GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG Ở MIỀN BẮC (1954 - 1975) - Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC

09:48 | 14/11/2025
PGS.TS. Nguyễn Hữu Luận - Nguyên CN Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - BQP Tóm tắt: Giai đoạn 1954–1975 đánh dấu bước chuyển lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam: miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn chi viện cho miền Nam đấu tranh giải phóng đất nước. Trong bối cảnh ấy, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ – đặc biệt là học sinh phổ thông – được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ chiến lược nhằm hình thành lớp người “vừa hồng,

PGS.TS. Nguyễn Hữu Luận -

Nguyên CN Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - BQP

Tóm tắt: Giai đoạn 1954–1975 đánh dấu bước chuyển lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam: miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn chi viện cho miền Nam đấu tranh giải phóng đất nước. Trong bối cảnh ấy, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ – đặc biệt là học sinh phổ thông – được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ chiến lược nhằm hình thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên”. Bài viết nhằm phân tích nội dung, phương thức giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc giai đoạn 1954–1975, từ đó làm rõ ý nghĩa lịch sử và giá trị hiện thực đối với công tác giáo dục thế hệ trẻ hiện nay.

Từ khóa: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, học sinh phổ thông, 1954-1975

1. Đặt vấn đề

Giáo dục luôn là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia. Giáo dục mang tính giai cấp, theo quan điểm giai cấp lãnh đạo, phục vụ lợi ích giai cấp và dân tộc. Không có giáo dục trung lập đứng ngoài chính trị. Vì vậy trong một nền giáo dục, nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức giai cấp là tất yếu khách quan. V.I. Lênin từng nói “người mù chữ là người đứng ngoài chính trị”.

Ở nước ta, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1954), miền Bắc được giải phóng, quá độ lên CNXH, Đảng ta lãnh đạo xây dựng một nền giáo dục mới XHCN. Giáo dục phổ thông không ngừng được mở rộng cả quy mô, số lượng, chất lượng, trong đó giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức được xác định là một nhiệm vụ cơ bản, quan trọng để xây dựng nên những con người mới XHCN phát triển toàn diện đức - trí - thể - mĩ.

GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG Ở MIỀN BẮC (1954 - 1975) - Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC

Thầy và trò lớp 10 Trường Cấp 3 Ngọc Lặc, năm 1971

2. Nội dung

2.1. Những yếu tố tác động giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1975)

* Hoàn cảnh lịch sử miền Bắc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1954 - 1975).

Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, quá độ đi lên CNXH, nhưng đất nước còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: Miền Bắc đi lên CNXH, miền Nam còn bị chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai kìm kẹp. Cách mạng Việt Nam phải tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà. Hai miền có nhiệm vụ chính trị khác nhau nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau: Miền Bắc là hậu phương lớn của cách mạng cả nước, có vai trò quyết định nhất đến thắng lợi cách mạng Việt Nam; Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp thắng lợi cách mạng ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước. Đây là đặc điểm lớn chi phối đến nhiệm vụ giáo dục nói chung, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông nói riêng.

Miền Bắc quá độ lên CNXH khởi đầu từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề; nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh mún, công nghiệp nặng hầu như không có gì, bỏ qua chế độ TBCN, tiến thẳng lên CNXH. Quá trình xây dựng CNXH, miền Bắc phải trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại nặng nề của đế quốc Mỹ, phải nhiều lần khôi phục kinh tế. Trong 21 năm miền Bắc xây dựng CNXH chỉ có khoảng gần 10 năm được xây dựng trong hòa bình; phần lớn thời gian, công sức, trí tuệ, nhân lực, nguồn lực giành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Miền Bắc xây dựng CNXH trong điều kiện có hệ thống các nước XHCN không ngừng lớn mạnh, ủng hộ sự nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất đất nước. Các nước XHCN đã giúp đỡ to lớn cho miền Bắc xây dựng nền giáo dục mới XHCN, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô.

* Thực trạng giáo dục phổ thông ở miền Bắc trước năm 1954.

Trong 9 năm kháng chiến và kiến quốc, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Xây dựng được một mạng lưới giáo dục phổ thông cấp I và cấp II ở vùng tự do và vùng mới giải phóng (không tính Nam Bộ), với số trường, lớp và học sinh phổ thông cấp I tăng từ 416.546 học sinh (năm 1950) lên 633.718 học sinh (năm 1954); phổ thông cấp II tăng từ 21.849 học sinh (năm 1950) lên 269 63.209 học sinh (năm 1954). Nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông đã góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và tạo nền móng bước đầu quan trọng để tiến lên xây dựng nền giáo dục XHCN ở miền Bắc.

