Hiệp định Pari 1973 – Khát vọng hòa bình, niềm tin chiến thắng

10:29 | 19/01/2023
Sau thất bại của “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tiến hành thiết lập chiến lược “Chiến tranh cục bộ” với nỗ lực quân sự cao nhất nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; hy vọng sớm trở thành “sen đầm quốc tế”.

Sau thất bại của “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tiến hành thiết lập chiến lược “Chiến tranh cục bộ” với nỗ lực quân sự cao nhất nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; hy vọng sớm trở thành “sen đầm quốc tế”.

Vì vậy, Tổng thống Mỹ R. Nixon đã dùng mọi thủ đoạn để lùi bước trong thương lượng với ta ở Pari và xuống thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Tuy nhiên, Mỹ đã thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam, nhất là sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968; buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari.

Hiệp định Pari 1973 – Khát vọng hòa bình, niềm tin chiến thắng

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Trong các phiên họp, phía Việt Nam tập trung vào hai vấn đề mấu chốt nhất là đòi Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ có quan điểm ngược lại: đòi quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam và từ chối ký dự thảo Hiệp định do phía Việt Nam đưa ra (tháng 10-1972). Ngay sau đó, mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Thủ đô Hà Nội - Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 với ý đồ buộc phía Việt Nam phải ký vào dự thảo Hiệp định do Mỹ đưa ra. Nhưng Mỹ đã thất bại. Cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 của không lực Hoa Kỳ vào Thủ đô Hà Nội - Hải Phòng đã bị quân và dân ta đập tan, thắng lợi của trận "Điện Biên Phủ trên không" làm nức lòng nhân dân cả nước và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Quảng cáo

Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam chính thức được ký kết ngày 27-1-1973 và bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ sáng ngày 28-1-1973. Nội dung Hiệp định nêu rõ: (1) Mỹ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; (2) Mỹ rút hết quân về nước, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam; (3) Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị; (4) Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.

Hội nghị Pari và Hiệp định Pari mãi mãi đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam như một sự kiện vĩ đại, mang đậm dấu ấn Thời đại Hồ Chí Minh; phản ánh sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng, trên cơ sở chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài 4 năm 8 tháng 20 ngày như tại Hội nghị Pari với 202 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn (phiên họp đầu tiên ngày 13-5-1968 đến khi đạt được dự thảo Hiệp định Pari về Việt Nam (tháng 10-1972). Hiệp định Pari được ký kết đánh dấu thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu trí, đấu lý của cuộc tranh chống Mỹ, cứu nước. Nhân dân ta đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới thực hiện mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, đặt nền móng vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1975.

Cội nguồn của thắng lợi này là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập, tự do của nhân dân ta; là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao đầy bản lĩnh và trí tuệ, đã kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự; phản ánh phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân. Chúng ta đã thực hiện tốt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “thêm bạn, bớt thù”, dự báo thời cơ và nắm bắt đúng thời cơ để đi đến thắng lợi quyết định.

Nhìn lại sự kiện ký kết Hiệp định Pari, chúng ta rút ra nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa thế giới quan, phương pháp luận khoa học đối với việc vận dụng vào việc xử lý các vấn đề đối ngoại hiện nay; đó là:

(1) Kiên định, vững vàng mục tiêu chiến lược và nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”; luôn khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược; cực lực lên án tội ác chiến tranh. Linh hoạt, mềm déo trong xử lý các tình huống cụ thể nhưng không từ bỏ các nguyên tắc mà Đảng ta đã xác định và kiên trì chứng minh sức mạnh, niềm tin chiến thắng… Hiện nay, cần vận dụng sáng tạo “dĩ bất biến ứng vạn biến” vào xử lý vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam ở các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa với sự linh hoạt, mềm dẻo trong thực hiện các biện pháp đấu tranh, phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế.

