HỌC TẬP THÍCH ỨNG VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC VIÊN NHÀ TRƯỜNG QUÂN SỰ TRONG KỶ NGUYÊN CHUYỂN ĐỔI SỐ

06:20 | 30/01/2026
Trần Võ Đông Giang- Trường Đại học Nguyễn Huệ Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của học tập thích ứng và sáng tạo trong quá trình rèn luyện học viên sĩ quan trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở đánh giá thực trạng học tập, nghiên cứu các yếu tố tác động và thách thức của môi trường số, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, khả năng thích ứng và tư duy sáng tạo, góp phần hình thành phẩm chất toàn diện cho người sĩ quan tương lai. Từ k

Trần Võ Đông Giang-

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của học tập thích ứng và sáng tạo trong quá trình rèn luyện học viên sĩ quan trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở đánh giá thực trạng học tập, nghiên cứu các yếu tố tác động và thách thức của môi trường số, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, khả năng thích ứng và tư duy sáng tạo, góp phần hình thành phẩm chất toàn diện cho người sĩ quan tương lai.

Từ khóa: Học viên sĩ quan, học tập thích ứng, học tập sáng tạo, chuyển đổi số, tự giác, tự quản.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số trong quân đội, việc nâng cao chất lượng học tập của học viên sĩ quan không chỉ dựa vào phương pháp truyền thống mà còn đòi hỏi khả năng thích ứng và sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Muốn tiến bộ thì phải tự học, tự rèn luyện, không trông chờ người khác” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 45), điều này đặc biệt phù hợp trong môi trường số hóa, nơi thông tin và tri thức thay đổi nhanh chóng. Học viên cần chủ động khai thác công nghệ, linh hoạt thích ứng với môi trường học tập mới và sáng tạo trong nghiên cứu, ứng dụng kiến thức để đáp ứng yêu cầu đào tạo sĩ quan cách mạng, tinh nhuệ, hiện đại.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Khái niệm và nội dung học tập thích ứng và sáng tạo

2.1.1. Khái niệm học tập thích ứng và sáng tạo

Học tập thích ứng của học viên sĩ quan trong kỷ nguyên chuyển đổi số là quá trình chủ động tiếp nhận, xử lý và vận dụng kiến thức, kỹ năng và công nghệ mới để đáp ứng nhanh nhạy trước những thách thức và yêu cầu thay đổi của môi trường học tập, huấn luyện và nghiệp vụ trong Quân đội. Đây không chỉ là tiếp thu kiến thức, mà còn là khả năng linh hoạt điều chỉnh phương pháp học, tự đánh giá kết quả và đổi mới cách tiếp cận để phù hợp với bối cảnh số hóa sâu rộng.

Học tập sáng tạo là khả năng không ngừng vận dụng tri thức và công cụ công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, để đề xuất và thực hiện các giải pháp mới trong nghiên cứu, học tập và huấn luyện. Học tập sáng tạo giúp học viên vượt ra ngoài khuôn khổ học tập thụ động, phát triển tư duy độc lập, khai phá ý tưởng mới, đồng thời nâng cao năng lực xử lý tình huống phức tạp, phù hợp với yêu cầu đào tạo sĩ quan hiện đại.

Việc kết hợp học tập thích ứng và sáng tạo là nhân tố then chốt để xây dựng hệ thống kiến thức, phẩm chất và năng lực cho học viên sĩ quan trong thời đại số, khi yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 71‑NQ/TW của Bộ Chính trị (2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết này xác định chuyển đổi số và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trong giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện đại hóa phương pháp dạy và học, nâng cao kỹ năng số và năng lực đổi mới sáng tạo cho người học, tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu thời đại mới.

2.1.2. Nội dung học tập thích ứng và sáng tạo

Trong bối cảnh chuyển đổi số, học tập của học viên sĩ quan không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu kiến thức một cách thụ động, mà còn đòi hỏi khả năng thích ứng nhanh với biến đổi môi trường số hóa và phát triển tư duy sáng tạo để kiến tạo tri thức mới. Điều này phù hợp với quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được nêu tại Nghị quyết 29‑NQ/TW (2013), theo đó, học tập phải lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu, sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Đồng thời, Nghị quyết 71‑NQ/TW (2025) tiếp tục khẳng định chuyển đổi số là đột phá chiến lược để nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, trong đó trọng tâm là phát triển năng lực số, tư duy phản biện và sáng tạo của người học.

