TS Đỗ Thanh Tùng -
Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai
Tóm tắt: Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở tỉnh Lào Cai đã được triển khai trong thực tiễn từ năm học 2024-2025. Đây là nội dung giáo dục mà các nhà trường đã và đang gặp không ít khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện. Sang năm học 2025-2026, do việc sáp nhập các tỉnh và bỏ cấp huyện đã có tác động khá lớn đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Bài viết này xin khái quát những cơ hội và thách thức trong tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương sau sáp nhật, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp n hằm thực hiện nội dung giáo dục này trong năm học 2025-2026.
Từ khóa: Giáo dục địa phương, tỉnh Lào Cai; Thực trạng, Giải pháp
Nhận bài: 9/9/2025; Biên tập: 12/9/2025; Duyệt đăng: 13/9/2025
1. Đặt vấn đề
Thực hiện theo Nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, tỉnh Lào Cai được sáp nhập với tỉnh Yên Bái để tạo thành một tỉnh mới có tên là Lào Cai. Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Lào Cai mới (sau khi sáp nhập) sẽ chính thức đi vào hoạt động. Tỉnh Lào Cai mới sẽ có diện tích tự nhiên là 13.256,92 km2 và quy mô dân số là 1.778.785 người. Trụ sở hành chính của tỉnh mới sẽ được đặt tại tỉnh Yên Bái hiện nay.
Việc sáp nhập này được kỳ vọng sẽ tạo ra một "vành đai di sản" ở khu vực Tây Bắc, kết nối các điểm du lịch của hai tỉnh và thu hút khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm.
Việc sáp nhập Lào Cai và Yên Bái thành một tỉnh mới, với trung tâm hành chính đặt tại thành phố Yên Bái cũ, có thể mang lại cả cơ hội và thách thức cho ngành giáo dục. Về cơ hội, việc sáp nhập có thể tạo điều kiện để tối ưu hóa nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao chất lượng giáo dục giữa hai địa phương. Tuy nhiên, thách thức bao gồm việc phải đối mặt với sự khác biệt về trình độ phát triển, văn hóa, và điều kiện kinh tế xã hội, cũng như nguy cơ gián đoạn trong quá trình chuyển đổi.
2. Cơ hội và thách thức đối với giáo dục địa phương
2.1. Cơ hội
- Tối ưu hóa nguồn lực cho giáo dục địa phương
Việc sáp nhập có thể giúp tập trung nguồn lực, cả về tài chính và nhân lực, để đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là ở những vùng khó khăn. Điều này có thể bao gồm việc xây dựng trường lớp, đào tạo giáo viên, và cung cấp trang thiết bị hiện đại. Đối với giáo dục địa phương, nguồn thông tin, cơ sở dữ liệu cùng với sự đa dạng hóa về truyền thống văn hóa địa phương, về các địa danh, các di tích lịch sử sẽ là cơ sở để giáo dục địa phương phát triển mạnh hơn.
- Chia sẻ kinh nghiệm về giáo dục địa phương
Các trường học và giáo viên ở Lào Cai và Yên Bái có thể chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, và tài liệu học tập, giúp nâng cao chất lượng giáo dục ở cả hai địa phương. Năm học 2024-2025, tỉnh Lào Cai cũ và tỉnh Yên Bái đã biên tập các tài liệu về nội dung giáo dục địa phương của tỉnh mình. Các nội dung giáo dục địa phương này đã được đưa vào thực tiễn giáo dục ở các nhà trường. Các địa phương bước đầu đã có kinh nghiệm thực tiễn thuận lợi, khó khăn trong thực hiện các nội dung giáo dục địa phương. Đây là cơ sở để rút kinh nghiệm cho năm học mới 2025-2026.
- Nâng cao chất lượng giáo dục địa phương
Việc có một quy hoạch tổng thể hơn cho giáo dục trong tỉnh mới có thể giúp giảm bớt sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng, đặc biệt là giữa các khu vực trung tâm và vùng sâu vùng xa. Việc sáp nhập 2 tỉnh vốn có những đặc điểm riêng biệt hàng trăm năm sẽ khắc phục được tình trạng nhỏ lẻ, phân tán cả về tổ chức quản lý, cả về nội dung, chương trình giáo dục. Đó là cơ hội để giáo dục địa phương vươn tới tầm cao hơn về chất lượng.
