KHÓ KHĂN, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 TRONG BỐI CẢNH MỚI

07:31 | 24/12/2025
TS. Nông thị Thu Trang- Viện khoa học Giáo dục Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Quá trình triển khai thực hiện nội dung Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đang gặp không ít những khó khăn, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Sau khi sáp nhập các tỉnh và thực hiện chính quyền hai cấp, hoạt động giáo dục địa phương vốn đã khó khăn lại tiếp tục nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu thực trạn

TS. Nông thị Thu Trang-

Viện khoa học Giáo dục Việt Nam

Email: [email protected]

Tóm tắt: Quá trình triển khai thực hiện nội dung Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đang gặp không ít những khó khăn, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Sau khi sáp nhập các tỉnh và thực hiện chính quyền hai cấp, hoạt động giáo dục địa phương vốn đã khó khăn lại tiếp tục nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương và đề xuất một số giải pháp đảm bảo chất lượng của hoạt động này trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Khó khăn, bất cập, giải pháp thực hiện, giáo dục địa phương

1. Mở đầu

Giáo dục địa phương (GDĐP) là một nội dung bắt buộc trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (GDPT 2018), nhằm gắn việc dạy học với thực tiễn văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội của địa phương. Đây là cách tiếp cận tiến bộ, góp phần hình thành phẩm chất, năng lực học sinh theo hướng phát triển toàn diện, bền vững. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế cho thấy còn nhiều khó khăn, bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy và chất lượng giáo dục. Không những thế, trong bối cảnh nhiều tỉnh, thành phố vừa thực hiện sáp nhập từ ngày 1/7/2025, dẫn tới nội dung giáo dục địa phương cũng cần có những thay đổi cho phù hợp với thực tế của từng địa phương. Vì vậy, hội thảo “Những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 – Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp” thực sự mang tính thời sự và có ý nghĩa thực tiễn. Bài tham luận này xin chia sẻ một số nhận định về thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục địa phương trong giai đoạn hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Thực trạng tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương

2.1.1. Thực trạng về nội dung chương trình

Nội dung môn GDĐP được thiết kế theo định hướng mở, giao cho các địa phương chủ động biên soạn tài liệu. Đây là điểm mạnh trong việc phát huy tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có sự thống nhất quan niệm về GDĐP là một môn học hay chỉ là những mảnh ghép nội dung giáo dục liên quan đến các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội của địa phương. Mặt khác, các địa phương chưa huy động được những chuyên gia, những nhà giáo có hiểu biết sâu sắc về các nội dung GDĐP tham gia vào biên soạn, thẩm định, nghiệm thu tài tiệu GDĐP. Vì thế, chất lượng tài liệu GDĐP không đồng đều, trong đó có một số nội dung còn mang tính mô tả, thiếu gắn kết với kiến thức của các môn học liên quan như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mĩ thuật.

2.1.2. Thực trạng về đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn GDĐP chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm từ các môn như Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn hoặc Giáo dục công dân. Nhìn chung các thầy cô đã được ít nhiều tập huấn về nội dung GDĐP, nhưng còn thiếu kỹ năng khai thác tư liệu địa phương vào giảng dạy những bài học thuộc chương trình GDĐP. Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên còn thiếu kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh, do đó không ít buổi trải nghiệm còn mang tính hình thức, chưa đạt tới mục tiêu giáo dục học sinh.

2.1.3. Thực trạng về phương pháp giảng dạy và tổ chức lớp học

Thông thường, giáo viên sử dụng các phương pháp giảng dạy môn học mà họ đã được đào tạo chuyên sâu vào giảng dạy các nội dung kiêm nhiệm về GDĐP nên chưa có nhiều phương pháp khơi dậy nhận thức, tình cảm ở học sinh đối với những vấn đề gần gũi với đời sống thực của họ ở từng địa phương. Do đó, không ít nội dung GDĐP còn được thực thực hiện một cách thiếu sinh động, không tạo được hứng thú học tập của học sinh. Việc tổ chức lớp học cho học sinh tham quan, trải nghiệm còn bị giới hạn bởi quỹ thời gian, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí ... nên ảnh hưởng tới chất lượng các hoạt động đó.

2.1.4. Thực trạng về nhận thức và quản lý giáo dục

Nội dung, phương pháp dạy học môn GDĐP còn chưa được định hình rõ nét, áp lực về kết quả dạy học các môn khác khá nặng, tất yếu sẽ dẫn đến nảy sinh ở người dạy, người học, người quản lý nhận thức, thái độ xem nhẹ nội dung GDĐP, coi đây là môn phụ trong chương trình giáo dục. Điều đó đã và đang ảnh hưởng không tốt tới động cơ, thái độ học tập môn GDĐP của học sinh, khiến hoạt động này thiếu chiều sâu và chưa tạo được sức lan tỏa tích cực.

