KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

16:09 | 14/07/2026
GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

GS.TS Phạm Tất Dong

Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý "Chủ nghĩa tư bản có ý thức" (Conscious Capitalism). Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia tiên phong và thực tiễn phát triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam, bài viết chỉ ra những đặc trưng của doanh nhân khởi nghiệp xã hội, các năng lực cốt lõi cần được hình thành cũng như vai trò của hệ thống giáo dục trong việc phát hiện, bồi dưỡng và định hướng thế hệ trẻ trở thành những doanh nhân có trách nhiệm xã hội. Từ góc độ khoa học giáo dục, tác giả đề xuất cần tích hợp giáo dục tinh thần khởi nghiệp xã hội, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực chuyển đổi số vào chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đây là giải pháp quan trọng nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Từ khóa: khởi nghiệp xã hội; doanh nghiệp xã hội; doanh nhân xã hội; khoa học giáo dục; giáo dục hướng nghiệp; trách nhiệm xã hội; chuyển đổi số; phát triển bền vững.

I. Nguồn gốc của ý tưởng “Khởi nghiệp xã hội”

Khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneurship) hiện là một phong trào toàn cầu, đang thúc đẩy mạnh mẽ sự đổi mới để giải quyết nhiều vấn đề bức thiết trong xã hội: giảm lượng khí thải carbon, ngăn chặn sự tàn phá của bão lũ, tìm giải pháp tồn tại bền vững về tài chính, thực hiện tiêu dùng xanh....

Khái niệm "Khởi nghiệp xã hội" bắt đầu được phổ biến rộng rãi trong thập niên 1991 - 1999 nhờ từ các nghiên cứu về vốn xã hội (Social Capital) của nhà kinh tế học Bourdieu (1998) hay Putnam (1993) cùng nhiều nhà kinh tế học và xã hội khác - những người xây dựng nền tảng lý thuyết về vai trò của những mối quan hệ, lòng tin và cộng đồng trong việc xây dựng và thúc đẩy các hoạt động nhằm tạo ra những giá trị chung cho sự phát triển bền vững của xã hội. Nhưng, cho đến nay, còn khá nhiều người vẫn chưa làm quen hoặc chưa hiểu được bản chất của khái niệm này.

Sự ra đời của khởi nghiệp xã hội gắn liền với những dự án tiên phong tiêu biểu của Ngân hàng Grameen của Muhammad Yunus ở Bangladesh. Ngày nay, các nhà khoa học đã thừa nhận rằng, ông là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho các mô hình khởi nghiệp xã hội, đặc biệt là mô hình tín dụng vi mô để giải quyết vấn đề nghèo đói, kết hợp kinh doanh bền vững với những tác động xã hội rất tích cực.

Để hiểu sâu hơn nữa cội nguồn của tinh thần "khởi nghiệp xã hội", chúng ta cần dừng lại mấy phút để tìm đến xu hướng cải biến chủ nghĩa tư bản truyền thống sang chủ nghĩa tư bản có ý thức (Conscious Capitalism) mà nhà xã hội học Patricia Aburdene viết trong tác phẩm "Sự vươn lên của chủ nghĩa tư bản có ý thức", mà theo bà, sự vươn lên ấy là một trong bảy xu hướng vĩ mô (Megatrend) 2010. Conscious Capitalism về thực chất là một triết lý kinh doanh, cho rằng, các doanh nghiệp nên phục vụ tất cả các đối tượng hữu quan, bao gồm cả môi trường chứ không chỉ tập trung vào lợi nhuận thuần túy cho cổ đông. Vào buổi bình minh của xã hội tri thức, chủ nghĩa tư bản truyền thống đã nhận thấy rằng, để phát triển tiếp tục khi xã hội công nghiệp đã lỗi thời, xã hội tri thức lên ngôi, chủ nghĩa tư bản truyền thống phải "cải biến hay là chết", mà sự cải biến ấy là hướng đến làm cho xã hội bền vững hơn.

Tháng 11/2003, tại Hội thảo "Doanh nghiệp vì trách nhiệm xã hội" (Business for Social Responsibility), Giám đốc điều hành Carly Fiorina đưa ra lý do vì sao Hewlett-Packard (Tập đoàn công nghệ thông tin đa quốc gia của Mỹ) lại là một công dân doanh nghiệp tốt. Đó là, tập đoàn này đã góp phần để cải thiện một thế giới mà trong đó:

Một nửa số dân sống với 2 USD/ngày;

Một tỷ người không biết đọc, biết viết;

Một tỷ rưỡi người chưa bao giờ được uống một chén nước sạch;

"Trách nhiệm xã hội" của doanh nghiệp là điều đúng đắn cần làm.

