TS. NGƯT Nguyễn Phú Tuấn -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Tóm tắt: Trong chặng đường 80 năm của nền giáo dục cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới việc phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi, trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo. Thông qua các chủ trương, chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển, sự nghiệp giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi đã có những chuyển biến vượt bậc. Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của giáo dục miền núi phía Bắc, vùng dân tộc thiểu số trong 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ khóa: Giáo dục, miền núi, phía Bắc, vùng dân tộc thiểu số.
Nhận bài: 30/8/2025; Biên tập:3/9/2025; Duyệt đăng: 4/9/2025
1. Mở đầu
Miền núi phía Bắc nước ta là một vùng đất rộng lớn, nhiều núi cao, vực sâu, núi rừng trùng điệp, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Đây là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, mật độ dân cư thưa thớt, dân sống phân tán rải rác ven sông suối, sườn núi đồi. Từ xa xưa là vùng kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, chậm phát triển.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, năm 1945, được sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí minh, Đảng và Nhà nước, nền giáo dục cách mạng đã khai trí, mở đường cho miền núi, vùng đồng bào của các dân tộc thiểu số vươn mình mạnh mẽ phát triển cùng đất nước. Đó là một trong những thành tựu rực rỡ của nền giáo dục cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua.
2. Nội dung Nghiên cứu
2.1. Khái quát chung về các tỉnh miền núi phía Bắc
2.1.1. Đặc điểm môi trường tự nhiên, xã hội miền núi phía Bắc
Các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có đặc điểm chung là địa hình đa dạng với núi non trùng điệp, tạo ra nhiều cơ hội cho phát triển du lịch sinh thái và văn hóa. Đây là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của cả nước; có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ; có tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu.
Mặc dù vậy, điều kiện địa lý tự nhiên và xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc cũng chứa đựng nhiều khó khăn nổi bật. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thường là dân cư thưa thớt, xa các trung tâm kinh tế, văn hóa, giao thông đi lại khó khăn. Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thường xuyên gây thiệt hại cho các nhà trường, khó khắc phục. Mỗi lần có thiên tai, mưa lớn kèm với lũ quét, sạt lở đất tàn phá bản làng dọc các tỉnh từ miền núi phía Bắc, để lại sau đó, nhiều điểm trường đã biến mất, nhiều phòng học kiên cố bị vùi lấp trong bùn và đất đá, phần lớn trang thiết bị dạy- học của thầy và trò bị phá hủy ... khiến cho cơ sở vật chất của giáo dục vùng cao vốn đã thiếu thốn lại càng thiếu và yếu hơn. Những lúc như vậy, việc học của học sinh sẽ bị gián đoạn, địa phương và Nhà nước sẽ phải đầu tư kinh phí để khôi phục trường, lớp. Giáo viên, đặc biệt là các giáo viên từ miền xuôi lên và học sinh khó mà an tâm với việc dạy và học.
2.1.2. Tình hình giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trước năm 1945
Miền núi phía Bắc, vùng dân tộc thiểu số từ xa xưa đã là nơi kinh tế - xã hội chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, ít có người được học hành. Mãi đến năm 1855 thời Vua Tự Đức mới đặt ngạch học sinh cho các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hưng Hòa, Quảng Yên... mỗi nơi được chọn từ 3 đến 6 người được trừ việc đi lính, tạp dịch, được cấp học bổng đi học. Tuy Nhà Nguyễn đã có những chính sách tích cực khuyến khích việc học ở các địa phương xa xôi, nhưng cũng không đem lại hiệu quả. Tính từ khóa thi đầu tiên thời Nguyễn (1807) đến khoa thi cuối cùng (1919), cả nước có 5.252 người đỗ cử nhân, hương cống, nhưng không có người nào quê ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Thời Pháp thuộc, giáo dục với mục đích chủ yếu đào tạo những người làm thông ngôn, làm việc cho bộ máy cai trị của chính quyền Pháp. Các tỉnh miền núi, vùng dân tộc có những trường học nhỏ lẻ dành cho con những người giàu có, con nhà quyền quý. Theo tác giả Nguyễn Trọng Báu (Giáo dục Việt Nam thời cận đại, NXB Khoa học xã hội, 2015), số học sinh các trường công lập ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc năm 1930 có tổng số 12.879 học sinh, trong đó chỉ có 1 học sinh người Lô Lô, 12 học sinh người Thái. Cụ thể ở các tỉnh:
