GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG Ở TỈNH LÀO CAI SAU KHI SÁP NHẬP: THỰC TRẠNG ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP

05:33 | 13/09/2025
TS Đỗ Thanh Tùng - Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai Tóm tắt: Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở tỉnh Lào Cai đã được triển khai trong thực tiễn từ năm học 2024-2025. Đây là nội dung giáo dục mà các nhà trường đã và đang gặp không ít khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện. Sang năm học 2025-2026, do việc sáp nhập các tỉnh và bỏ cấp huyện đã có tác động khá lớn đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Bài viết này xin khái quát những cơ hội và thách thức trong tổ ch

TS Đỗ Thanh Tùng -

Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai

Tóm tắt: Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở tỉnh Lào Cai đã được triển khai trong thực tiễn từ năm học 2024-2025. Đây là nội dung giáo dục mà các nhà trường đã và đang gặp không ít khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện. Sang năm học 2025-2026, do việc sáp nhập các tỉnh và bỏ cấp huyện đã có tác động khá lớn đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Bài viết này xin khái quát những cơ hội và thách thức trong tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương sau sáp nhật, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp n hằm thực hiện nội dung giáo dục này trong năm học 2025-2026.

Từ khóa: Giáo dục địa phương, tỉnh Lào Cai; Thực trạng, Giải pháp

Nhận bài: 9/9/2025; Biên tập: 12/9/2025; Duyệt đăng: 13/9/2025

1. Đặt vấn đề

Thực hiện theo Nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, tỉnh Lào Cai được sáp nhập với tỉnh Yên Bái để tạo thành một tỉnh mới có tên là Lào Cai. Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Lào Cai mới (sau khi sáp nhập) sẽ chính thức đi vào hoạt động. Tỉnh Lào Cai mới sẽ có diện tích tự nhiên là 13.256,92 km2 và quy mô dân số là 1.778.785 người. Trụ sở hành chính của tỉnh mới sẽ được đặt tại tỉnh Yên Bái hiện nay.

Việc sáp nhập này được kỳ vọng sẽ tạo ra một "vành đai di sản" ở khu vực Tây Bắc, kết nối các điểm du lịch của hai tỉnh và thu hút khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm.

Việc sáp nhập Lào Cai và Yên Bái thành một tỉnh mới, với trung tâm hành chính đặt tại thành phố Yên Bái cũ, có thể mang lại cả cơ hội và thách thức cho ngành giáo dục. Về cơ hội, việc sáp nhập có thể tạo điều kiện để tối ưu hóa nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao chất lượng giáo dục giữa hai địa phương. Tuy nhiên, thách thức bao gồm việc phải đối mặt với sự khác biệt về trình độ phát triển, văn hóa, và điều kiện kinh tế xã hội, cũng như nguy cơ gián đoạn trong quá trình chuyển đổi.

2. Cơ hội và thách thức đối với giáo dục địa phương

2.1. Cơ hội

- Tối ưu hóa nguồn lực cho giáo dục địa phương

Việc sáp nhập có thể giúp tập trung nguồn lực, cả về tài chính và nhân lực, để đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là ở những vùng khó khăn. Điều này có thể bao gồm việc xây dựng trường lớp, đào tạo giáo viên, và cung cấp trang thiết bị hiện đại. Đối với giáo dục địa phương, nguồn thông tin, cơ sở dữ liệu cùng với sự đa dạng hóa về truyền thống văn hóa địa phương, về các địa danh, các di tích lịch sử sẽ là cơ sở để giáo dục địa phương phát triển mạnh hơn.

- Chia sẻ kinh nghiệm về giáo dục địa phương

Các trường học và giáo viên ở Lào Cai và Yên Bái có thể chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, và tài liệu học tập, giúp nâng cao chất lượng giáo dục ở cả hai địa phương. Năm học 2024-2025, tỉnh Lào Cai cũ và tỉnh Yên Bái đã biên tập các tài liệu về nội dung giáo dục địa phương của tỉnh mình. Các nội dung giáo dục địa phương này đã được đưa vào thực tiễn giáo dục ở các nhà trường. Các địa phương bước đầu đã có kinh nghiệm thực tiễn thuận lợi, khó khăn trong thực hiện các nội dung giáo dục địa phương. Đây là cơ sở để rút kinh nghiệm cho năm học mới 2025-2026.