Với tình trạng này, nền kinh tế toàn cầu sẽ chắc chắn là không bền vững.

Chủ nghĩa tư bản truyền thống sẽ thiếu sức thích ứng với xã hội tri thức nếu không được chữa lành những khuyết tật, và nó cần cải biến, đưa ra những sản phẩm mà trong đó chứa đựng chính sách ứng xử "cải thiện môi trường, sức khoẻ và lao động".

Theo sự khái quát của Patricia Aburdene, sự vươn lên của Chủ nghĩa tư bản có ý thức, về thực chất, là một cuộc cách mạng về ý thức đạo đức trong tinh thần kinh doanh. Trong ngữ cảnh này, ý thức là sự hiện diện hay sự thức tỉnh trong nhận thức doanh nhân: Sự nghiệp kinh doanh cần đến ánh sáng tinh thần làm cho nhân tính trở nên sinh động. Cuộc tìm kiếm đạo đức và ý nghĩa xã hội trong công việc kinh doanh trở thành một mục đích "linh thiêng" trong thế giới kinh doanh đầy áp lực. Việc làm đó đã truyền nhiệt huyết vào trái tim hàng triệu người, như một hiện thực nội tại, một tiêu chuẩn về xã hội, môi trường và đạo đức để doanh nghiệp vươn lên, biết từ chối lối kinh doanh hoàn toàn dựa vào sức lao động bị bóc lột.

Hiện nay, tại các nước tư bản chủ nghĩa, tinh thần khởi nghiệp xã hội chịu tác động mạnh mẽ của triết lý Conscious Kapitalism mà John Mackey, nhà đồng sáng lập Whole Foods Market cùng Raj Sisodia, giáo sư Marketing của trường đại học Bentley đã nỗ lực phổ biến rộng rãi.

II. Ảnh hưởng của Chủ nghĩa tư bản có ý thức đối với sự hình thành và phát triển mô hình khởi nghiệp xã hội.

1. Chủ nghĩa tư bản có ý thức luôn nhấn mạnh doanh nghiệp không chỉ tối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông mà còn phải cân bằng lợi ích của các bên liên quan (nhân viên, khách hàng, cộng đồng, môi trường), gắn kinh doanh với mục đích cao cả (higher purpose) và đạo đức. Trong khi đó, khởi nghiệp xã hội là các doanh nghiệp được thành lập với nội dung cốt lõi là giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường, sử dụng mô hình kinh doanh bền vững để tự duy trì hoạt động, khác với các tổ chức từ thiện chỉ phụ thuộc vào quyên góp.

2. Chủ nghĩa tư bản có ý thức là nền tảng lý thuyết hình thành nên các mô hình khởi nghiệp xã hội với những tác động cụ thể sau:

a. Chủ nghĩa tư bản lan toả thông điệp: Kinh doanh và mục đích xã hội không đối lập nhau, phá vỡ quan niệm cổ truyền "doanh nghiệp chỉ để kiếm tiền". Trước đây, hầu như mọi người đều nghĩ rằng, giải quyết vấn đề xã hội là trách nhiệm thuộc nhà nước hoặc tổ chức phi lợi nhuận. Ngày nay, nhờ sự phổ biến của các nguyên tắc tư bản có ý thức, nhiều thế hệ nhà sáng lập trẻ tin rằng, có thể vừa vận hành doanh nghiệp sinh lời, vừa giải quyết nhiều vấn đề như bất bình đẳng giáo dục, ô nhiễm do rác thải nhựa hoặc khí thải nhà kính, đói nghèo... Động lực này đã giúp nhiều nhà sáng lập, các Startups để góp phần cải thiện xã hội, tạo dựng môi trường lành mạnh.

b. Chủ nghĩa tư bản nhà nước đã cung cấp khuôn khổ vận hành bền vững cho khởi nghiệp xã hội phát triển. Các nguyên tắc cốt lõi của Chủ nghĩa tư bản nhà nước đã giúp cho doanh nghiệp khởi nghiệp xã hội quản lý và làm vì lợi ích toàn diện của các bên, xây dựng văn hoá doanh nghiệp nhân văn, dắt dẫn doanh nghiệp có ý thức... Nhờ đó, các mô hình khởi nghiệp xã hội tránh được các rủi ro phổ biến.