Tuy nhiên, giáo dục phổ thông còn hạn chế về quy mô và chất lượng giáo dục trong điều kiện chiến tranh ác liệt, tàn phá nặng nề. Giáo dục phổ thông còn song hành hai hệ thống là giáo dục 9 năm ở vùng tự do và giáo dục 12 năm ở vùng địch tạm chiếm.

Những yếu tố trên vừa mở ra thuận lợi, vừa là những khó khăn, thách thức đặt ra trong xây dựng nền giáo dục XHCN nói chung và với nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc nói riêng.

2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1975)

Thời kỳ miền Bắc khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa (1954 - 1960). Sau năm 1954, miền Bắc tiếp quản hệ thống giáo dục cũ trong vùng tạm chiếm. Do giáo dục phổ thông tồn tại hai hệ thống nên yêu cầu đặt ra gấp rút phải thống nhất thành một hệ thống giáo dục chung. Hội nghị Trung ương lần thứ 7, Khóa II (3/1955) xác định nhiệm vụ phải nhanh chóng “chấn chỉnh và củng cố giáo dục phổ thông, thống nhất hai hệ thống giáo dục của vùng tự do cũ và các vùng mới giải phóng”.

Tháng 3/1956, Chính phủ thông qua Đề án cải cách giáo dục lần thứ hai và giao cho Bộ Giáo dục tổ chức thực hiện. Tháng 8/1956, Chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức ban hành, trong đó xác định: Mục tiêu cải cách giáo dục là “đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng CNXH ở nước ta…”

Phương châm giáo dục được đề ra: Lý luận liên hệ với thực tiễn; gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội. Nội dung giáo dục được xác định: Giáo dục phải toàn diện, gồm bốn mặt: đức, trí, thể, mĩ, trong đó coi trí dục là cơ sở, đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục đạo đức.

Hệ thống tổ chức giáo dục gồm: Sáp nhập hai hệ thống giáo dục cũ thành một hệ thống giáo dục 10 năm, có ba cấp: Cấp I: 4 năm, cấp II: 3 năm, cấp III: 3 năm.

Cuộc cải cách giáo dục phổ thông lần này là một bước đi cơ bản ban đầu, có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN, với mục tiêu xây dựng con người mới XHCN, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của nước ta và hòa nhập với văn minh thế giới.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) tiếp tục phát triển nhiệm vụ của giáo dục trong thời kỳ mới, xác định: “Công tác giáo dục văn hóa phải được phát triển theo quy mô lớn và phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Sự nghiệp giáo dục của chúng ta phải nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người làm chủ đất nước, có giác ngộ XHCN, có văn hóa và kỹ thuật, có sức khỏe, những người phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới,…”. Nhiệm vụ đó không chỉ nhấn mạnh phát triển mạnh mẽ về quy mô giáo dục, mà còn đề cao nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức cho thanh, thiếu niên để họ trở thành người làm chủ đất nước, có giác ngộ XHCN.

Từ năm 1965 đến 1975, chuyển hướng công tác giáo dục trong điều kiện có chiến tranh. Tháng 8/1964, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Ngày 5/8/1965, Phủ Thủ tướng ra chỉ thị số 88/TTg về chuyển hướng công tác giáo dục phục vụ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, phù hợp với tình hình thời chiến, bảo đảm an toàn cho học sinh trong học tập, gắn chặt hơn nữa hoạt động của nhà trường với sản xuất, chiến đấu.

Ngày 03/7/1965, Ban Bí thư Trung Đảng ra chỉ thị số 102-CT/TW về việc “Tăng cường giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức trong sinh viên và học sinh”. Nhiệm vụ trọng tâm tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng , đạo đức cho học sinh phổ thông là giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa; đạo đức cách mạng, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ cách mạng của cả nước và mỗi miền; giáo dục truyền thống yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, tự lực tự cường; giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông phải được thể hiện trong hệ thống nội dung chương trình môn học, trong các hoạt động chính khóa và ngoại khóa do nhà trường đứng ra tổ chức và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Đối với giáo viên, Bộ Giáo dục chủ trương tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức và phương pháp sư phạm. Nội dung bồi dưỡng giáo viên tập trung bồi dưỡng, tập huấn nội dung, phương pháp giáo dục chính trị và tư tưởng, sinh hoạt chính trị, nâng cao ý chí chiến đấu, tinh thần trách nhiệm trong dạy học; học tập có hệ thống các vấn đề cơ bản về đường lối của Đảng. Công thức bồi dưỡng giáo viên trong năm: dạy học 8 tháng, nghỉ 1 tháng, bồi dưỡng 3 tháng trong 1 năm; hàng tuần có 1 buổi bồi dưỡng, hàng năm có 1 đợt tập huấn vào dịp nghỉ hè.