|
Tỉnh |
Số học sinh |
Tỉnh |
Số học sinh |
|
Hà Giang |
147 |
Lạng Sơn |
3.895 |
|
Bắc Kạn |
1.251 |
Lào Cai |
403 |
|
Cao Bằng |
3.318 |
Sơn La |
480 |
|
Hải Ninh |
809 |
Tuyên Quang |
537 |
|
Hòa Bình |
255 |
Thái Nguyên |
1293 |
|
Lai Châu |
89 |
Yên Bái |
1.378 |
2.2. Giáo dục miền núi phía Bắc, vùng dân tộc thiểu số từ năm 1945 đến nay
2.2.1. Giai đoạn 1945 - 1954.
Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta. Hơn 95% đồng bào ta mù chữ. Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ”. Đề nghị của Người được Hội đồng Chính phủ thông qua thành quyết định. Ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành 3 sắc lệnh quan trọng về giáo dục:
- Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nhà Bình dân học vụ.
- Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học với ít nhất 30 người.
- Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ và không mất tiền, hạn một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.
Tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống nạn thất học. Người khẳng định: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí” và Người khuyên và kêu gọi mọi người Việt Nam “Trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”; “những người biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ... Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làng trên xóm dưới, miền ngược, miền xuôi sôi nổi phong trào “diệt giặt dốt”. Ban Bình dân học vụ của tỉnh, huyện được thành lập. Những tỉnh miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số xa xôi, khó khăn nhất như: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng... sôi nổi tham gia với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Địa điểm lớp học là nhà dân, nơi nào có thể tụ tập được là thành lớp học xóa mù chữ. Để khuyến khích phong trào xóa mù chữ, người ta dựng “cổng quang” cho người biết chữ, “cổng mù” cho người chưa biết chữ, ở cổng vào làng bản, ở chợ ai đọc được chữ mới được đi qua. Đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực hưởng ứng, hăng hái đi học các lớp xóa mù chữ, bình dân học vụ. Công tác xóa mùi chữ đã trở thành một bộ phận của cách mạng gắn với việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia phong trào “kháng chiến, kiến quốc”. Phong trào vận động: “Có biết chữ kháng chiến mới thắng lợi”, “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương diệt giặc dốt”...
Tại các tỉnh vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến (ATK) Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn,... phong trào xóa mù chữ còn để làm cách mạng “đi học là yêu nước”. Bác Hồ về nước chỉ đạo phong trào cách mạng của dân tộc (1941), từ Pắc Pó (Cao Bằng), những cán bộ cách mạng đã mang đến cho đồng bào các dân tộc ánh sáng văn hóa, giác ngộ cách mạng. Bác đã tặng vở và bài thơ cho Nông Thị Trương cũng là động viên phong trào học chữ, biết chữ để làm cách mạng.
“Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà”. (Bài thơ Bác viết vào Tháng 8/1947).
Để đón tiếp con em các gia đình cán bộ, chiến sĩ đi tản cư, con em các dân tộc thiểu số ở địa phương có nơi học tập, Chính phủ đã cho mở các trường tiểu học, trung học. Tại tỉnh Tuyên Quang, tháng 9/1946 thành lập Trường Thi sách, sau đổi tên thành Trường Tân Trào. Năm học đầu tiên có 50 học sinh lớp đệ nhất. Năm học 1950 - 1951, trường chuyển sang hệ thống giáo dục 9 năm, có 3 lớp 5, 3 lớp 6, 1 lớp 7. Năm học 1953 - 1954, trường có 10 lớp trong đó có 1 lớp 8, 1 lớp 9. Trường đã có những học sinh trực tiếp tham gia vào công cuộc kháng chiến của dân tộc như đi bộ đội, vào đoàn văn công quân đội, tham gia các đoàn chuẩn bị đình chiến, đưa đón tù binh Pháp, một số được cử đi học nước ngoài, 25 người được chọn vào các đoàn chuẩn bị tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Trường Tân Trào (Tuyên Quang) là một trong những trường trung học đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở vùng chiến khu, cùng với một số trường như: Việt Bắc (Lạng Sơn 1948), Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên)...