  • Những quy định của tư bản có ý thức đã hướng dẫn nhà sáng lập khởi nghiệp xã hội xây dựng mô hình kinh doanh vừa bảo đảm lợi nhuận đủ để mở rộng quy mô tác động xã hội, vừa không phụ thuộc vào nguồn vốn quyên góp bất ổn định.
  • Nguyên tắc "tôn trọng tất cả các bên liên quan" đã giúp Startup xã hội xây dựng được lòng tin của cộng đồng, của nhà đầu tư và khách hàng, giữ chân đối tác và phát triển lâu dài.

c. Chủ nghĩa tư bản xã hội thúc đẩy sự ra đời của làn sóng đầu tư có trách nhiệm (Impact investing), các quỹ đầu tư sẵn sàng góp vốn cho các doanh nghiệp vừa có lợi nhuận tài chính, vừa có tác động xã hội hiệu quả. Trước đây nhiều mô hình khởi nghiệp xã hội rất khó tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm truyền thống vì các quỹ này chỉ ưu tiên lợi nhuận cao. Ngày nay, nhờ tư duy tư bản có ý thức, nhiều quỹ đầu tư tác động ra đời, cung cấp nguồn vốn và kết nối chuyên môn, giúp khởi nghiệp xã hội mở rộng quy mô nhanh hơn.

d. Tư bản có ý thức định hướng khách hàng ưu tiên lựa chọn sản phẩm từ các doanh nghiệp có đạo đức, đóng góp nhiều cho xã hội. Điều này giúp các mô hình khởi nghiệp xã hội dễ dàng xây dựng một lượng khách hàng trung thành và đông đảo, khác biệt với các doanh nghiệp truyền thống chỉ tập trung vào giá thành và lợi nhuận.

III. Các quốc gia đi tiên phong trong xây dựng các mô hình khởi nghiệp xã hội

1. Những quốc gia hiện được coi là đang tiên phong trong phát triển các mô hình khởi nghiệp xã hội thường quan tâm 3 yếu tố mang tính điều kiện, đó là:

Có hệ sinh thái hỗ trợ tốt.

Có chính sách khuyến khích những nhà sáng lập.

Đã tập trung xây dựng được một số mô hình rất thành công.

2. Một số quốc gia tiêu biểu:

Vương quốc Anh.

Là quốc gia được thế giới thừa nhận là nước đi tiên phong về khởi nghiệp xã hội với 3 đặc điểm: Có số lượng đông đảo các mô hình khởi nghiệp xã hội. Có Luật công nhận doanh nghiệp xã hội và mô hình Community Interest Company (CIC) (Công ty xã hội vì cộng đồng). Chính phủ Anh, các trường đại học và các quỹ đầu tư tích cực ủng hộ.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là cái nôi của những sáng kiến về khởi nghiệp xã hội. Có nhiều quỹ đầu tư tác động (Impact Investing), vườn ươm và trường đại học hỗ trợ. Nơi khởi nguồn Ashoka - mạng lưới doanh nhân xã hội lớn nhất thế giới.

Ấn Độ

Nổi bật với những mô hình giải quyết nghèo đói, giáo dục, y tế và tài chính vi mô. Xuất hiện nhiều doanh nhân xã hội có tầm ảnh hưởng quốc tế.

Đan Mạch

Là quốc gia đi đầu về đổi mới và sáng tạo xã hội. Kết hợp giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng.

Hàn Quốc

Có chính sách quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp xã hội. Đầu tư mạnh mẽ vào đào tạo, tài chính và tạo việc làm cho các nhóm yếu thế.

Canada

Phát triển mạnh các hợp tác xã và doanh nghiệp xã hội. Có nhiều chương trình hỗ trợ khởi nghiệp tạo tác động xã hội.

Hà Lan

Nổi tiếng với các mô hình kinh doanh bền vững, kinh tế tuần hoàn và đổi mới xã hội. Có nhiều quỹ đầu tư cho các doanh nghiệp tạo tác động xã hội. Ngoài các quốc gia trên, có thể kể đến Thụy Điển, Singapore, Phần Lan, Úc..., cũng là những quốc gia đang thúc đẩy việc phát triển các doanh nghiệp xã hội.

IV. Doanh nhân khởi nghiệp xã hội.

1. Doanh nhân khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneur) là người áp dụng tư duy kinh doanh và phương pháp sáng tạo để giải quyết các vấn đề cấp bách của cộng đồng hoặc môi trường. Mục tiêu cốt lõi của họ là tạo ra những tác động tích cực và bền vững, đặt mục tiêu phục vụ xã hội lên trên mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông.

Đặc điểm của những doanh nhân này tập trung vào những phẩm chất sau:

Họ muốn xây dựng một tổ chức phi lợi nhuận có tính hiệu quả của thị trường thương mại. Dùng chính hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ để tự trang trải tài chính và giải quyết vấn đề xã hội.