2.3. Thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1975)

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục và giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông, từ năm 1955 đến năm 1960. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông tập trung vào biên soạn sách giáo khoa trên cơ sở mục tiêu, phương châm cải cách giáo dục đã xác định, phản ánh trong chương trình sách giáo khoa những chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, như: Chủ trương cải tạo XHCN, phát kinh tế, văn hóa, xã hội. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục được quan tâm cải tiến cho phù hợp với lứa tuổi và cấp học của học sinh. Các trường đã tổ chức cho học sinh tích cực tham gia lao động sản xuất trong dịp hè. Học sinh sôi nổi tỏa về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đi về các bản làng, thôn xóm, tham gia lao động sản xuất… Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên và đội ngũ giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Các ban tuyên huấn của tỉnh trực tiếp đi sát lãnh đạo trường cấp III, tuyên huấn huyện ủy đi sát chỉ đạo các trường cấp II.

Quảng cáo

Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông trong thời kỳ miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông tập trung tuyên truyền giáo dục về đường lối cách mạng nước ta, đường lối, nhiệm vụ cách mạng hai miền Nam - Bắc, nhiệm vụ công nghiệp hóa, chủ trương xây dựng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở miền Bắc và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III và các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương xác định.

Bộ Giáo dục chỉ đạo phát động phong trào thi đua “hai tốt” (dạy thật tốt, học thật tốt). Các nhà trường có nhiều hình thức, biện pháp chủ động, sáng tạo không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nói riêng. Giáo viên không chỉ trao truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh mà còn phối kết hợp với hoạt động của Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên tiền phong tổ chức các phong trào thi đua, tham gia lao động sản xuất, văn hóa văn nghệ,… Trong giai đoạn này, số lượng học sinh phổ thông ở ba cấp đã không ngừng tăng lên: năm học 1960 - 1961 có 1.900.000 học sinh, đến năm học 1965 - 1966 đã tăng lên 2.934.000 học sinh. Bình quân 100 người dân có 14 đến 15 học sinh phổ thông. Đó còn là kết quả của công tác chính trị, tư tưởng của nhà trường, đoàn thể, xã hội cho học sinh và gia đình.

Giai đoạn 1965 - 1975 miền Bắc chống chiến tranh phá hoại xen kẽ những thời kỳ ngắn khôi phục kinh tế. Nhiệm vụ giáo dục chính, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông được tăng cường, với việc triển khai thực hiện Chỉ thị 188/TTG của Phủ Thủ tướng (5/8/1965) về chuyển hướng công tác giáo dục trong điều kiện cả nước có chiến tranh. Bộ Giáo dục đã chỉ đạo tinh giản bớt chương trình học nhằm bảo đảm những kiến thức cơ bản nhất. Giáo viên tăng cường các hoạt động hướng dẫn tỉ mỉ để học sinh học một số vấn đề trong chương trình. Phần lớn các lớp học được tổ chức phân tán, tận dụng thời điểm an toàn như buổi trưa, buổi tối, hoặc tổ chức ba ca học tập.

Về nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho học sinh tập trung giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, lý tưởng và đạo đức cách mạng; nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, nhiệm vụ xây dựng CNXH ở miền Bắc trong điều kiện chiến tranh; chủ trương chuyển hướng xây dựng kinh tế, văn hóa, tư tưởng, tổ chức, với quyết tâm “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của nhân dân ta; chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, tự lực tự cường, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong các trường phổ thông.