Nội dung học tập thích ứng và sáng tạo của học viên sĩ quan bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

Tiếp nhận và khai thác tri thức số hóa. Học viên cần nắm vững kỹ năng sử dụng các nền tảng học tập số, dữ liệu điện tử, các công cụ thông minh và ứng dụng công nghệ để truy cập, phân tích, tổng hợp và vận dụng tri thức. Đây không chỉ là việc nắm bắt kiến thức, mà là khả năng khai thác nguồn tri thức khổng lồ từ môi trường số để phục vụ học tập, huấn luyện và giải quyết các tình huống nghiệp vụ phức tạp. Việc trang bị nền tảng số hóa theo định hướng Nghị quyết 71/2025 là tiền đề để học viên thích ứng với phương thức học tập mới, bứt phá khỏi mô hình truyền thống.

Linh hoạt trong phương pháp học. Thích ứng với môi trường số hóa đòi hỏi học viên biết chủ động lựa chọn và điều chỉnh phương pháp học phù hợp với nội dung, bối cảnh và yêu cầu nhiệm vụ. Học viên không chỉ học cá nhân mà cần phối hợp học nhóm, học qua dự án, mô phỏng chiến thuật số, học qua tình huống thực tiễn, từ đó tạo nên cách tiếp cận phân tích – tổng hợp – ứng dụng hiệu quả hơn. Linh hoạt phương pháp học giúp học viên phát triển khả năng thích ứng trong nhiều bối cảnh khác nhau, qua đó hình thành năng lực tư duy toàn diện và khả năng ra quyết định nhanh, chính xác trong môi trường biến động.

Tư duy đổi mới và sáng tạo. Học tập sáng tạo là khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng và công nghệ để đề xuất giải pháp mới, đổi mới cách tiếp cận trong học tập và huấn luyện. Học viên phải biết đặt câu hỏi, tìm tòi, khai phá hướng đi mới và phát triển sáng kiến trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn huấn luyện – một yêu cầu quan trọng được nêu tại Nghị quyết 29/2013 nhằm thúc đẩy tinh thần sáng tạo trong giáo dục. Tư duy sáng tạo không chỉ giúp giải quyết vấn đề mới, mà còn là yếu tố then chốt để hình thành phẩm chất năng động, bản lĩnh và trách nhiệm của sĩ quan trong kỷ nguyên số.

Tự đánh giá và phản hồi. Học viên cần thường xuyên tự kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc học của bản thân; nhận diện điểm mạnh, điểm yếu; từ đó xây dựng kế hoạch tự rèn luyện và điều chỉnh lộ trình học tập nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Tự đánh giá và phản hồi là quá trình phản chiếu để học viên nhận thức rõ kết quả học tập, từ đó chủ động đề ra mục tiêu và biện pháp cụ thể để phát triển năng lực. Đây cũng là biểu hiện của quá trình học tập suốt đời – một trong những mục tiêu chiến lược của đổi mới giáo dục hiện nay.

Tổ chức và phát triển những nội dung này trong học tập giúp học viên sĩ quan không chỉ thích ứng kịp với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường số hóa mà còn chủ động tạo ra tri thức mới, biến công nghệ thành công cụ phục vụ tư duy và sáng tạo trong học tập và huấn luyện. Điều này là điều kiện cần thiết để đáp ứng yêu cầu đào tạo sĩ quan cách mạng, tinh nhuệ, hiện đại, phù hợp với cả đòi hỏi về đổi mới giáo dục và định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội hiện nay.

2.2. Yêu cầu và giải pháp phát huy học tập thích ứng và sáng tạo của học viên sĩ quan

2.2.1. Yêu cầu phát huy học tập thích ứng và sáng tạo của học viên sĩ quan

Một là, học viên phải thích ứng nhanh với môi trường học tập số hóa.

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ và toàn diện, việc nắm bắt và vận dụng tri thức, công nghệ thông minh, dữ liệu điện tử và các phương tiện học tập trực tuyến không chỉ là một kỹ năng bổ trợ mà trở thành yêu cầu sống còn đối với mỗi học viên. Khả năng thích ứng nhanh đòi hỏi học viên phải chủ động tiếp nhận, phân tích và khai thác tri thức số hóa, đồng thời linh hoạt áp dụng vào học tập, huấn luyện, nghiên cứu và thực hành nghiệp vụ.