Năm 1950, Chính phủ thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, thay thế nền giáo dục do thực dân Pháp để lại bằng nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Hệ thống giáo dục 9 năm: Gồm 3 cấp; 2 lớp (8,9). Tạo điều kiện cho giáo dục miền núi phát triển.
Tại tỉnh Sơn La, sau Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, tỉnh Sơn La cơ bản được giải phóng. Người dân Sơn La bát tay ngay vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, lĩnh vực giáo dục được quan tâm. Nhiều con em các dân tộc được cử đi học, đào tạo thành giáo viên, cán bộ y tế. Hàng trăm giáo viên miền xuôi đã xung phong lên Sơn La mang văn hóa, tiếng nói, chữ viết của Đảng, của Bác Hồ đến với bản làng các dân tộc thiểu số. Năm học 1952 - 1953 mở được 4 trường học mới với hơn 100 học sinh. Năm học 1953 - 1954, Sơn La mở thêm được 14 trường với 4.511 học sinh các lớp.
Đến năm học 1953 - 1954, thống kê chưa đầy đủ, giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc (từ Nghệ An trở ra) đã có: Cấp 1: 35.500 học sinh; cấp 2: có 27.000 học sinh. Những vùng đông dân cư có trường cấp 1, thị xã có trường cấp 2. Một số nơi có trường nội trú cho con em dân tộc thiểu số.
Bộ Giáo dục cũng đã tổ chức nghiên cứu chữ viết của các dân tộc. Tỉnh Sơn La chữ Thái từng bước được đưa ra trường học.
2.2.2. Giai đoạn 1955 - 1975.
Bối cảnh lịch sử: Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đồng thời hoàn thành cải cách ruộng đất. Tuy nhiên có một số sai lầm trong cải cách ruộng đất và những khó khăn sau cuộc kháng chiến ; những phần tử phản động tăng cường các hoạt động phá hoại về mọi mặt.
Mùa hè 1958, Bộ Giáo dục đã mở lớp học chính trị cho 3.200 giáo viên cấp II, III, toàn quốc. Lớp học đã quán triệt tính chất của nhà trường mới, nhà trường phục vụ CNXH, đào tạo con người XHCN có văn hóa, có sức khỏe để tham gia sản xuất, tích cực xây dựng XHCN, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Tháng 9/1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng xác định phương hướng phát triển sự nghiệp giáo dục theo quy mô lớn, bồi dưỡng thế hệ trẻ phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới. Đại hội chỉ ra nguyên lý giáo dục: “Phải nắm vững nguyên lý giáo dục kết hợp với thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục của xã hội.
Ngày 5/8/1964, máy bay Mỹ ném bom xuống Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hóa mở đầu thời kỳ đế quốc Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, giáo dục miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và cả nước đã thực hiện: “Làm tốt công tác phòng không, duy trì phong trào thi đua dạy tốt - học tốt”.
Ngày 15/10/1968, Bác Hồ gửi thư cho toàn ngành Giáo dục nhân dịp khai giảng năm học 1968 - 1969. Bác Hồ căn dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật”. Đây là bức thư cuối cùng Bác Hồ viết cho ngành Giáo dục.
Một số thành tựu giáo dục. Miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc từng là căn cứ địa cách mạng, thủ đô kháng chiến, bước vào giai đoạn xây dựng CNXH yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng này trở nên cấp bách hơn, tuy có những điều kiện thuận lợi hơn, song khó khăn, thiếu thốn cũng còn khá lớn. Về giáo dục còn nhiều khó khăn, bất cập. Sau khi thành lập khu tự trị Tây Bắc (1955), khu tự trị Việt Bắc (1956), tổ chức giáo dục được xây dựng từ cấp khu đến cơ sở để quản lý, chăm lo phát triển giáo dục.
Năm học 1956 - 1957, nhiều xã trong các khu tự trị đã có trường cấp 1, nhiều huyện có trường cấp 2, các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên có trường cấp 2. Số học sinh con em người dân tộc tăng lên. Tại tỉnh vùng cao Hà Giang năm học này có 50 trường cấp 1 với 91 lớp, 2.416 học sinh.