- Nâng cao chất lượng giáo dục địa phương

Việc có một quy hoạch tổng thể hơn cho giáo dục trong tỉnh mới có thể giúp giảm bớt sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng, đặc biệt là giữa các khu vực trung tâm và vùng sâu vùng xa. Việc sáp nhập 2 tỉnh vốn có những đặc điểm riêng biệt hàng trăm năm sẽ khắc phục được tình trạng nhỏ lẻ, phân tán cả về tổ chức quản lý, cả về nội dung, chương trình giáo dục. Đó là cơ hội để giáo dục địa phương vươn tới tầm cao hơn về chất lượng.

2.2. Thách thức

- Sự khác biệt về trình độ phát triển

Xét về lịch sử, Lào Cai và Yên Bái là hai tỉnh đã có thời gian dài sáp nhập cùng với Nghĩa Lộ trong tỉnh Hoàng Liên Sơn. Nhưng do đặc điểm của mỗi tỉnh khác nhau nên sau đó lại tách ra thành 2 tỉnh. Điều đó đã phản ánh những khó khăn trong sáp nhập mà 2 tỉnh này đã gặp phải trong lịch sử. Ngày nay, giữa Lào Cai và Yên Bái đã có nhiều hoạt động phối hợp cùng nhau trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng trình độ phát triển của mỗi tỉnh không giống nhau. Nhìn tổng thể thì kinh tế của Lào Cai phát triển cao hơn Yên Bái, nhờ đó mà lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng được đầu tư lớn hơn. Tuy nhiên, Yên Bái là tỉnh có diện tích lớn hơn, đông dân hơn so với Lào Cai, dân số sống tập trung nhiều hơn. Đây có thể được xem là thế mạnh của Yên Bái. Cũng giống như nhiều địa phương khác, sáp nhập Lào Cai và Yên Bái là hai tỉnh có trình độ phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục khác nhau, điều này có thể gây khó khăn trong việc thực hiện các chính sách và chương trình giáo dục thống nhất.

- Sự khác biệt về văn hóa

Hai tỉnh có thể có những nét văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, điều này có thể ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và triển khai các chương trình giáo dục.

Tỉnh Lào Cai có 13 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 25 nhóm ngành dân tộc. Dân tộc thiểu số chiếm khoảng 66,2% dân số toàn tỉnh. Có 130 thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 được công nhận. Ngoài ra, có 138 xã, phường, thị trấn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bao gồm 70 xã khu vực III, 4 xã khu vực II và 64 xã khu vực I, theo Quyết định số 861/QĐ-TTg.

Mặc dù tỉnh Lào Cai, dân tộc ít người chiếm 66,2% dân số toàn tỉnh, tỷ lệ cao hơn người dân tộc Kinh, nhưng chỉ có 13 dân tộc, dân cư sống tập trung. Đó là điều kiện để phát triển trường lớp.

Tỉnh Yên Bái có 30 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số (54%). Về các xã, thôn thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 (vùng đặc biệt khó khăn), Yên Bái có 177 thôn thuộc 56 xã của 8 huyện, thị xã.

Mặc dù tỉnh Yên Bái, dân tộc kinh chiếm tỷ lệ 54% dân số toàn tỉnh, nhưng các dân tộc ít người lại phân tán trong 30 dân tộc, dân cư sinh sống theo các nhóm nhỏ, thiếu ổn định. Điều đó rất khó cho việc phát triển trường lớp.

- Nguy cơ gián đoạn

Quá trình sáp nhập có thể gây ra sự gián đoạn trong hoạt động của các trường học, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi. Việc thay đổi bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức, và quy trình làm việc có thể gây ra những khó khăn ban đầu.