(2) Kết hợp chặt chẽ nhiều phương thức, nhiều lĩnh vực nhằm nâng cao vị trí, vai trò của hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng. Kiên quyết giữ vững quan điểm của Đảng khi đối tác, đối tượng đưa ra các yêu sách phi lý về nhân quyền, về các vấn đề nội bộ, về nền kinh tế thị trường…Bằng lý lẽ cụ thể về các thành tựu bảo vệ quyền con người ở Việt Nam để bác bỏ các quan điểm sai trái. Giữ vững quan điểm hội nhập, hòa nhập chứ không hòa tan; đổi mới không đổi màu và sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

(3) Dựa vào sức mình là chính nhưng tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế; tận dụng tốt sự cổ vũ lớn lao của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới để xử lý các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam. Kết hợp sự ủng hộ đó để biến nó thành sức mạnh vật chất khi kết hợp với các sức mạnh khác từ nội lực của chúng ta, nhất là từ sức mạnh của chính trị, kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, an ninh; sự ủng hộ và tin tưởng của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

50 năm đã trôi qua kể từ ngày Hiệp định Pari được ký kết đến nay đến nay. Thời gian trôi thật nhanh, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc, đất nước ta đã “thay da đổi thịt” với nhiều tiềm năng và sức sống mới. Chúng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới 37 năm, thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung, phát triển 2011) 32 năm; đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử… Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta có quyền nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của Thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Ôn lại sự kiện này với niềm tự hào, niềm tin và sức mạnh to lớn về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta anh hùng. Đây là tài sản vô cùng quý báu, hành trang cần thiết để thế hệ trẻ hôm nay “lập thân, lập nghiệp, vào đời”; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Phát huy vai trò của Hội Cựu giáo chức qua 5 năm thực hiện chủ trương “bốn cùng”

Tại Hội nghị Tổng kết năm học của Ngành GD&ĐT Nghệ An do UBND tổ chức ngày 17/8/2026

CHI HỘI CỰU GIÁO CHỨC ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI TRAO TẶNG SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN TRƯỜNG TIỂU HỌC, TRUNG HỌC CƠ SỞ TRẦN VĂN ƠN- XÃ BOM BO THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

TCGCVN - Chi hội Cựu giáo chức Trường Đại học Đồng Nai là tổ chức xã hội trực thuộc Trường Đại học Đồng Nai, Hội Cựu Giáo Chức thành phố Đồng Nai, tập hợp các cán bộ, giáo viên hưu trí của trường. Chi hội thực hiện vai trò chăm lo đời sống tinh thần cho hội viên, giữ gìn truyền thống đạo lý "tôn sư trọng đạo" và tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội góp phần xây dựng địa phương và giáo dục thế hệ trẻ…

TẠP CHÍ GIÁO CHỨC VIỆT NAM – Hành trình 20 năm xây dựng và trưởng thành

Tạp chí Giáo chức Việt Nam tròn 20 năm xây dựng và phát triển là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt đối với những người làm báo, làm khoa học giáo dục và các thế hệ nhà giáo Việt Nam. Từ những ngày đầu hoạt động trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, Tạp chí đã từng bước khẳng định vị trí là một diễn đàn khoa học giáo dục, nơi kết nối, chia sẻ và lan tỏa tri thức trong cộng đồng nhà giáo. Hai thập kỷ đã đi qua, hành trình ấy được ghi dấu không chỉ bằng hàng trăm số báo và hàng nghìn công trình khoa

Lan tỏa triết lý giáo dục, khẳng định bản sắc của một ngôi trường tiên phong đổi mới

TCGCVN - Chiều ngày 08/8/2026, tại Trường THPT Đông Đô (Hà Nội), Trường THPT Đông Đô phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Sư phạm tổ chức Hội thảo khoa học giới thiệu cuốn sách "Bản sắc Đông Đô trong tiến trình đổi mới giáo dục Việt Nam" của TS. Võ Thế Quân, Chủ tịch Hội đồng Trường THPT Đông Đô. Sự kiện là một trong những hoạt động trọng điểm chào mừng 35 năm thành lập Trường THPT Đông Đô (1991–2026), thu hút sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà giáo lão thành, đại d

GIÁO SƯ, VIỆN SĨ PHẠM MINH HẠC – NHÀ KHOA HỌC XUẤT SẮC VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ GIÁ TRỊ KHAI SÁNG VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

TCGCVN - Ngày 31/7/2026, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông là mất mát lớn đối với nền giáo dục, khoa học tâm lý và khoa học giáo dục Việt Nam. Với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, Tạp chí điện tử Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và sự nghiệp của một nhà giáo dục lớn, người đã cống hiến trọn đời cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.