Việc thích ứng hiệu quả không chỉ nâng cao chất lượng học tập mà còn giúp học viên phát triển tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo trong môi trường quân sự hiện đại, nơi các tình huống thay đổi nhanh và yêu cầu ra quyết định chính xác. Theo Nghị quyết số 29/NQ-TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc phát triển năng lực chủ động và thích ứng của học viên là một trong những mục tiêu then chốt để tạo ra đội ngũ cán bộ, học viên linh hoạt, sáng tạo và đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số (Nguồn: Văn phòng Chính phủ, 2013).

Hơn nữa, khả năng thích ứng nhanh còn tạo nền tảng cho học viên tự học, tự nghiên cứu và phát triển năng lực suốt đời, giúp họ không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ hiện tại mà còn sẵn sàng đối mặt với những thách thức mới trong công tác và huấn luyện, góp phần xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, thông minh và sáng tạo.

Hai là, học viên cần phát triển tư duy sáng tạo và tự quản trong học tập.

Đây là yêu cầu không thể tách rời, bao gồm khả năng tìm tòi, đặt câu hỏi, đề xuất giải pháp mới và cải tiến phương pháp học tập, huấn luyện. Học viên phải hình thành thói quen tự đánh giá, tự học, tự rèn, xây dựng kế hoạch rèn luyện cá nhân, điều chỉnh phương pháp học tập để nâng cao hiệu quả, phù hợp với định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29/2013. Đồng thời, học viên phải kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, linh hoạt vận dụng kiến thức vào huấn luyện, nghiên cứu khoa học và các tình huống tác chiến, đáp ứng mục tiêu đào tạo sĩ quan cách mạng, tinh nhuệ, hiện đại theo định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong Nghị quyết 71/2025.

Với hai yêu cầu trên, học viên không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển toàn diện năng lực thích ứng và sáng tạo, hình thành phẩm chất chính trị, đạo đức, kỷ luật và năng lực thực hành, đảm bảo đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ trong môi trường quân đội số hóa và hội nhập quốc tế.

2.2.2. Giải pháp phát huy học tập thích ứng và sáng tạo của học viên sĩ quan

Một là, nâng cao nhận thức và động cơ học tập của học viên.

Quảng cáo

Việc nâng cao nhận thức và động cơ học tập có ý nghĩa then chốt trong việc hình thành năng lực thích ứng và sáng tạo của học viên sĩ quan. Khi nhận thức đúng về vai trò và ý nghĩa của học tập thích ứng, học viên sẽ xác định rõ trách nhiệm tự quản, tự học, tự rèn, từ đó chủ động phát triển kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cá nhân phù hợp với yêu cầu đào tạo sĩ quan hiện đại.

Nội dung thực hiện bao gồm việc giúp học viên hiểu rõ tầm quan trọng của học tập thích ứng và sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, nhận thức về yêu cầu năng lực và phẩm chất toàn diện cần đạt được trong quá trình học tập, huấn luyện và nghiên cứu. Học viên cần nắm bắt các công nghệ số, khai thác tri thức điện tử và các phương tiện học tập trực tuyến, đồng thời hình thành thói quen tự đánh giá, tự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân.

Biện pháp thực hiện là nhà trường tăng cường giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, nghị quyết về giáo dục, đặc biệt là Nghị quyết 29/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng Nghị quyết 71/2025 về chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo. Thông qua các hoạt động này, học viên sẽ hình thành động cơ học tập chủ động, sáng tạo và tự giác, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực sĩ quan tinh nhuệ, hiện đại trong môi trường quân đội số hóa.

Hai là, tạo môi trường và phương tiện học tập số hóa thuận lợi.

Giải pháp này không chỉ đơn thuần là trang bị công cụ học tập mà còn là nền tảng để hình thành năng lực học tập chủ động, sáng tạo và thích ứng của học viên trong kỷ nguyên số. Việc xây dựng một môi trường học tập số hóa toàn diện bao gồm hạ tầng công nghệ hiện đại, nền tảng học tập trực tuyến, tài liệu số, phần mềm mô phỏng và các công cụ huấn luyện thông minh, giúp học viên không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn biết khai thác, phân tích và áp dụng tri thức đó một cách linh hoạt.