2.2. Những khó khăn và bất cập

2.2.1. Chưa có chuẩn đầu ra rõ ràng đối với nội dung GDĐP theo từng cấp học, lớp học.

Hiện tại, chưa có bộ tiêu chuẩn cụ thể nào quy định chuẩn đầu ra của học sinh đối với môn GDĐP theo từng cấp học, lớp học. Điều này gây khó khăn trong việc biên soạn tài liệu dạy học, xây dựng mục tiêu bài học, thiết kế nội dung giảng dạy và tổ chức đánh giá kết quả học tập của học sinh.

2.2.2. Sự thiếu nhất quán giữa các địa phương về cấu trúc nội dung GDĐP và tính liên thông giữa các cấp học.

Hiện nay, mỗi tỉnh, thành phố xây dựng tài liệu GDĐP riêng, dẫn đến có sự khác biệt về cấu trúc nội dung môn học này giữa các địa phương. Do đó, học sinh chuyển trường đến tỉnh, thành phố khác sẽ gặp khó khăn trong tiếp cận nội dung GDĐP. Mặt khác, mối liên thông giữa GDĐP ở tiểu học, THCS và THPT còn mờ nhạt, thiếu tính kế thừa. Đặc biệt, sau khi sáp nhập tỉnh và thực hiện chính quyền 2 cấp, dẫn đến sự không phù hợp giữa tài liệu GDĐP đã xuất bản với địa danh mới, dẫn đến những bất cập trong tổ chức thực hiện. Điều đó đặt ra yêu cầu cần phải có một khung cấu trúc nội dung GDĐP thống nhất, đảm báo tính liên thông giữa các cấp học, trên cơ sở đó từng tỉnh, thành phố lựa chọn những nét đặc sắc về văn hóa, lịch sử, đại lý, kinh tế, xã hội của địa phương mình để biên soạn tài liệu dạy học môn học này.

2.2.3. Thiếu các điều kiện đảm bảo để triển khai dạy học nội dung GDĐP một cách có chất lượng, hiệu quả.

Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về GDĐP như: Thông tư số 33/2020/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 09 năm 2020, “Quy định việc thẩm định tài liệu giáo dục địa phương”; Công văn số 3536/BGDĐT-GDTH ngày 19/8/2019 về việc biên soạn, thẩm định nội dung giáo dục địa phương cấp Tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ năm học 2020-2021; Công văn số 5889/BGDĐT-GDTH ngày 27 tháng 09 năm 2024 về việc tăng cường công tác chỉ đạo về việc biên soạn, tổ chức dạy học, in và phát hành tài liệu giáo dục địa phương… nhưng việc đảm bảo kinh phí thực hiện còn hạn chế; khả năng huy động chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo vào biên soạn tài liệu GDĐP còn khó khăn; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về quản lý GDĐP chưa được nhiều; thẩm định, nghiệm thu tài liệu GDĐP chưa thực hiện được ở cấp quốc gia; tập huấn giáo viên kiêm nhiệm giảng dạy nội dung GDĐP chưa kỹ càng…

2.2.4. Hạn chế trong khai thác tư liệu địa phương phục vụ cho thực hiện nội dung GDĐP sau khi sáp nhập tỉnh.

Thực tế, tư liệu văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường ở các tỉnh, thành phố rất đồ sộ, phong phú nhưng thường được lưu giữ ở rất nhiều nơi như: các bảo tàng, nhà truyền thống, trung tâm văn hóa, các câu lạc bộ, các doanh nghiệp, các sách báo và trong dân gian… Để khai thác được các tư liệu đó, Sở Giáo dục và Đào tạo, từng nhà trường, từng giáo viên phải chủ động tìm kiếm, sưu tầm, hệ thống hóa văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội của địa phương, nhưng đến nay chúng ta làm chưa được nhiều dẫn đến nội dung GDĐP chưa gắn với thực tiễn sinh động của địa phương.

2.3. Đề xuất một số giải pháp

2.3.1. Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành văn bản chỉ đạo thống nhất trong toàn quốc về quy trình tổ chức thực hiện nội dung GDĐP theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018

Hiện nay đã có các văn bản quy định của Bộ GD&ĐT hướng dẫn thực hiện nội dung GD ĐP nhưng nhiều nội dung thiếu cụ thể, khó thực hiện. Điều đó dẫn đến tình trạng một số địa phương hết năm học rồi vẫn chưa có tài liệu GDĐP cho giáo viên và học sinh. Đôi khi không phải do địa phương thiếu nguồn lực mà chủ yếu do thiếu cơ chế quản lý cụ thể. Vì vậy, đòi hỏi các văn bản ban hành phải nhất quán và dễ thực hiện. Sau khi sáp nhập tỉnh, những văn bản đã ban hành của các địa phương cũ vẫn còn hiệu lực, việc thay đổi hợp nhất các văn bản này liên quan đến nhiều vấn đề trong thực tiễn, dẫn đến có những văn bản chưa thể thay đổi ngay được.