Đối với giáo dục địa phương, tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái đều có nội dung, chương trình giáo dục khác nhau, phương thức quản lý khác nhau. Để tìm ra một chương trình chung, phương thức quản lý thống nhất trong toàn tỉnh sau khi sáp nhập đòi hỏi phải có lộ trình.

- Áp lực về cơ sở vật chất

Việc tập trung trung tâm hành chính tại Yên Bái có thể gây áp lực lên cơ sở vật chất và nguồn lực giáo dục của thành phố này, trong khi các khu vực khác có thể bị bỏ quên.

Đối với giáo dục địa phương, cần phải huy động các nguồn lực tại chỗ. Khi sáp nhập tỉnh, diện tích càng rộng, khoảng cách địa lý từ trung tâm tỉnh đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa càng xa hơn. Điều đó sẽ là một thách thức cho việc phân công cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo đi kiểm tra, nắm bắt chất lượng giáo dục địa phương ở các vùng, miền trong tỉnh.

3. Giải pháp phát triển giáo dục địa phương ở tỉnh Lào Cai sau khi sáp nhập

Một là, xác định tài liệu sử dụng, nội dung giảng dạy về GDĐP ngay từ đầu năm học 2025-2026

Trong năm học 2025-2026, các cơ sở giáo dục phổ thông sử dụng song song 2 bộ tài liệu GDĐP tỉnh Lào Cai cũ và tỉnh Yên Bái cũ (từ lớp 1 đến lớp 12) đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt.

Việc xác định yêu cầu cần đạt, lựa chọn chủ đề, nội dung giảng dạy, điều chỉnh ngữ liệu trong 2 bộ tài liệu nêu trên, các cơ sở giáo dục thực hiện theo phụ lục hướng dẫn tại Công văn của Sở Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay Sở đã có12 phụ lục dành cho 12 khối lớp.

Quảng cáo

Hai là, tổ chức dạy học nội dung GDĐP thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh

Cấp Tiểu học, nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với các môn học và hoạt động trải nghiệm; quá trình tổ chức thực hiện cần được lồng ghép trong chương trình các môn học và hoạt động trải nghiệm; đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học, tính sư phạm, phù hợp với các đặc điểm tâm lí, trình độ phát triển nhận thức của học sinh, không gây quá tải cho học sinh.

Cấp THCS và THPT, Nội dung giáo dục địa phương là môn học bắt buộc đối với cả 3 cấp học phổ thông. Hiệu trưởng phân công giáo viên giảng dạy các chủ đề trong tài liệu GDĐP của từng lớp phù hợp với chuyên môn của giáo viên, trong đó phân công một giáo viên (trong số các giáo viên được phân công dạy học nội dung GDĐP) chủ trì, thống nhất với các giáo viên còn lại để quyết định kết quả kiểm tra, đánh giá nội dung GDĐP tại mỗi lớp.

Các cơ sở giáo dục chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học các chủ đề/bài học nội dung GDĐP phù hợp với kế hoạch dạy học các môn học có nội dung liên quan và tổ chức giảng dạy theo quy định.

Hình thức giảng dạy: việc giảng dạy nội dung GDĐP được thực hiện linh hoạt, có thể tổ chức dạy trên lớp học, ngoài lớp học hoặc ngoài nhà trường, tại các di tích lịch sử, danh thắng, bảo tàng, các cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề truyền thống… tại địa phương.

Tài liệu GDĐP được biên soạn theo hướng mở. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần bổ sung các ngữ liệu, cập nhật thông tin, số liệu, phù hợp với địa bàn cụ thể trong tỉnh.

Ba là, tổ chức kiểm tra đánh giá nội dung GDĐP theo đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Theo đó, cấp Tiểu học: không thực hiện đánh giá riêng nội dung giáo dục địa phương.