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, những doanh nhân này phải sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để đầu tư vào các mục tiêu xã hội hoặc môi trường có vấn đề.

2. So sánh Nhà khởi nghiệp xã hội và Nhà từ thiện.

Tiêu chí

Nhà khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneur)

Nhà từ thiện (Philanthropist/ Humanitarian)

Mục tiêu lõi cốt

Giải quyết tận gốc vấn đề xã hội thông qua các giải pháp kinh doanh bền vững, tạo ra sự thay đổi hệ thống.

Cung cấp viện trợ tài chính hoặc vật chất để hỗ trợ, xoa dịu hoặc giải quyết các nhu cầu cấp bách.

Mô hình tài chính

Tạo ra doanh thu và lợi nhuận từ việc bán sản phẩm/ dịch vụ, thường không dựa vào tiền quyên góp.

Phụ thuộc vào tiền tài trợ, quyên góp hoặc dựa vào của cải cá nhân để duy trì hoạt động.

Khả năng tự chủ

Tự trang trải chi phí và phát triển quy mô nhờ lợi nhuận tái đầu tư.

Thường xuyên cần gây quỹ hoặc bổ sung nguồn lực mới để tiếp tục hoạt động.

Cách tiếp cận

Đổi mới sáng tạo, áp dụng tư duy kinh doanh vào giải quyết vấn đề cộng đồng

Lòng nhân ái, sự hảo tâm và mong muốn giúp đỡ trực tiếp những người có hoàn cảnh khó khăn

Trên đây là sự so sánh 2 mô hình nhân cách với vai trò của họ trong sự hỗ trợ, thúc đẩy giải quyết những khó khăn. Mô hình nhân cách nào cũng đáng quý, tuy nhiên, xét về lối suy nghĩ, giữa họ có những khác biệt lớn.

Nhà khởi nghiệp xã hội có một lối tư duy xuyên suốt hoạt động kinh doanh của họ được gọi là Tư duy doanh nhân (Entrepreneurial Mindset) – đó là hệ thống nhận thức hướng tới việc nhìn nhận vấn đề thành cơ hội, chủ động tạo ra giá trị bền vững và sẵn sàng chấp nhận thách thức. Thay vì thụ động làm theo lối mòn, người có tư duy doanh nhân luôn tìm đến các phương án đổi mới trong công việc, không ngại rủi ro và dám chịu trách nhiệm trước quyết định.

Nhà từ thiện thì luôn thể hiện tư duy nhân đạo (Humane Thinking/ Humanitarian Mindset) hay còn gọi là tinh thần nhân đạo. Đó là cách nhìn nhận, suy nghĩ và hành động đề cao giá trị, phẩm giá, quyền lợi và hạnh phúc con người. Họ luôn hướng tới lòng trắc ẩn, vị tha, sự đồng cảm, chống lại những bất công, sẵn sàng giúp những người yếu thế hoặc lâm vào cảnh khó khăn.

V. Sự phát triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

1. Trong Luật Doanh nghiệp (2014) của Việt Nam, doanh nghiệp xã hội là loại doanh nghiệp được đăng ký hoạt động như một loại hình doanh nghiệp hợp pháp. Chủ trương này thể hiện sự chuyển nhận thức từ mô hình hoạt động tự phát thành chủ thể kinh tế chính thức, có vai trò trong phát triển xã hội. Trước đó, những tổ chức hoạt động mang tính chất doanh nghiệp xã hội như Mai Handicrafts, KOTO chỉ hoạt động dưới dạng công ty thấp cấp hoặc tổ chức phi chính phủ, chưa có khung pháp lý riêng để hỗ trợ.

2. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp (2020) đã quy định về doanh nghiệp xã hội được giữ vững và chi tiết hoá với 3 tiêu chí cốt lõi để công nhận:

Là doanh nghiệp đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Mục tiêu chính là giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường và lợi ích cộng đồng.

Phải sử dụng ít nhất là 51% tổng lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường, cộng đồng đã đăng ký.

3. Nghị định 47/2021/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, quy định chi tiết về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp xã hội, cũng như thủ tục chuyển đổi các tổ chức hoạt động tự phát trước đây thành doanh nghiệp xã hội, được tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

4. Nhà nước xác định doanh nghiệp xã hội là lực lượng quan trọng chia sẻ gánh nặng với khu vực công trong việc cung cấp phúc lợi xã hội; ban hành hàng loạt ưu đãi và cơ chế đặc thù, khác biệt so với doanh nghiệp tư nhân thông thường.