Việc này phù hợp với Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh “xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và phương tiện học tập hiện đại để nâng cao hiệu quả giáo dục và phát triển năng lực người học”. Đồng thời, Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 22/08/2025 cũng chỉ đạo “đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, đầu tư hạ tầng số hóa, ứng dụng công nghệ số trong dạy và học, nâng cao năng lực số cho người học”

Thông qua việc khuyến khích học viên sử dụng tối đa các công cụ số hóa, giải pháp góp phần nâng cao năng lực số, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng tự học – những yếu tố quyết định để thích ứng với môi trường công nghệ biến đổi nhanh chóng. Về biện pháp thực hiện, cần một chiến lược đầu tư bài bản: nâng cấp hạ tầng công nghệ, cung cấp công cụ học tập số hiện đại, đồng thời tổ chức hướng dẫn, đào tạo học viên sử dụng hiệu quả các nền tảng số hóa. Khi đó, mọi hoạt động học tập sẽ không chỉ diễn ra thông suốt mà còn đạt hiệu quả cao về chất lượng, đồng thời hình thành nền tảng vững chắc cho năng lực số và khả năng đổi mới sáng tạo của học viên.

Ba là, nâng cao năng lực sư phạm số và kỹ năng tự học cho giảng viên.

Giải pháp này nhấn mạnh vai trò trung tâm của đội ngũ giảng viên trong việc định hướng, hỗ trợ học viên khai thác hiệu quả các nền tảng học tập số, đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số sâu rộng. Để triển khai, cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy trực tuyến, sử dụng công cụ số hóa và phần mềm mô phỏng; đồng thời phát triển kỹ năng thiết kế bài giảng linh hoạt, hấp dẫn và thích ứng với nhu cầu học tập đa dạng của học viên.

Khi giảng viên có năng lực số vững vàng, họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn tạo môi trường kích thích học viên chủ động nghiên cứu, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Biện pháp thực hiện bao gồm: đào tạo liên tục cho giảng viên, xây dựng ngân hàng tài nguyên số hỗ trợ giảng dạy, khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm và thực hành mô hình lớp học đảo ngược, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục, đồng bộ với xu hướng chuyển đổi số trong đào tạo quân sự.

Điều này phù hợp với Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh: “Tăng cường năng lực số của đội ngũ giảng viên, phát triển năng lực tự học, chủ động khai thác tài nguyên số và đổi mới phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong thời kỳ chuyển đổi số toàn diện”. Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp này sẽ giúp giảng viên trở thành những kiến tạo tri thức trong môi trường số, đồng thời tạo động lực và định hướng học tập suốt đời cho học viên.

Bốn là, xây dựng cơ chế đánh giá, phản hồi và hoàn thiện quá trình học tập số hóa.

Giải pháp này nhằm đảm bảo mọi hoạt động học tập số hóa được theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo. Việc xây dựng cơ chế đánh giá toàn diện bao gồm: đánh giá quá trình học tập, đánh giá kết quả đạt được, thu thập phản hồi của học viên và giảng viên, đồng thời phân tích dữ liệu học tập để rút ra những cải tiến cần thiết.

Việc này cũng được quán triệt theo Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh “xây dựng hệ thống đánh giá khách quan, toàn diện, gắn kết giữa giảng viên và học viên, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và theo dõi chất lượng giáo dục”. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ đạo phát triển giáo dục số hóa và nâng cao năng lực học tập suốt đời cho mọi cán bộ, học viên, trong đó cơ chế đánh giá, phản hồi và hoàn thiện là yếu tố then chốt.

Thông qua cơ chế này, học viên sẽ được định hướng rõ ràng về mục tiêu học tập, đồng thời nhận được phản hồi chính xác để cải thiện kỹ năng tự học, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Biện pháp thực hiện gồm thiết lập hệ thống quản lý học tập trực tuyến, tích hợp công cụ theo dõi tiến trình, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuẩn và tổ chức các phiên họp phản hồi định kỳ giữa giảng viên và học viên. Khi đó, quá trình học tập không chỉ minh bạch và khoa học mà còn liên tục được hoàn thiện, góp phần nâng cao năng lực toàn diện cho học viên trong môi trường số hóa, phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước.