Cấp THCS và THPT: Nội dung GDĐP được đánh giá bằng nhận xét theo 02 mức “Đạt” hoặc “Chưa đạt” theo quy định tại Điều 5, mục 3 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20/7/2021 của Bộ GDĐT quy định về đánh giá học sinh THCS và THPT. Khuyến khích thực hiện việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên qua hỏi - đáp, viết, thuyết trình, thực hành,…; kiểm tra định kì thông qua bài thực hành, dự án, sản phẩm học tập,…

Giáo viên được phân công chủ trì nội dung GDĐP tại mỗi lớp, thống nhất với các giáo viên còn lại để quyết định kết quả kiểm tra, đánh giá nội dung GDĐP, cụ thể như sau:

+ Đối với kiểm tra thường xuyên, giáo viên dạy học chủ đề nào thì thực hiện việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên đối với chủ đề đó. Giáo viên được phân công chủ trì, thống nhất với các giáo viên còn lại để quyết định kết quả kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong mỗi học kì.

+ Đối với kiểm tra định kỳ, các giáo viên được phân công giảng dạy thống nhất nội dung, hình thức kiểm tra, đánh giá đảm bảo phù hợp với nội dung và thời lượng dạy học tại thời điểm kiểm tra.

+ Việc ghi kết quả kiểm tra, đánh giá nội dung GDĐP trong mỗi học kỳ do giáo viên được phân công chủ trì thực hiện trên cơ sở tổng hợp kết quả đã được thống nhất với các giáo viên cùng tham gia giảng dạy.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, báo cáo về Sở GDĐT (qua phòng Giáo dục Phổ thông) để cùng phối hợp, giải quyết.

Bốn là, ban hành các văn bản quản lý mới, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch hoàn thiện, phát triển các hoạt động về GDĐP phù hợp với thực tiễn

Sau khi sáp nhập tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo cần phải xác định rõ những việc cấp bách phải làm ngay. Trước hết cần rà soát lại hệ thống các văn bản quản lý về giáo dục nói chung, về giáo dục địa phương nói riêng mà cả 2 tỉnh đã ban hành. Loại bỏ các văn bản không còn phù hợp. Lựa chọn, bổ sung, hoàn thiện và ban hành các văn bản quản lý mới phù hợp với thực tiễn.

Để giảm thiểu những thách thức và tận dụng tối đa cơ hội, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt. Cần có các nghiên cứu đánh giá thực trạng giáo dục địa phương ở cả hai tỉnh để đưa ra các giải pháp phù hợp. Đặc biệt, cần đầu tư nghiên cứu cơ bản về lý luận và thực tiễn GD ĐP, trên cơ sở đó xây dựng mô hình GD ĐP phù hợp với đặc điểm riêng trên địa bàn.

Cần có kế hoạch chi tiết về việc sáp nhập, bao gồm các mục tiêu, nhiệm vụ, và lộ trình thực hiện. Tập trung sáp nhập các bộ tài liệu GD ĐP của 2 tỉnh đã biên soạn thành một bộ tài liệu chung của tỉnh. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên ở các nhà trường, các xã, phường. Phân công trách nhiệm cho cán bộ phụ trách giáo dục ở các địa phương xã, phường theo yêu cầu nhiệm vụ mới.

Năm là, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về giáo dục địa phương, tăng cường sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDĐP theo chức trách

Cần có công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa và lợi ích của việc sáp nhập, đồng thời tạo sự đồng thuận trong cộng đồng. Đề phòng tình trạng cục bộ vùng miền, mất đoàn kết nội bộ trong tổ chức thực hiện sáp nhập về giáo dục. Đồng thời phải nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục địa phương nói riêng. Tạo cho cán bộ, giáo viên một phương thức làm việc thường xuyên đổi mới theo sự vận động, phát triển của thực tiễn.