2.2. Thách thức
- Sự khác biệt về trình độ phát triển
Xét về lịch sử, Lào Cai và Yên Bái là hai tỉnh đã có thời gian dài sáp nhập cùng với Nghĩa Lộ trong tỉnh Hoàng Liên Sơn. Nhưng do đặc điểm của mỗi tỉnh khác nhau nên sau đó lại tách ra thành 2 tỉnh. Điều đó đã phản ánh những khó khăn trong sáp nhập mà 2 tỉnh này đã gặp phải trong lịch sử. Ngày nay, giữa Lào Cai và Yên Bái đã có nhiều hoạt động phối hợp cùng nhau trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng trình độ phát triển của mỗi tỉnh không giống nhau. Nhìn tổng thể thì kinh tế của Lào Cai phát triển cao hơn Yên Bái, nhờ đó mà lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng được đầu tư lớn hơn. Tuy nhiên, Yên Bái là tỉnh có diện tích lớn hơn, đông dân hơn so với Lào Cai, dân số sống tập trung nhiều hơn. Đây có thể được xem là thế mạnh của Yên Bái. Cũng giống như nhiều địa phương khác, sáp nhập Lào Cai và Yên Bái là hai tỉnh có trình độ phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục khác nhau, điều này có thể gây khó khăn trong việc thực hiện các chính sách và chương trình giáo dục thống nhất.
- Sự khác biệt về văn hóa
Hai tỉnh có thể có những nét văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, điều này có thể ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và triển khai các chương trình giáo dục.
Tỉnh Lào Cai có 13 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 25 nhóm ngành dân tộc. Dân tộc thiểu số chiếm khoảng 66,2% dân số toàn tỉnh. Có 130 thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 được công nhận. Ngoài ra, có 138 xã, phường, thị trấn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bao gồm 70 xã khu vực III, 4 xã khu vực II và 64 xã khu vực I, theo Quyết định số 861/QĐ-TTg.
Mặc dù tỉnh Lào Cai, dân tộc ít người chiếm 66,2% dân số toàn tỉnh, tỷ lệ cao hơn người dân tộc Kinh, nhưng chỉ có 13 dân tộc, dân cư sống tập trung. Đó là điều kiện để phát triển trường lớp.
Tỉnh Yên Bái có 30 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số (54%). Về các xã, thôn thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 (vùng đặc biệt khó khăn), Yên Bái có 177 thôn thuộc 56 xã của 8 huyện, thị xã.
Mặc dù tỉnh Yên Bái, dân tộc kinh chiếm tỷ lệ 54% dân số toàn tỉnh, nhưng các dân tộc ít người lại phân tán trong 30 dân tộc, dân cư sinh sống theo các nhóm nhỏ, thiếu ổn định. Điều đó rất khó cho việc phát triển trường lớp.
- Nguy cơ gián đoạn
Quá trình sáp nhập có thể gây ra sự gián đoạn trong hoạt động của các trường học, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi. Việc thay đổi bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức, và quy trình làm việc có thể gây ra những khó khăn ban đầu.
Đối với giáo dục địa phương, tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái đều có nội dung, chương trình giáo dục khác nhau, phương thức quản lý khác nhau. Để tìm ra một chương trình chung, phương thức quản lý thống nhất trong toàn tỉnh sau khi sáp nhập đòi hỏi phải có lộ trình.
- Áp lực về cơ sở vật chất
Việc tập trung trung tâm hành chính tại Yên Bái có thể gây áp lực lên cơ sở vật chất và nguồn lực giáo dục của thành phố này, trong khi các khu vực khác có thể bị bỏ quên.
Đối với giáo dục địa phương, cần phải huy động các nguồn lực tại chỗ. Khi sáp nhập tỉnh, diện tích càng rộng, khoảng cách địa lý từ trung tâm tỉnh đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa càng xa hơn. Điều đó sẽ là một thách thức cho việc phân công cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo đi kiểm tra, nắm bắt chất lượng giáo dục địa phương ở các vùng, miền trong tỉnh.
3. Giải pháp phát triển giáo dục địa phương ở tỉnh Lào Cai sau khi sáp nhập
Một là, xác định tài liệu sử dụng, nội dung giảng dạy về GDĐP ngay từ đầu năm học 2025-2026
Trong năm học 2025-2026, các cơ sở giáo dục phổ thông sử dụng song song 2 bộ tài liệu GDĐP tỉnh Lào Cai cũ và tỉnh Yên Bái cũ (từ lớp 1 đến lớp 12) đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt.
Việc xác định yêu cầu cần đạt, lựa chọn chủ đề, nội dung giảng dạy, điều chỉnh ngữ liệu trong 2 bộ tài liệu nêu trên, các cơ sở giáo dục thực hiện theo phụ lục hướng dẫn tại Công văn của Sở Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay Sở đã có12 phụ lục dành cho 12 khối lớp.
Hai là, tổ chức dạy học nội dung GDĐP thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh
Cấp Tiểu học, nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với các môn học và hoạt động trải nghiệm; quá trình tổ chức thực hiện cần được lồng ghép trong chương trình các môn học và hoạt động trải nghiệm; đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học, tính sư phạm, phù hợp với các đặc điểm tâm lí, trình độ phát triển nhận thức của học sinh, không gây quá tải cho học sinh.