Năm là, thúc đẩy văn hóa học tập suốt đời và sáng tạo trong môi trường số.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số sâu rộng, việc xây dựng một văn hóa học tập suốt đời không chỉ là khuyến nghị về thái độ học tập mà trở thành một phương thức sống, một yêu cầu chiến lược để mỗi học viên và tổ chức khai thác tri thức hiệu quả, phản ứng nhanh với thay đổi và thích nghi với môi trường năng động. Văn hóa này giúp học viên duy trì thói quen học chủ động, liên tục và sáng tạo, không chỉ tiếp thu kiến thức mà biết cách tự phát triển năng lực cá nhân xuyên suốt quá trình học tập và công tác. Theo UNESCO, trong thời đại số hóa, việc xây dựng một xã hội học tập – nơi mọi người liên tục được tạo điều kiện để học tập, cập nhật kỹ năng và kiến thức mới – là điều thiết yếu để thích ứng với biến động công nghệ và xã hội toàn cầu.

Văn hóa học tập suốt đời trong môi trường số không chỉ đến từ việc chủ động khám phá nguồn tri thức số hóa mà còn từ một môi trường thúc đẩy chia sẻ, phản biện và hợp tác học tập, giúp học viên tương tác, trao đổi kinh nghiệm và phát triển tư duy phản biện. Các nghiên cứu giáo dục cũng xác định học tập suốt đời là động lực thúc đẩy phát triển cá nhân và nghề nghiệp trong môi trường thay đổi nhanh chóng, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức và xã hội.

Biện pháp thực hiện cần được triển khai đồng bộ và sáng tạo: tổ chức các hoạt động học tập nhóm, các cuộc thi, dự án nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số; tích cực sử dụng các nền tảng học trực tuyến, kho tài nguyên số mở; đồng thời ghi nhận và tôn vinh sáng kiến học tập và đổi mới để tạo động lực nội tại cho học viên. Việc ghi nhận các kết quả học tập suốt đời – ví dụ như đưa vào hệ thống đánh giá, chứng chỉ năng lực số hay tiêu chí thi đua – sẽ góp phần hình thành một môi trường học tập số hóa năng động. Khi văn hóa này được củng cố, học viên sẽ tự chủ hơn trong việc phát triển năng lực cá nhân, nâng cao tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường số, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện và xây dựng lực lượng tri thức sáng tạo, thích ứng với tương lai.

3. Kết luận

Nâng cao hiệu quả học tập các môn khoa học xã hội và nhân văn trong môi trường số hóa đòi hỏi tiếp cận toàn diện và đồng bộ. Việc triển khai năm giải pháp – thích ứng nhanh với môi trường số, phát triển tư duy sáng tạo và tự quản, nâng cao năng lực sư phạm số cho giảng viên, xây dựng cơ chế đánh giá và phản hồi, thúc đẩy văn hóa học tập suốt đời – giúp học viên nâng cao năng lực số, tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và tự học, đồng thời hình thành lực lượng sĩ quan tinh nhuệ, hiện đại.

Các giải pháp này phù hợp với Nghị quyết 29/NQ-TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị quyết 71/NQ-CP (2025) về chuyển đổi số trong giáo dục, tạo nền tảng cho môi trường học tập số hóa hiệu quả, liên tục được hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực toàn diện cho học viên./.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phá triển giáo dục và đào tạo.

[2] Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QD-TTg Phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết 29-NQ/TW về "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa"

[4] Quân ủy Trung ương, Nghị quyết lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, Số 1657-NQ/QUTW ngày 20/2/2022.

ADAPTIVE AND CREATIVE LEARNING OF MILITARY ACADEMY CADETS IN THE ERA OF DIGITAL TRANSFORMATION

Tran Vo Đong Giang

Nguyen Hue University

Email: [email protected]

Abstract: This article analyzes the role of adaptive and creative learning in the training process of military academy cadets in the context of digital transformation. Based on an assessment of the current state of learning and an examination of the influencing factors and challenges of the digital environment, the article proposes solutions to enhance self-directed learning, adaptability, and creative thinking, contributing to the development of well-rounded qualities in future officers.

Keywords: Military cadets, adaptive learning, creative learning, digital transformation, self-discipline, self-management

.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.