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành liên quan, đặc biệt là Sở Giáo dục và Đào tạo của hai tỉnh, trong quá trình sáp nhập. Ngành giáo dục và chính quyền địa phương từ tỉnh đến xã phường cần phải chủ động phát hiện các vấn đề nổi cộm về giáo dục, đào tạo, chủ động tìm phương hướng giải quyết, không chờ đợi cấp trên. Phân công, phân định trách nhiệm pháp lý cho các lực lượng phối hợp, kết hợp trách nhiệm pháp lý với phát huy trách nhiệm lương tâm của từng cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục địa phương. Nhất là các nội dung giáo dục cần có sự trợ giúp của các nghệ nhân và các chuyên gia ở địa phương.

Sáu là, huy động các nguồn lực, xây dựng đội ngũ giáo viên GDĐP đáp ứng yêu cầu sau khi sáp nhập tỉnh

- Đầu tư kinh phí và các nguồn lực hợp lý. Cần có kế hoạch đầu tư hợp lý, tập trung vào những khu vực còn khó khăn, để đảm bảo sự công bằng trong giáo dục. Căn cứ biên chế tổ chức và nội dung, chương trình GDĐP đã hợp nhất để xác định các nguồn lực đầu tư cho phù hợp thực tiễn. Trước hết, cần rà soát lại các nguồn lực đã đầu tư, các nguồn lực hiện đang có, tìm cách khai thác sử dụng có hiệu quả, không để lãng phí, thất thoát sau khi sáp nhập. Nghiên cứu, phân loại những hạng mục cần đầu tư ngay, những hạng mục sẽ đầu tư theo từng giai đoạn. Kết hợp khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí Nhà nước với nguồn kinh phí địa phương và huy động các nguồn lực xã hội hóa cho thực hiện nội dung GDĐP.

- Quan tâm bồi dưỡng, đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên. Vấn đề quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và GD ĐP nói riêng là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên. Cần có chính sách và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên đáp ứng yêu cầu của sáp nhập, vừa đáp ứng yêu cầu nhiện vụ giáo dục, đào tạo trong kỷ nguyên số. Đối với nội dung GD ĐP cần phải xây dựng được đội ngũ cộng tác viên của địa phương, có chế độ, chính sách với cộng tác viên theo quy định.

3. Kết luận

Việc sáp nhập Lào Cai và Yên Bái là một cơ hội lớn để nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, việc thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị, kế hoạch và sự phối hợp của các bên liên quan.

Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là một nội dung mới; cách thức tổ chức thực hiện còn nhiều lúng túng. Cùng lúc đó, việc sáp nhập tỉnh, thực hiện chính quyền 2 cấp, bỏ phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện làm cho các hoạt động GD ĐP càng thêm khó khăn.

Để ổn định tình hình, đòi hỏi ngành giáo dục và chính quyền địa phương phải chủ động nhanh chóng đưa các hoạt động giáo dục nói chung và GD ĐP nói riêng vào năm học 2025-2026. Trong khi giải quyết các nhiệm vụ khẩn cấp của giáo dục, đào tạo sau sáp nhập, phải đồng thời chuẩn bị cho các kế hoạch phát triển lâu dài về giáo dục, đào tạo theo quy mô của tỉnh mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Số: 5889/BGDĐT-GDTH V/v tăng cường công tác chỉ đạo về việc biên soạn, tổ chức dạy học, in và phát hành tài liệu giáo dục địa phương.

2. Bộ GD-ĐT (2024). Kỉ yếu hội nghị “Linh hoạt triển khai tổ chức dạy học nội dung giáo dục địa phương”.

3. Nguyễn Văn Hùng (2021). Giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới. NXB Đại học Sư phạm.

4. Nguyễn Ngọc Bích Trâm (2023). Quản lí hoạt động giáo dục địa phương cho học sinh các trường tiểu học ở Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tạp chí Thiết bị giáo dục: Quản lí giáo dục, 1(298), 145-147.

5. Nguyễn Thị Hạnh (2021). Tích hợp giáo dục địa phương vào chương trình tiểu học. NXB Đại học Sư phạm.

6. Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai; Hướng dẫn giảng dạy nội dung giáo dục địa phương tỉnh Yên Bái năm học 20025-2026, Công văn Số: /SGDĐT-GDPT.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.