Cấp THCS và THPT, Nội dung giáo dục địa phương là môn học bắt buộc đối với cả 3 cấp học phổ thông. Hiệu trưởng phân công giáo viên giảng dạy các chủ đề trong tài liệu GDĐP của từng lớp phù hợp với chuyên môn của giáo viên, trong đó phân công một giáo viên (trong số các giáo viên được phân công dạy học nội dung GDĐP) chủ trì, thống nhất với các giáo viên còn lại để quyết định kết quả kiểm tra, đánh giá nội dung GDĐP tại mỗi lớp.
Các cơ sở giáo dục chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học các chủ đề/bài học nội dung GDĐP phù hợp với kế hoạch dạy học các môn học có nội dung liên quan và tổ chức giảng dạy theo quy định.
Hình thức giảng dạy: việc giảng dạy nội dung GDĐP được thực hiện linh hoạt, có thể tổ chức dạy trên lớp học, ngoài lớp học hoặc ngoài nhà trường, tại các di tích lịch sử, danh thắng, bảo tàng, các cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề truyền thống… tại địa phương.
Tài liệu GDĐP được biên soạn theo hướng mở. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần bổ sung các ngữ liệu, cập nhật thông tin, số liệu, phù hợp với địa bàn cụ thể trong tỉnh.
Ba là, tổ chức kiểm tra đánh giá nội dung GDĐP theo đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Theo đó, cấp Tiểu học: không thực hiện đánh giá riêng nội dung giáo dục địa phương.
Cấp THCS và THPT: Nội dung GDĐP được đánh giá bằng nhận xét theo 02 mức “Đạt” hoặc “Chưa đạt” theo quy định tại Điều 5, mục 3 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20/7/2021 của Bộ GDĐT quy định về đánh giá học sinh THCS và THPT. Khuyến khích thực hiện việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên qua hỏi - đáp, viết, thuyết trình, thực hành,…; kiểm tra định kì thông qua bài thực hành, dự án, sản phẩm học tập,…
Giáo viên được phân công chủ trì nội dung GDĐP tại mỗi lớp, thống nhất với các giáo viên còn lại để quyết định kết quả kiểm tra, đánh giá nội dung GDĐP, cụ thể như sau:
+ Đối với kiểm tra thường xuyên, giáo viên dạy học chủ đề nào thì thực hiện việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên đối với chủ đề đó. Giáo viên được phân công chủ trì, thống nhất với các giáo viên còn lại để quyết định kết quả kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong mỗi học kì.
+ Đối với kiểm tra định kỳ, các giáo viên được phân công giảng dạy thống nhất nội dung, hình thức kiểm tra, đánh giá đảm bảo phù hợp với nội dung và thời lượng dạy học tại thời điểm kiểm tra.
+ Việc ghi kết quả kiểm tra, đánh giá nội dung GDĐP trong mỗi học kỳ do giáo viên được phân công chủ trì thực hiện trên cơ sở tổng hợp kết quả đã được thống nhất với các giáo viên cùng tham gia giảng dạy.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, báo cáo về Sở GDĐT (qua phòng Giáo dục Phổ thông) để cùng phối hợp, giải quyết.
Bốn là, ban hành các văn bản quản lý mới, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch hoàn thiện, phát triển các hoạt động về GDĐP phù hợp với thực tiễn
Sau khi sáp nhập tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo cần phải xác định rõ những việc cấp bách phải làm ngay. Trước hết cần rà soát lại hệ thống các văn bản quản lý về giáo dục nói chung, về giáo dục địa phương nói riêng mà cả 2 tỉnh đã ban hành. Loại bỏ các văn bản không còn phù hợp. Lựa chọn, bổ sung, hoàn thiện và ban hành các văn bản quản lý mới phù hợp với thực tiễn.
Để giảm thiểu những thách thức và tận dụng tối đa cơ hội, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt. Cần có các nghiên cứu đánh giá thực trạng giáo dục địa phương ở cả hai tỉnh để đưa ra các giải pháp phù hợp. Đặc biệt, cần đầu tư nghiên cứu cơ bản về lý luận và thực tiễn GD ĐP, trên cơ sở đó xây dựng mô hình GD ĐP phù hợp với đặc điểm riêng trên địa bàn.
Cần có kế hoạch chi tiết về việc sáp nhập, bao gồm các mục tiêu, nhiệm vụ, và lộ trình thực hiện. Tập trung sáp nhập các bộ tài liệu GD ĐP của 2 tỉnh đã biên soạn thành một bộ tài liệu chung của tỉnh. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên ở các nhà trường, các xã, phường. Phân công trách nhiệm cho cán bộ phụ trách giáo dục ở các địa phương xã, phường theo yêu cầu nhiệm vụ mới.