Bộ Giáo dục mở các hội nghị giáo dục miền núi để kiểm điểm đánh giá kết quả đạt được, đề ra nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với tình hình chung của đất nước và của khu vực. Đó là các Hội nghị giáo dục miền núi lần thứ nhất họp từ 28/5 đến 4/6/1958 ; lần thứ 2 họp tháng 3/1960 ; lần thứ 3 họp từ 29/5 đến 1/6/1964 và lần thứ 4 họp tháng 12/1973.
Khó khăn lớn nhất của giáo dục miền núi vùng dân tộc thiểu số là thiếu giáo viên trầm trọng. Trước tình hình đó, ngày 7/8/1959, Bộ giáo dục có Thông tư số 33/TT-CBQL về việc điều động giáo viên miền xuôi lên phục vụ miền núi từ năm học 1959 - 1960. Năm 1959, Bộ giáo dục mở lớp học chính trị cho 860 giáo viên tình nguyện lên miền núi. Bác Hồ rất quan tâm và Người đã đến thăm và huấn thị cho Hội nghị.
Tại tỉnh Hà Giang, năm học 1958 - 1959 có 129 giáo viên chủ yếu chỉ dạy được lớp 1, 2. Từ năm 1959, tỉnh Hà Giang đã được đón tiếp nhiều đoàn giáo viên lên công tác như: Hà Nội trên 200 người, Thanh Hóa trên 300 trường, Ninh Bình gần 180 người.
Tại tỉnh Sơn La, năm 1960 có 169 trường phổ thông cấp 1 và cấp 2 với 7.284 học sinh, 343 giáo viên (chủ yếu cấp 1). Sau khi được tăng cường giáo viên, số trường học tăng nhanh. Năm học 1961 - 1962, có 152 trường cấp 1, 13 trường cấp 2 và 1 trường cấp 3, với 8.491 học sinh phổ thông, 115.208 học viên bổ túc văn hóa, 525 giáo viên.
Tháng 5/1956, Chính phủ thực hiện cải cách giáo dục lần thứ 2. Hệ thống giáo dục 9 năm chuyển thành 10 năm, cấp 1: 4 lớp, cấp 2: 3 lớp; cấp 3: 3 lớp.
Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc ngày càng ác liệt. Các trường sơ tán xa đường quốc lộ, xa khu dân cư. Nhưng mạng lưới các trường phổ thông vẫn được mở rộng. Đến năm 1973, xã, bản nào cũng có trường, khoảng 3 xã có trường cấp 2, huyện nào cũng có trường cấp 3. Số học sinh phát triển khá nhanh.
Năm học 1971 - 1972, các tỉnh miền núi phía Bắc đã có số học sinh vỡ lòng: 175.000, cấp 1: 342.800, cấp 2: 38.400, cấp 3: 6000.
Các loại hình nhà trường đặc thù của miền núi, vùng dân tộc thiểu số ra đời, ngày càng phát huy tác dụng như: Trường thiếu nhi vùng cao, trường thanh niên dân tộc, trường vừa học, vừa làm, trường bán trú, trường nội trú... Một số trường đã trở thành điển hình tiên tiến như: Trường TN Lao động XHCN Hòa Bình, Trường TN dân tộc Phú Lương (Thái Nguyên), Trường bán trú dân nuôi Sủng Thài (Yên Minh, Hà Giang). Trường sư phạm được thành lập ở các tỉnh miền núi đào tạo cán bộ, giáo viên phục vụ công cuộc xóa mù chữ, giáo viên cấp 1, các hệ đào tạo: 4+3, 7+2, 10+1, 10+3... Song do điều kiện địa lý và chậm phát triển kinh tế - xã hội nên giáo dục vùng đồng bào dân tộc, miền núi vẫn còn rất nhiều hạn chế, khó khăn.
2.2.3. Giai đoạn 1975 - 1985.
Ngày 30/4/1975 Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước thống nhất, cả nước trên con đường xây dựng CNXH.
Năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng khẳng định đường lối cách mạng XHCN của Việt Nam. Quan hệ ngoại giao được mở rộng, Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp ước quốc tế. Trong giai đoạn này đất nước phải đối phó với 2 cuộc chiến tranh biên giới Tây nam và biên giới phía Bắc.
Ngày 17/02/1979, các tỉnh miền núi phía Bắc, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống bị quân bành trướng Trung Quốc xâm lược tàn phá dã man. Cuộc chiến tranh ở giải biên cương phía Bắc kết thúc vào 16/3/1979. Riêng tại khu vực tỉnh Hà Giang chiến sự kéo dài 9 năm liên tục. Chiến sự vô cùng ác liệt, đầy hy sinh, mất mát đỉnh điểm là năm 1984 - 1985, kết thúc vào năm 1989. Tại Hà Giang, chiến tranh tàn phá, dân di cư, giáo dục tan vỡ, có số trường học hoang tàn.
Thời kỳ 1975 - 1985 được đánh giá là một thời kỳ có những khó khăn phức tạp của con đường đi lên CNXH, “có những đảo lộn kinh tế - xã hội sau một cuộc chiến tranh lâu dài”. Tháng 01/1979, Bộ Chính trị ban hành nghị quyết về cải cách giáo dục. Đây là cải cách giáo dục lần thứ ba (1979).
Một số thành tựu giáo dục. Trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, vừa hòa bình, vừa chiến tranh, song phong trào giáo dục ở nhiều địa phương miền núi vẫn phát triển. Những nơi không có chiến tranh cải cách giáo dục được thực hiện nghiêm túc, hệ thống giáo dục 12 năm, cấp 1: 5 năm; cấp 2: 4 năm; cấp 3: 3 năm, được triển khai thực hiện rộng khắp, chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục mới... được triển khai đồng bộ. Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách ưu tiên phát triển giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
Tại tỉnh Sơn La, trong 5 năm từ năm học 1974 - 1975 đến năm học 1979 – 1980, số trường lớp tăng 57%, riêng cấp 3 tăng 1,5 lần, số học sinh người dân tộc thiếu số tăng 1,1 lần, số người học BTVH tăng 52%. Từ năm 1986, tỉnh Sơn La vào công cuộc giải phóng lòng hồ xây dựng thủy điện Hòa Bình, phạm vi ảnh hướng rất rộng tới 50 xã, 2 thị trấn với 54.153 hộ dân, hơn 2 vạn người phải di chuyển đến nơi ở mới gây nên những xáo trộn và khó khăn cho giáo dục.
Các tỉnh miền núi tăng cường xây dựng, nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên các cấp, giáo viên tiểu học, trung học cơ sở đào tạo chưa hoàn chỉnh được bồi dưỡng, đào tạo lại theo hệ “hoàn chỉnh”. Công tác dạy nghề, hướng nghiệp cho học sinh được triển khai. Việc dạy tiếng dân tộc như chữ Thái, Tày, Dao... được nghiên cứu, triển khai. Phong trào BTVH, xóa mù chữ sôi nổi phát triển rộng rãi. Tuy nhiên giáo dục vùng cao, vùng dân tộc thiếu số còn quá khó khăn, phát triển giáo dục chưa bền vững, tỷ lệ người chưa biết chữ còn cao.
2.2.4. Giai đoạn từ thời kỳ đổi mới đến nay.
Tháng 12/1986, Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, mở đầu công cuộc đổi mới của đất nước.
Ngày 15/5/1989, chiến tranh biên giới hoàn toàn kết thúc tại khu vực Vị Xuyên (Hà Giang). Sau chiến tranh các tỉnh miền núi phía Bắc bị tàn phá nặng nề nhất là tỉnh Hà Giang, giáo dục bị tan vỡ từng mảng.
Năm 1991, sau khi chia tách, một số tỉnh được tái lập như: Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Kạn, Yên Bái... nhiều tỉnh ở diện khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao như: Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Bắc Kạn....