5. Thực tiễn cho thấy Việt Nam hiện đã có gần 200 tổ chức đáp ứng đầy đủ tiêu chí doanh nghiệp xã hội và hơn 25.000 tổ chức có tiềm năng chuyển đổi sang mô hình này.

Đảng và Nhà nước đang tiếp tục hoàn thiện thể chế để khai thác tối đa tiềm năng của mô hình doanh nghiệp xã hội, tập trung vào 3 hướng chính:

Doanh nghiệp xã hội không phải là tổ chức từ thiện, mà là mô hình kinh doanh bền vững, vừa tạo ra lợi ích kinh tế, vừa giải quyết gốc rễ các vấn đề xã hội như thất nghiệp, nghèo đói, thất học, biến đổi khí hậu.

Nhà nước tiếp tục có chính sách để các doanh nghiệp xã hội dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực.

Quảng cáo

Tạo điều kiện kết nối doanh nghiệp xã hội với các nhà đầu tư ảnh hưởng (Impact Investor) trong và ngoài nước nhằm mở rộng quy mô hoạt động.

VI. Những năng lực cốt lõi và phẩm chất mong muốn ở doanh nhân khởi nghiệp xã hội.

Dựa trên các chương trình hỗ trợ và thực tiễn xây dựng các doanh nghiệp xã hội, ta có thể rút ra một số năng lực cốt lõi và phẩm chất kinh doanh chung nhất của một doanh nhân khởi nghiệp xã hội như sau:

1. Tư duy và nền tảng kiến thức

Tư duy khởi nghiệp bền vững: Doanh nhân khởi nghiệp xã hội có sự cân bằng giữa mục tiêu kinh doanh với những giá trị tác động xã hội hoặc môi trường.

Kỹ năng nhận diện và giải quyết vấn đề: Đó là khả năng phát hiện các nguyên nhân gốc rễ của những vấn đề xã hội, từ đó thiết kế các giải pháp bền vững và có tính hệ thống thay vì chỉ xử lý bề nổi.

2. Năng lực vận hành và công nghệ

Kỹ năng xây dựng mô hình kinh doanh, lập kế hoạch quản trị tài chính, quản lý tổ chức và nhân sự.

Kỹ năng chuyên sâu về chuyển đổi số, sử dụng các công nghệ mới để tối ưu hoá quy trình sản xuất, bán hàng và truyền thông.

Kỹ năng khởi nghiệp thực tế: Có các kiến thức về kỹ năng số (như Nocode), xây dựng đội ngũ, kỹ năng tìm kiếm đồng sáng lập, biết thuyết trình hiệu quả dự án trước nhà đầu tư.

3. Kết nối và ươm tạo thực tế

Kỹ năng xây dựng hệ sinh thái thông qua các chương trình ươm tạo, kết nối với nhà đầu tư và các tổ chức phi chính phủ (NGO) cùng các chuyên gia đã có nhiều trải nghiệm về lĩnh vực khởi nghiệp mà nhà sáng lập định hướng.

Có kế hoạch học tập suốt đời, tận dụng các hội thảo, tọa đàm với các doanh nhân thành đạt trong hành trình phát triển kinh doanh.

Tạo môi trường để gặp gỡ, trao đổi với các doanh nhân, xây dựng nên một cộng đồng doanh nhân học tập và chia sẻ kiến thức, kỹ năng cần thiết.

VII. Những doanh nghiệp xã hội tiêu biểu ở Việt Nam.

1. KOTO

Mục tiêu: Hỗ trợ người khuyết tật trong giáo dục và đào tạo nghề cùng cơ hội tìm việc làm, hòa nhập xã hội.

Lĩnh vực hoạt động: Giáo dục, đào tạo người khuyết tật.

Đối tượng hưởng lợi: Người khuyết tật và gia đình họ.

Mô hình hoạt động: Doanh nghiệp xã hội, sử dụng nguồn thu từ kinh doanh để tài trợ hoạt động đào tạo nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật.

Đặc điểm nổi bật: Áp dụng mô hình doanh nghiệp xã hội để hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng.

2. Vinamilk

Mục tiêu: Trở thành công ty sữa hàng đầu thế giới, phát triển bền vững, sử dụng năng lượng xanh bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất và kinh doanh sữa, các sản phẩm từ sữa, thiết kế máy móc dùng trong ngành sữa.

Đối tượng hưởng lợi: Người tiêu dùng, các cổ đông và người lao động trong cộng đồng được hỗ trợ từ các chương trình hỗ trợ xã hội của công ty.

Đặc điểm nổi bật: Là thương hiệu sữa có giá trị thứ 6 toàn cầu với tiềm năng vào loại nhất thế giới.