Năm là, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về giáo dục địa phương, tăng cường sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDĐP theo chức trách
Cần có công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa và lợi ích của việc sáp nhập, đồng thời tạo sự đồng thuận trong cộng đồng. Đề phòng tình trạng cục bộ vùng miền, mất đoàn kết nội bộ trong tổ chức thực hiện sáp nhập về giáo dục. Đồng thời phải nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục địa phương nói riêng. Tạo cho cán bộ, giáo viên một phương thức làm việc thường xuyên đổi mới theo sự vận động, phát triển của thực tiễn.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành liên quan, đặc biệt là Sở Giáo dục và Đào tạo của hai tỉnh, trong quá trình sáp nhập. Ngành giáo dục và chính quyền địa phương từ tỉnh đến xã phường cần phải chủ động phát hiện các vấn đề nổi cộm về giáo dục, đào tạo, chủ động tìm phương hướng giải quyết, không chờ đợi cấp trên. Phân công, phân định trách nhiệm pháp lý cho các lực lượng phối hợp, kết hợp trách nhiệm pháp lý với phát huy trách nhiệm lương tâm của từng cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục địa phương. Nhất là các nội dung giáo dục cần có sự trợ giúp của các nghệ nhân và các chuyên gia ở địa phương.
Sáu là, huy động các nguồn lực, xây dựng đội ngũ giáo viên GDĐP đáp ứng yêu cầu sau khi sáp nhập tỉnh
- Đầu tư kinh phí và các nguồn lực hợp lý. Cần có kế hoạch đầu tư hợp lý, tập trung vào những khu vực còn khó khăn, để đảm bảo sự công bằng trong giáo dục. Căn cứ biên chế tổ chức và nội dung, chương trình GDĐP đã hợp nhất để xác định các nguồn lực đầu tư cho phù hợp thực tiễn. Trước hết, cần rà soát lại các nguồn lực đã đầu tư, các nguồn lực hiện đang có, tìm cách khai thác sử dụng có hiệu quả, không để lãng phí, thất thoát sau khi sáp nhập. Nghiên cứu, phân loại những hạng mục cần đầu tư ngay, những hạng mục sẽ đầu tư theo từng giai đoạn. Kết hợp khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí Nhà nước với nguồn kinh phí địa phương và huy động các nguồn lực xã hội hóa cho thực hiện nội dung GDĐP.
- Quan tâm bồi dưỡng, đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên. Vấn đề quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và GD ĐP nói riêng là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên. Cần có chính sách và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên đáp ứng yêu cầu của sáp nhập, vừa đáp ứng yêu cầu nhiện vụ giáo dục, đào tạo trong kỷ nguyên số. Đối với nội dung GD ĐP cần phải xây dựng được đội ngũ cộng tác viên của địa phương, có chế độ, chính sách với cộng tác viên theo quy định.
3. Kết luận
Việc sáp nhập Lào Cai và Yên Bái là một cơ hội lớn để nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, việc thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị, kế hoạch và sự phối hợp của các bên liên quan.
Giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là một nội dung mới; cách thức tổ chức thực hiện còn nhiều lúng túng. Cùng lúc đó, việc sáp nhập tỉnh, thực hiện chính quyền 2 cấp, bỏ phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện làm cho các hoạt động GD ĐP càng thêm khó khăn.
Để ổn định tình hình, đòi hỏi ngành giáo dục và chính quyền địa phương phải chủ động nhanh chóng đưa các hoạt động giáo dục nói chung và GD ĐP nói riêng vào năm học 2025-2026. Trong khi giải quyết các nhiệm vụ khẩn cấp của giáo dục, đào tạo sau sáp nhập, phải đồng thời chuẩn bị cho các kế hoạch phát triển lâu dài về giáo dục, đào tạo theo quy mô của tỉnh mới.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Số: 5889/BGDĐT-GDTH V/v tăng cường công tác chỉ đạo về việc biên soạn, tổ chức dạy học, in và phát hành tài liệu giáo dục địa phương.
2. Bộ GD-ĐT (2024). Kỉ yếu hội nghị “Linh hoạt triển khai tổ chức dạy học nội dung giáo dục địa phương”.
3. Nguyễn Văn Hùng (2021). Giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới. NXB Đại học Sư phạm.
4. Nguyễn Ngọc Bích Trâm (2023). Quản lí hoạt động giáo dục địa phương cho học sinh các trường tiểu học ở Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tạp chí Thiết bị giáo dục: Quản lí giáo dục, 1(298), 145-147.
5. Nguyễn Thị Hạnh (2021). Tích hợp giáo dục địa phương vào chương trình tiểu học. NXB Đại học Sư phạm.
6. Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai; Hướng dẫn giảng dạy nội dung giáo dục địa phương tỉnh Yên Bái năm học 20025-2026, Công văn Số: /SGDĐT-GDPT.
Ý kiến bạn đọc