Trong chương trình môn văn học, bổ sung nhiều tác phẩm mới phản ánh thực tiễn đấu tranh anh dũng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, như: “Người mẹ cầm súng”, “Sống như anh”, “Em Ngọc”... Nhà trường phổ thông đã tổ chức cho học sinh tham gia nhiều hoạt động thực tiễn như: truyền tin chiến thắng, mít tinh lên án tội ác của đế quốc Mỹ gây ra trên cả hai miền Nam - Bắc; tổ chức học sinh tham gia lao động trên các công trường, đồng ruộng hợp tác xã; thăm hỏi các chiến sĩ ở ngoài mặt trận… Trong nhà trường xuất hiện nhiều tấm gương học tập tốt, lao động tốt và phục vụ chiến đấu giỏi. Em Nguyên Bá Ngọc ở Quảng Xương (Thanh Hóa) là một tấm gương hi sinh thân mình cứu em nhỏ, đã trở thành biểu tượng sáng ngời của thiếu niên Việt Nam anh hùng trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Lớp lớp học sinh sau khi ra trường hoặc nhiều học sinh xếp bút nghiên tự nguyện nhập ngũ lên đường đi chống Mỹ, cứu nước. Tuổi trẻ lớn lên từ mái trường phổ thông XHCN đã xung kích xuất hiện ở khắp mọi miền Tổ quốc, với những gương điển hình như anh hùng Trịnh Tố Tâm, Nguyễn Viết Xuân… họ là thành quả được giáo dục công phu, có chất lượng về kiến thức cơ bản và chính trị, tư tưởng, đạo đức dưới mái trường XHCN.

Trong giai đoạn này, mặc dù miền Bắc XHCN chịu ảnh hưởng của chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ rất ác liệt, tàn phá nặng nề, nhưng do nhà trường đã làm tốt nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức mà số học sinh phổ thông ở ba cấp vẫn không ngừng tăng lên: năm học 1972 - 1973 toàn miền Bắc có 4.675.727 học sinh, năm học 1974 - 1975 lên tới 5.248.055 học sinh.

2.4. Thành tựu và ý nghĩa giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1975)

2.4.1. Thành tựu: Tổng kết thành tựu xây dựng miền Bắc XHCN, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), đánh giá: Trong suốt cuộc chiến tranh ác liệt với hàng triệu tấn bom đạn của giặc Mỹ, mặc dù ta có những khó khăn thiếu thốn, “dân số tăng gấp đôi so với hai mươi năm trước, nhưng mọi người đều có ăn, có mặc, con cái mọi nhà đều được đi học, trình độ văn hóa chung của xã hội đã được nâng lên một mức đáng kể. Lối sống mới đã trở thành phổ biến, người với người sống có tình, có nghĩa, đoàn kết, thương yêu nhau”(3, tr.447). Đó là một điều hiếm có trong lịch sử chiến tranh, một sự cố gắng vượt bậc, một thành tích kỳ diệu của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta. Đại hội IV của Đảng còn đánh giá: Không thể có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc XHCN. Miền Bắc đã đưa hàng triệu con em ra tiền tuyến. Miền Bắc đã làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam và cả nước.

Những thành tựu nổi bật đó còn là thành quả to lớn của nền giáo dục XHCN, trong đó có vai trò to lớn của giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh trong các nhà trường phổ thông ở miền Bắc XHCN. Nhà trường đã vun trồng, xây nên một thế hệ vàng son cho xã hội. Họ là những thanh, thiếu niên được giáo dục, bồi đắp những phẩm chất chính trị, tư tưởng vững vàng, vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của cách mạng; có đạo đức trong sáng, sẵn sàng dấn thân cho Tổ quốc và nhân dân; có lối sống lành mạnh, luôn ghép mình trong tổ chức chính trị - xã hội, trở thành lực lượng xung kích, đi đầu thực hiện phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các mặt trận để có được thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc đã luôn bám sát chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, về nhiệm vụ cách mạng, vận dụng sáng tạo trong từng hoàn cảnh lịch sử, lứa tuổi và cấp học phổ thông; xác định kịp thời nội dung, hình thức phương pháp giáo dục phù hợp, do đó đã thắp sáng, vun trồng, xây nên một thế hệ vàng son cho đất nước; một thế hệ thanh niên giàu lòng yêu nước, quả cảm và nhân văn, luôn khát khao cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.

Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông đã phát huy tốt sự phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chung tay thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục, lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng nhân cách. Gia đình có vai trò ươm mầm cho con em về đạo đức, lối sống, làm gương cho các em. Xã hội tạo môi trường lành mạnh, kỷ cương, nơi phản chiếu lý luận với thực tiễn, nơi bộc lộ thiên hướng tư tưởng, tình cảm của mỗi học sinh. Bản thân học sinh là chủ thể tích cực tiếp nhận giáo dục và rèn luyện, tu dưỡng, biến giáo dục thành nhân cách bản thân.