3. Trường Hoa Sữa

Mục tiêu: Đào tạo nghề và cung cấp cơ hội việc làm cho thanh niên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong nước.

Lĩnh vực hoạt động: Đào tạo nghề, hỗ trợ cơ hội tìm việc làm cho học viên.

Đối tượng hưởng lợi: Thanh niên và các doanh nghiệp đang tìm kiếm và tuyển chọn nhân lực có tay nghề.

Đặc điểm nổi bật: Gắn đào tạo nghề với thực tế việc làm ở địa phương, có mạng lưới đối tác trong và ngoài nước.

4. Mai Vietnamese Handicrafts.

Mục tiêu: Sản xuất và kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, xây dựng chương trình hỗ trợ những người đang gặp khó khăn.

Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất, kinh doanh, phân phối các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, qua đó có chương trình hỗ trợ xã hội.

Đối tượng hưởng lợi: Một số nghệ nhân có khó khăn, những người nghèo cần được giúp đỡ để có kỹ năng làm hàng thủ công mỹ nghệ, mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.

Đặc điểm nổi bật: Mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm trong và ngoài nước, lồng một số chương trình hỗ trợ xã hội, tập trung vào người nghèo, nhóm yếu thế.

Trên đây chỉ là một vài doanh nghiệp xã hội được tôn vinh. Bên cạnh còn nhiều doanh nghiệp xã hội khác mà ta có thể tham khảo, học hỏi như Help Corporation, Trung tâm nghị lực sống, Trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ ký hiệu, Doanh nghiệp xã hội nông nghiệp hữu cơ, Doanh nghiệp xã hội vĩ mô, Doanh nghiệp xã hội du lịch sinh thái, Doanh nghiệp xã hội bảo vệ môi trường...

VIII. Những doanh nhân xã hội Việt Nam đã được vinh danh

Trong phong trào phát triển các doanh nghiệp xã hội, mấy năm gần đây đã xuất hiện nhiều gương mặt doanh nhân xã hội xuất sắc.

Trong lễ vinh danh những doanh nhân xã hội tiêu biểu năm 2019, đã có 100 doanh nhân được trao tặng Cúp Thánh Gióng.

Năm 2022, đã có 86 doanh nhân xã hội trẻ tuổi và 60 doanh nhân xã hội có thành tích nổi trội đã được nhận Giải thưởng Sao Đỏ.

Hiện nay, trong cả nước đã có hàng vạn doanh nhân xã hội thành đạt, hàng vạn người được các Vườn ươm tài năng hỗ trợ khởi nghiệp xã hội. Xây dựng các doanh nghiệp xã hội đang là một xu hướng tích cực và tràn đầy tiềm năng phát triển bền vững.

Gần đây đã xuất hiện những gương mặt doanh nhân xã hội trẻ xuất sắc như:

Nguyễn Thùy Chi: Phó Giám đốc công ty TNHH Chạm vào Xanh (2025) - người kiến tạo sinh kế cho nhiều người yếu thế.

Lưu Thị Thanh Mẫu: CEO Phúc Khang Corporation, giải thưởng Sao Đỏ (2019) với thành tích xây dựng cộng đồng xanh nổi bật.

Lê Hùng Nguyễn, nhà sáng lập PISE, tổ chức Projects Incubation for Social Entrepreneurs, hỗ trợ và ươm mầm cho nhiều Dự án khởi nghiệp.

Nguyễn Thị Ngọc Huyền, CEO Medlink Asia, kết nối các công ty dược phẩm, nhà thuốc, bệnh nhân nhằm minh bạch hóa nguồn gốc thuốc và tối ưu hóa chi phí y tế cho người dân.

Nguyễn Thị Thu Hà, CEO MindX Education: Hệ thống giáo dục - đào tạo về công nghệ, cung cấp các khóa học từ lập trình cơ bản đến nâng cao, giải quyết nhu cầu việc làm và nâng cao kỹ năng số cho thế hệ trẻ.

Lê Yên Thanh – CEO Phenikaa MaaS: Khởi nghiệp thành công với bản đồ giao thông thông minh BusMap, góp phần thúc đẩy giao thông thân thiện với môi trường và thuận lợi cho cộng đồng.

Trần Trung Hiếu – CEO TopCV: Xây dựng nền tảng tuyển dụng và kết nối việc làm, hỗ trợ các bạn trẻ và người lao động cải thiện kỹ năng, tạo hồ sơ chuyên nghiệp để tìm kiếm cơ hội phát triển bền vững.