Giáo dục ở miền núi, vùng sâu xa, vùng đồng bào các dân tộc thiếu số tuy đã có những cố gắng rất lớn, nhưng khó khăn, bất cập còn rất nhiều. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, giáo dục vùng này tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm hơn. Để khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện cho dạy học, nhất là khó khăn về giáo viên, về đời sống cho học sinh, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể, thiết thực như:
Chính sách ưu tiên đối với giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiếu số: Đầu tư kinh phí, cán bộ, giáo viên, trang thiết bị dạy học.
Chính sách ưu tiên đến giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục miền núi; chính sách hỗ trợ học sinh để duy trì việc học hết lớp, hết cấp. Học sinh vùng cao, vùng dân tộc thiểu số đến trường không chỉ học chữ, mà còn được hỗ trợ tiền ăn.
Đẩy mạnh phong trào xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, Bộ giáo dục biên soạn sách, chương trình phù hợp cho các vùng miền như : Cấp 1: chương trình 165 tuần là chương trình chuẩn, áp dụng cho cả nước; chương trình 100 tuần cho người lớn tuổi; chương trình 120 tuần cho học sinh dân tộc, vùng miền, xa xôi, hẻo lánh. Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập cơ quan chuyên trách giúp Bộ theo dõi, nghiên cứu phát triển sự nghiệp giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiếu số.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo xây dựng hàng trăm trường Phổ thông dân tộc nội trú các cấp từ Trung ương đến khu, tỉnh có sức chứa trên 40.000 học sinh để con em đồng bào các dân tộc nội trú theo học đào tạo cán bộ người dân tộc thiếu số. Bộ mở các hội nghị về giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiếu số ở các tỉnh Nam Bộ, ở Hà Giang (1992), ở Lào Cai (1994)...
Những khó khăn lớn nhất với giáo dục miền núi, vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số là kinh phí còn hạn hẹp, giáo viên thiếu về số lượng, yếu kém về trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Sự yếu kém và công tác quản lý, tổ chức là những trở ngại cho sự ổn định và phát triển giáo dục.
Tỉnh Hà Giang tái lập 1991, chiến tranh biên giới kết thúc tháng 3/1989. Tổng kết năm học 1991 - 1992, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến trường 42,3%, tỷ lệ trẻ bỏ học đến 90,2% (cứ 100 học sinh vào lớp 1, đến lớp 3 còn 28 em, đến lớp 5 còn 10 em). Toàn tỉnh có 1 trường sư phạm hệ 12+2 đào tạo các hệ giáo viên tiểu học từ 9+3, hoàn chỉnh 9+3, 12+2; tại các huyện phải đào tạo giáo viên 9+1, 4+3 để cấp tốc phục vụ xóa mù chữ, phổ cập tiểu học. Tỷ lệ người từ 15-25 chưa biết chữ toàn tỉnh là 42,06%, có huyện trên 90%, huyện Mèo Vạc 94,15%.
Vượt qua những khó khăn, thách thức được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, sự quyết tâm rất cao của toàn ngành, sự hy sinh phấn đấu của đội ngũ giáo viên làm nhiệm vụ ở miền núi, vùng sâu xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giáo dục vùng này đã có những bước tiến nhảy vọt.
Một số thành tựu giáo dục. Đến nay, mạng lưới trường lớp đã phủ kín thôn, bản, xã. Tất các xã bản vùng cao đều có lớp mầm non 5 tuổi, các xã có trường tiểu học, nhiều trường có các điểm trường, phân trường đến các bản xa xôi hẻo lánh tạo điều kiện cho trẻ đến trường. Các xã hoặc cụm xã có trường THCS hoặc trường liên cấp TH-THCS. Năm 1998 riêng 5 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Gia Lai còn 342 xã chưa có trường THCS ; đến năm 2003 chỉ còn 153 xã. Hầu hết các huyện vùng cao có trường THPT hoặc liên cấp THCS-THPT.
Hệ thống các trường dân tộc nội trú hình thành, phát triển đã góp phần to lớn vào việc tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiếu số cho các tỉnh, thực hiện bình đẳng trong giáo dục. Trong 10 năm từ 1991 - 2001, Nhà nước đầu tư 872,2 tỷ đồng để chuyển các trường PTDT nội trú về trung tâm kinh tế - chính trị địa phương. Đến nay 230 trường DTNT được xây dựng khang trang từ Trung ương đến huyện. Chất lượng giáo dục của các trường nội trú được nâng lên rõ rệt, trong khoảng 10 năm gần đây đã có trên 9.000 học sinh trường DTNT trúng tuyển vào các trường Đại học. Cả nước có 294 trường PTDTNN số trường PTDT bán trú là 1736 trường. Số học sinh trường PTDT bán trú là 147.164 (năm 2000).
