỏ qua, đúng vào thời điểm nhân dân Việt Nam cùng sát cánh đứng về phía phe Đồng minh để loại trừ chủ nghĩa phát xít tàn bạo.

Như vậy, xét trên nhiều phương diện, có thể khẳng định bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 là sự kết tinh tâm huyết của dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; thể hiện truyền thống, khí phách quật cường, bản lĩnh và ý chí quyết tâm sắt đá trong đấu tranh để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc.

Nhưng ngay tại thời điểm có tính chất bước ngoặt của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc lại đang có những toan tính mới, hòng xóa bỏ mọi thành quả cách mạng. Chúng núp dưới danh nghĩa phe Đồng minh chiến thắng phát xít để âm mưu áp đặt các nước thuộc địa ở Á châu dưới chế độ “Uỷ trị quốc tế”, trực thuộc vào nước Mỹ hay nước Pháp. Tổng thống Cộng hòa Pháp De Gaulle lấy tư cách một nước thuộc phe Đồng minh, mưu toan tiếp tục nắm giữ toàn vẹn đất đai ở hải ngoại đã từng thuộc Pháp trước chiến tranh. Thực dân Pháp vẫn không chịu từ bỏ âm mưu biến nước ta thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng. Lúc này, đế quốc Mỹ cũng đang thừa cơ lăm le tìm mọi thủ đoạn để nhẩy vào độc chiếm Đông Dương nói chung và xâm chiếm nước Việt Nam độc lập nói riêng.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ đối tượng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của cách mạng Việt Nam và của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nếu như trong hơn 30 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lên án đối tượng kẻ thù chủ yếu của cách mạng là chủ nghĩa thực dân Pháp, với bản ‘Yêu sách 8 điểm” nổi tiếng, gửi Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919; hay “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925..., thì nay, trước tình hình thế giới và trong nước phát triển rất mau chóng, bằng sự nhạy cảm về chính trị và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích và nhận rõ nguy cơ nền độc lập của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước sự đe dọa từ đối tượng kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Chính vì vậy, Người đã làm tất cả để phân hóa kẻ thù, tranh thủ từng đối tượng, kể cả long trọng khởi đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc mình bằng sự viện dẫn những nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Trên cơ sở pháp lý và chính nghĩa, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã trở thành một văn kiện mẫu mực về nghệ thuật phân hóa, cô lập kẻ thù để nhằm loại bỏ từng kẻ thù nguy hiểm của cách mạng. Đứng trước dã tâm xâm lược trở lại Việt Nam của thực dân Pháp, bản Tuyên ngôn Độc lập đã lột rõ bộ mặt “bảo hộ” giả nhân, giả nghĩa, núp dưới bóng cờ quân Đồng minh của thực dân Pháp. Bằng những lập luận đanh thép và vững chắc, Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ cho toàn thế giới thấy rõ một thực tế lịch sử là: Từ mùa thu năm 1940, thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng, dâng đất nước ta cho bọn phát xít Nhật. Cho nên, sự thực cũng từ đó, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Nhật. Chính từ đây, Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo toàn dân đứng lên đấu tranh để giành lại nước Việt Nam từ tay phát xít Nhật. Do đó, cơ sở pháp lý về sự tồn tại quyền lợi của thực dân Pháp ở Việt Nam cũng như trên toàn Đông Dương không còn nữa. Theo các Hiệp nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn đã chỉ rõ: Nếu các nước Đồng minh đã công nhận quyền dân tộc tự quyết của các nước đã bị phát xít chiếm đóng, thì “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.

Những lập luận dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và rất đanh thép đã đặt cả chủ nghĩa thực dân cũ và mới vào tư thế của những kẻ can thiệp và xâm lược, nếu chúng quyết dã tâm núp dưới bóng cờ của quân Đồng minh để hòng thôn tính đất nước ta. Vì vậy, bản Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xác định rõ đối tượng cần tranh thủ, cần phân hóa; đồng thời, thể hiện tính chủ động, linh hoạt, cần kíp trong tiến công cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập hùng tráng bằng lời tuyên bố trịnh trọng và đanh thép, đáp ứng nguyện vọng thiết tha ngàn đời của nhân dân Việt Nam : “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Đã 80 năm trôi qua kể từ khi bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, đất nước Việt Nam đã có nhiều đổi thay lớn lao trên con đường tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tiếp theo “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, thì bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã trở thành một áng hùng văn lập quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trên hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vẫn luôn vẹn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sâu sắc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.