Khung chương trình giáo dục địa phương đã được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhưng việc hướng dẫn tổ chức thực hiện chưa đầy đủ. Khung chương trình GDĐP cần phải được các địa phương cụ thể hóa, quy định rõ mục tiêu, chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh theo từng cấp học, cấu trúc nội dung dạy học, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập. Theo đó, từng tỉnh, thành phố căn cứ vào nguồn tư liệu địa phương về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường để xác định nội dung dạy học phù hợp với khung chương trình môn GDĐP đã được Bộ GD-ĐT ban hành. Làm được như vậy chúng ta sẽ giúp cho GDĐP thực sự trở thành một môn học chính thức trong nhà trường.

Quảng cáo

2.3.2. Tổ chức tốt các hoạt động nghiên cứu khoa học, biên soạn, kiểm định tài liệu dạy học môn GDDP tại các tỉnh, thành phố.

Vừa qua, toàn quốc đã trải qua quá trình “sắp xếp lại giang sơn”, từ 63 đến nay cả nước còn 34 tỉnh, thành phố. Các tỉnh, thành phố mới sáp nhập không thể ghép một cách cơ học tài liệu GDĐP của các tỉnh, thành phố cũ làm tài liệu dạy học môn học này ở tỉnh, thành phố mới.

Để nâng cao chất lượng tài liệu môn GDĐP, trước hết phải triển khai các đề tài khoa học nghiên cứu về những nét tiêu biểu củavăn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường tại mỗi tỉnh, thành phố. Vừa qua, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đã có kế hoạch xây dựng trung tâm nghiên cứu, đào tạo về Hà Nội học, kết quả hoạt động của trung tâm này sẽ góp phần trực tiếp vào nâng chất lượng biên soạn tài liệu GDĐP của Hà Nội. Thiết nghĩ, cách đi này của Trường Đại học Thủ đô Hà Nội có thể vận dụng vào các địa phương khác trong việc khai thác, chuẩn bị tư liệu khoa học cho việc biên soạn tài liệu môn GDĐP.

Lực lượng biên soạn tài liệu môn GDĐP ở từng tỉnh, thành phố phải bao gồm những chuyên gia về các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường của địa phương và những nhà giáo có năng lực phù hợp. Để đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc biên soạn, thẩm định, nghiệm thu các tài liệu môn GDĐP, từng tỉnh, thành phố cần bố trí ngân sách tương xứng với nhiệm vụ khá phức tạp này. Đồng thời, Bộ GĐ-ĐT cần có quy định về cơ chế kiểm định chất lượng tài liệu GDĐP ở cấp tỉnh. Chỉ có như vậy tài liệu môn GDĐP mới có thể bảo đảm được tính khoa học, tính giáo dục và sát với thực tiễn địa phương.

2.3.3. Bồi dưỡng giáo viên tham gia giảng dạy môn GDĐP

Sau khi đã có khung chương trình rõ ràng và tài liệu dạy học môn GDĐP chuẩn, đồng thời xác định được giáo viên các bộ môn được kiêm nhiệm giảng dạy môn GDĐP, Sở GĐ-ĐT tỉnh, thành phố cần tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đặc thù về dạy học GDĐP cho giáo viên. Bên cạnh đó, từng địa phương cần xây dựng mô hình “cộng đồng học tập” dành cho giáo viên giảng dạy môn GDĐP chia sẻ kinh nghiệm sư phạm; tài liệu, tư liệu về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường.. .Cần phải có chính sách huy động các chuyên gia là nghệ sĩ, nghệ nhân, người hoạt động thực tiễn không phải là giáo viên nhưng có am hiểu sâu về những nội dung GDĐP cụ thể tham gia giảng dạy, hướng dẫn và cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng cho cả giáo viên và học sinh.

2.3.4. Ứng dụng công nghệ và số hóa tài liệu địa phương

Trong bối cảnh, hệ thống nhà trường đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, từng địa phương, từng trường cần chú trọng xây dựng kho học liệu điện tử về GDĐP để giáo viên và học sinh dễ dàng truy cập, tra cứu và sử dụng. Khuyến khích giáo viên sử dụng video, bản đồ số, phỏng vấn nhân chứng sống… để làm giàu nội dung bài giảng theo chương trình GDĐP.