Trong 54 dân tộc ở Việt Nam, 30 dân tộc có chữ viết, hiện nay đã có 8 chữ viết của dân tộc: Khơ Me, Chăm, Hoa, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Thái, Mông có sách song ngữ dạy tiếng dân tộc tại 15 tỉnh ở cấp tiểu học. Để đào tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiếu số, vùng khó khăn, Chính phủ giao Bộ GD&ĐT thực hiện chỉ tiêu “cử tuyển” học sinh người dân tộc, vùng cao vào học đại học. Những năm qua hàng chục nghìn học sinh người dân tộc được đào tạo, góp phần giải quyết sự thiếu hụt cán bộ vùng cao. Riêng năm 2004 chỉ tiêu học sinh “cử tuyến” là 2.000 người.
Nhà nước tăng cường đầu tư, kết hợp công tác xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học. Đến nay hệ thống trường học từ tỉnh đến cơ sở cơ bản đã được xây dựng khá khang trang, nhiều trường được xây dựng, trang bị hiện đại. Thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-Cp ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo, đã mang lại hiệu quả tích cực. Từ năm 2008 - 2012 đã xây dựng được 4.737 phòng học, 4018 phòng công vụ cho giáo viên kinh phí đầu tư 1.115 tỷ đồng.
Đến nay tất cả các tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiếu số đã cơ bản xóa xong nạn mù chữ, các tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - xóa mù chữ; dạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học sơ sở; đang phấn đấu đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Một số tỉnh miền núi xa xôi, tỷ lệ người dân tộc thiếu số cao, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất đã đạt các chuẩn phổ cập.
|
Tỉnh |
Năm đạt phổ cập tiểu học |
Năm đạt phổ cập THCS |
|
Điện Biên |
2000 |
2008 |
|
Hà Giang |
1999 |
2007 |
|
Bắc Kạn |
1998 |
2005 |
3. Kết luận
Miền núi cao xa xôi, núi đá hiểm trở, nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, vùng biên ải phía Bắc Tổ quốc, từ bao đời do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, do những phong tục tập quán lạc hậu, níu kéo không thoát khỏi nghèo đói, mù chữ, bệnh tật. Bác Hồ từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Từ những ngày mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi “chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. 80 năm cách mạng thành công, đất nước thống nhất. 80 năm giáo dục cách mạng Việt Nam đã góp phần đưa đất nước vượt ngàn chông gai đưa “dân tộc Việt Nam bước tới vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Trong sự nghiệp chung của cả nước, 80 năm giáo dục cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng mở mang, soi sáng vùng biên cương Tổ quốc, dẫn dắt đồng bào các dân tộc thiểu số đi theo cách mạng, làm cách mạng, góp phần bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, quê hương, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, góp phần thực hiện di nguyện thiêng liêng của Bác Hồ “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Thành tựu giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số của nền giáo dục cách mạng 80 năm qua là một minh chứng cho bước tiến vượt bậc trong công bằng giáo dục của Đảng và Nhà nước ta.
----------------
Tài liệu tham khảo
1. GS.TS Phạm Tất Dong (Chủ biên), Giáo dục Việt Nam 1945 - 2010, NXB Giáo dục, 2010.
2. Thào Xuân Sìng, Nguyễn Quang Ân (Đồng chủ biên), Địa chí tỉnh Sơn La, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2020.
3. Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Quang Ân (Đồng chủ biên), Địa chí tỉnh Tuyên Quang, NXB Thanh niên, 2020.
4. Giang Văn Huỳnh, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Quang Ân (Đồng chủ biên), Địa chí tỉnh Tuyên Quang, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2017.
5. Nguyễn Phú Tuấn, Giáo dục Hà Giang lịch sử và phát triển, NXB Hội nhà văn, 2017.
Ý kiến bạn đọc