IX. Mấy lời bàn về khởi nghiệp xã hội từ chỗ đứng của người làm khoa học giáo dục.

1. Tại Nghị quyết của Đại hội XIV của Đảng (1/2026), tuy không có một mục riêng biệt về doanh nghiệp xã hội, nhưng có mấy ý sau đây đã nói rõ quan điểm của Đảng về mô hình này:

Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù Đảng không nói trực tiếp về doanh nghiệp xã hội, nhưng lại chỉ ra rằng, phải mở ra không gian cho các mô hình doanh nghiệp sáng tạo, có đóng góp tích cực cho xã hội.

Cộng đồng doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, "đầu tàu trong phát triển kinh tế - xã hội, bao hàm cả doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu kép: Vừa kinh doanh, vừa đóng góp cho xã hội.

Trong kinh doanh, phải đổi mới tư duy phát triển (Growth Mindset), gắn kinh tế với xã hội và môi trường, "không đánh đổi môi trường để tăng trưởng kinh tế", đặt con người vào vị trí trung tâm.

Mọi doanh nghiệp đều được khuyến khích tăng cường trách nhiệm xã hội và mô hình doanh nghiệp xã hội lại càng phải làm thật tốt trách nhiệm này.

Tất cả các doanh nghiệp xã hội đều phải đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng giải quyết những vấn đề xã hội và môi trường.

2. Với vị trí và vai trò quan trọng của doanh nghiệp xã hội như Văn kiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra, trong công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông, dạy nghề và đại học, cán bộ hướng nghiệp cần chú ý phát hiện những học sinh, sinh viên thể hiện những đặc điểm nhân cách sau đây để tư vấn cho họ phấn đấu trở thành doanh nhân xã hội.

Những đặc điểm đó là:

Thể hiện khả năng tư duy sáng tạo và khả năng tìm ra các giải pháp độc đáo cho các vấn đề xã hội đang tồn tại thay vì chỉ theo mô hình kinh doanh đã có sẵn.

Có tinh thần đồng cảm và trách nhiệm xã hội, hiểu rõ nhu cầu của cộng đồng và muốn cải thiện đời sống mọi người, không chỉ thuần túy hướng tới lợi nhuận cá nhân.

Tính kiên trì và khả năng chịu thất bại. Dự án kinh doanh xã hội thường mất nhiều thời gian để có hiệu quả. Thanh niên nào thiếu ý chí vượt khó thì khó trở thành doanh nhân xã hội.

Có kỹ năng giao tiếp và hợp tác, xây dựng được mối quan hệ với thị trường mục tiêu và cộng đồng cùng các đối tác cần thiết.

Có tính minh bạch và đạo đức kinh doanh, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

3. Phát huy trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp.

Trong công tác hướng nghiệp, đối với bất kỳ nghề nghiệp nào có trong Chương trình định hướng lựa chọn của học sinh, sinh viên, ta cần làm những việc sau đây:

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp (Professional Ethics) để thế hệ trẻ nhận thức đầy đủ và làm theo những nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử quy định hành vi cá nhân trong toàn bộ quá trình hành nghề.

Giáo dục lương tâm nghề nghiệp (Professional Conscience) để thế hệ trẻ tự ý thức, tự phán xét và trách nhiệm đạo đức đối với công việc.

Giáo dục tinh thần khởi nghiệp (Entrepreneurial Spirit) để thế hệ trẻ rèn luyện tư duy quản lý, khả năng đổi mới, sự dấn thân theo đuổi cơ hội phát triển sự nghiệp, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại đối đầu với khó khăn và không bỏ cuộc.

Giáo dục trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility) để thế hệ trẻ phát huy mạnh mẽ những năng lực của mình, phục vụ tận lực sự phát triển nghề đã chọn trên nền tảng đạo đức nghề nghiệp, lương tâm nghề nghiệp và tinh thần khởi nghiệp, luôn lấy con người làm trung tâm, điều hòa hợp lý và cân bằng lợi ích cá nhân với sự bền vững của môi trường và cộng đồng.

Trong giai đoạn 2026-2031 và xa hơn nữa, nền giáo dục phải thực sự chuyển mình theo xu thế số hoá và xanh hoá, đào tạo các thế hệ Z, Alpha và Beta thành những công dân số và công dân toàn cầu. Những thế hệ này phải biết nói "không" với các hành vi và lối suy nghĩ sau:

Trong làm ăn kinh doanh, chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cá nhân, vô trách nhiệm với sản phẩm mình làm ra như làm hàng giả, hàng nhái thương hiệu, các loại hàng thuộc loại thứ phẩm, phế phẩm, độc hại; bất chấp pháp luật và đạo lý.