Cần phải nghiên cứu, triển khai các mô hình, giải pháp ứng dụng công nghệ trong tổ chức thực hiện nội dung GDĐP cho học sinh phổ thông các tỉnh miền núi. Tập trung xây dựng học liệu số địa phương: video, podcast, bài giảng e-learning về phong tục, lịch sử, địa lý địa phương. Ứng dụng bản đồ số, GIS trong dạy học Địa lý địa phương. Số hóa văn hóa dân tộc như trò chơi dân gian, nhạc cụ, lễ hội, dựng clip, VR/AR. Khai thác nền tảng dạy học trực tuyến (Google Classroom, Moodle, K12Online, ViettelStudy). Sử dụng mạng xã hội giáo dục để học sinh chia sẻ sản phẩm tìm hiểu địa phương. Tổ chức dự án học tập số hóa như học sinh phỏng vấn người cao tuổi, quay phim – dựng clip giới thiệu địa phương.

Tăng cường ứng dụng công nghệ số trong tổ chức thực hiện nội dung GDĐP ở các trường phổ thông miền núi sẽ góp phần tăng hứng thú, chủ động học tập của học sinh. Góp phần bảo tồn, lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc. Giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học. Thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi trong tiếp cận công nghệ giáo dục.

2.3.5. Tăng cường kết nối cộng đồng và phát huy vai trò của địa phương trong dạy học môn GDĐP

Môn GDĐP cần được tổ chức dạy học một cách linh hoạt, sinh động, gắn với các hoạt động trải nghiệm, tham quan di tích, làng nghề, cơ sở sản xuất, các câu lạc bộ văn hóa – thể thao tại địa phương. Vì vậy, nhà trường phải chủ động thực hiện kết nối cộng đồng để huy động được các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác GDĐP. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục, cụ thể là Sở GD-ĐT và từng nhà trường phải phát huy được vai trò của chính quyền địa phương trong hỗ trợ kinh phí cho hoạt động dạy học môn GDĐP, đồng thời thu hút các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ) đóng góp công sức, trí tuệ vào các hoạt động giáo dục học sinh về tình yêu quê hương, đất nước.

3. Kết luận

Giáo dục địa phương là cầu nối quan trọng giữa nhà trường với cộng đồng, giữa học sinh với quê hương. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện, việc nâng cao chất lượng dạy học môn GDĐP không chỉ giúp học sinh phát triển năng lực cá nhân mà còn hình thành lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý thức công dân tích cực. Để làm được điều đó, cần có sự đồng bộ từ cơ chế chính sách, chương trình, tài liệu, đội ngũ đến sự chung tay của toàn xã hội. Tin rằng, với quyết tâm cao và hành động cụ thể, chúng ta sẽ từng bước tháo gỡ được những khó khăn, bất cập, đưa môn GDĐP trở thành một điểm sáng trong chương trình GDPT 2018.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Hà Nội.

[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Hướng dẫn xây dựng nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Hà Nội.

[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2022). Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT về quy định tiêu chí, quy trình xây dựng và tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông. Hà Nội.

[4]. Ủy ban Dân tộc. (2021). Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030. Hà Nội.

[5]. Mai Văn Trinh, Nguyễn Minh Tuấn, Bùi Văn Trung (2023), Thực trạng và giải pháp về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 khu vực miền núi phía Bắc, Tạp chí khoa học giáo dục Việt Nam tập 19, số 10.

[6]. Đoàn Thị Thúy Hạnh, Nguyễn Thị Chi, Võ Thanh Hà, Bùi Diệu Quỳnh, Nguyễn Thị Kiều Anh (2022), Thực trạng và đề xuất một số giải pháp biên soạn tài liệu giáo dục địa phương cấp Trung học cơ sở, Hội thảo thường niên năm 2022 - Trung tâm Phát triển bền vững chất lượng Giáo dục phổ thông Quốc gia.

[7]. Bùi Thanh Thủy, Hồ Thị Hồng Vân, Võ Thanh Hà, Lê Anh Tuấn, Đặng Minh Phượng (2024), Thực trạng triển khai tài liệu giáo dục địa phương lớp 10 năm học 2022 – 2023, Tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam số 2, tháng 02 năm 2024.

DIFFICULTIES, INADEQUACIES AND SOLUTIONS TO IMPLEMENTING LOCAL EDUCATION CONTENT ACCORDING TO THE 2018 GENERAL EDUCATION PROGRAM IN THE NEW CONTEXT

Dr. Nong Thi Thu Trang

Vietnam Institute of Educational Sciences

Email: [email protected]

Abstract: The implementation of the Local Education content according to the 2018 General Education Program is facing many difficulties and shortcomings in both content and implementation methods. After merging provinces and implementing two-level government, local education activities, which were already difficult, continue to have many problems that need to be solved. This article presents the results of a study on the current situation of difficulties and shortcomings in organizing the implementation of local education content and proposes some solutions to ensure the quality of this activity in the current context.

Keywords: Difficulties, shortcomings, implementation solutions, local education

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.