Thực hiện lối cạnh tranh thiếu lành mạnh, thiếu tinh thần hợp tác, chia sẻ (theo kiểu chủ nghĩa tư bản sơ khai, chứ không phải chủ nghĩa tư bản có ý thức); cần chỉ ra cho thế hệ trẻ những lối làm ăn "chụp giật" như kiểu biên soạn và phát hành sách giáo khoa kém chất lượng, tự đặt giá cả sách giáo khoa, thu học phí và định ra đủ các loại phí giáo dục rất vô lý, tổ chức các bữa ăn học đường không bảo đảm vệ sinh, tổ chức dạy thêm hoặc luyện thi để tăng thu nhập... Những tiêu cực này hàng ngày trực tiếp gây ấn tượng cho học sinh, sinh viên.

Cần quản trị hệ thống giáo dục một cách minh bạch, sao cho việc phổ cập giáo dục Trung học phổ thông theo chủ trương của Trung ương Đảng và Nhà nước được chấp hành nghiêm minh, không một đứa trẻ nào bị bỏ quên, không một học sinh, sinh viên nào cảm thấy mình là kẻ bị thất bại học đường.

Theo hiểu biết có thể còn phiến diện hoặc chưa thấu đáo, chúng tôi cho rằng, từ nay, mọi loại hình trường (công lập, ngoài công lập), mọi trung tâm đào tạo đa dạng, đa lĩnh vực nghề nghiệp hiện có đều cần thực hiện các hoạt động mang trách nhiệm xã hội. Những trách nhiệm đó được chi phối bởi Tư duy định hướng sứ mệnh (Purpose driven Mindset/Mission driven Mindset), từ bỏ ngay lối tư duy tối đa hoá lợi nhuận (Profit-maximizing Mindset) đơn thuần. Đó là tư duy có ý thức xã hội với những đặc điểm sau:

Mục tiêu cốt lõi: Kết hợp những lợi nhuận đã tạo ra với việc mang lại giá trị cho tất cả các đối tượng: cán bộ, giáo viên, phụ huynh học sinh, cộng đồng địa phương, môi trường thiên nhiên.

Quan hệ lao động: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong trường là tài sản quý, cần được đào tạo, bồi dưỡng liên tục và có môi trường làm việc tốt để họ tạo nên một trường học như một hệ sinh thái giáo dục công bằng.

Quan hệ với xã hội và môi trường: Hoạt động của nhà trường, của cơ sở đào tạo phải tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, tham gia công tác từ thiện và nhân đạo chí ít trong phạm vi địa lý nơi nhà trường đóng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Thể chế: Nhà trường hoặc cơ sở đào tạo cam kết sự minh bạch, trách nhiệm xã hội của mình, xây dựng cộng đồng công bằng và văn minh.

Kết luận

Khởi nghiệp xã hội không chỉ là một mô hình kinh doanh mới mà còn là một xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế tri thức và nền kinh tế phát triển bền vững, trong đó mục tiêu tạo ra giá trị xã hội được đặt ngang hàng với mục tiêu phát triển kinh tế. Sự phát triển của doanh nghiệp xã hội phản ánh quá trình chuyển đổi từ tư duy tối đa hóa lợi nhuận sang tư duy phát triển có trách nhiệm, lấy con người, cộng đồng và môi trường làm trung tâm của mọi hoạt động kinh doanh.

Dưới góc độ khoa học giáo dục, việc hình thành đội ngũ doanh nhân xã hội cần được bắt đầu từ quá trình giáo dục và hướng nghiệp sớm. Nhà trường không chỉ trang bị kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần nhân văn, năng lực đổi mới sáng tạo, tư duy doanh nhân, trách nhiệm xã hội và năng lực số cho người học. Giáo dục cần giúp học sinh, sinh viên nhận thức rằng thành công nghề nghiệp phải gắn liền với trách nhiệm đối với cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện mạnh mẽ các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần các nghị quyết mới của Đảng, việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp xã hội cần được xem là một nhiệm vụ quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cộng đồng nhằm tạo môi trường thuận lợi để phát hiện, bồi dưỡng và hỗ trợ các dự án khởi nghiệp xã hội ngay từ trong nhà trường.

Có thể khẳng định rằng, giáo dục chính là nền tảng quan trọng nhất để hình thành thế hệ doanh nhân xã hội tương lai. Khi giáo dục khơi dậy được tinh thần cống hiến, trách nhiệm xã hội và khát vọng đổi mới sáng tạo trong mỗi người học, khởi nghiệp xã hội sẽ trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với tiến bộ xã hội, góp phần xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, nhân văn và thịnh vượng trong kỷ nguyên số.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.