Khẳng định thành tựu đạt được trong giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1975) là chủ yếu. Tuy nhiên do ta còn mắc một số sai lầm, khuyết điểm trong nhận thức và xác định chủ trương, chính sách trong xây dựng CNXH, do đó nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh chưa thể hiện gắn kết giữa lý luận với thực tiễn, làm hạn chế chất lượng giáo dục tư tưởng, niềm tin cho học sinh.

2.4.2. Ý nghĩa lịch sử và hiện thực

* Ý nghĩa lịch sử: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1945) được thực hiện ngay từ đầu, không ngừng bổ sung, phát triển kịp thời về nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp với thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Do đó thanh, thiếu niên đã tiếp thu nhanh chóng, sớm được giác ngộ XHCN, sớm hình thành tình yêu quê hương đất nước, khát vọng hiến dâng, cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc CNXH, đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông đúng và trúng phải được thực hiện trên cơ sở sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, đúng đắn, kịp thời của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo, các tổ chức Đảng và cơ quan chức năng từ tỉnh đến đến cơ sở. Trong 21 năm miền Bắc quá độ đi lên CNXH (1954 - 1975) đã phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử. Trong từng giai đoạn, Đảng và Nhà nước đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo sát sao nhiệm vụ, nội dung, hình thức, biện pháp về giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh các cấp học phổ thông phù hợp điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị của Đảng đặt ra. Do đó đã có được nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, chuyển biến trách nhiệm, đạo đức lối sống, khơi dậy tinh thần yêu nước, yêu CNXH, chí căm thù quân xâm lược… trong mỗi học sinh ở tuổi thanh, thiếu niên. Đó cũng là sự khẳng định phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, giáo dục phục vụ cách mạng.

Giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức trong các trường phổ thông ở miền Bắc đã góp phần quan trọng trong xây dựng nên một thế hệ vàng, thế hệ thanh, thiếu niên tiêu biểu về những phẩm chất của con người mới XHCN; đã có hàng triệu thanh, thiếu niên được học hành cơ bản, có phẩm chất và năng lực thực hiện thành công nhiệm vụ cách mạng xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và làm tròn nhiệm vụ quốc tế.

*Ý nghĩa hiện thực: Ngày nay, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông đang tiếp tục được Đảng, Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong điều kiện mới, nhiệm vụ cách mạng mới. Kết luận số 91-KL/TW (12/8/2024) của Bộ Chính trị nêu rõ "Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngáy 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”, đã đặt ra mục tiêu: giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Bộ Chính trị xác định phải tăng cường nhiệm vụ: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh gắn với việc xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Quan tâm giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng cống hiến phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thời gian qua, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông đã có nhiều đổi mới và đạt được những thành tựu quan trọng. Thanh, thiếu niên được giáo dục bài bản, toàn diện về đức, trí, thể, mĩ. Tuy nhiên, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống còn những bất cập. Vì vậy, vấn đề tất yếu và cấp bách hiện nay phải tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên trong các trường phổ thông, để họ có đủ phẩm chất, năng lực, vững vàng thực hiện sứ mệnh công dân trong kỷ nguyên mới của đất nước.

Kế thừa và vận dụng những giá trị ý nghĩa trong giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh phổ thông ở miền Bắc (1954 - 1975), trong giai đoạn mới hiện nay, cần làm tốt những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, trong mỗi kỳ Đại hội Đảng và thời kỳ phát triển mới của đất nước, Đảng và Nhà nước cần cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong chỉ đạo kịp thời nhiệm vụ, nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh. Thường xuyên tổng kết phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” trong giáo dục nói chung, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh nói riêng, qua đó nhân điển hình tiên tiến ra toàn ngành để nâng cao chất lượng dạy và học.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa cấp ủy Đảng, công đoàn, đoàn, đội, cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh. Đây vừa là công tác thường xuyên, vừa là nguyên lý giáo dục, vừa là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao tính hiệu quả của chất lượng giáo dục nhân cách cho người học.

Thứ ba, không ngừng đổi mới phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Kết hợp giữa dạy học với hoạt động ngoại khóa, như tham quan, trải nghiệm, hoạt động phong trào thi đua, thi tìm hiểu, văn hóa, văn nghệ…

Thứ tư, xây dựng và phát huy uy tín, mô phạm của người giáo viên với học sinh. Đội ngũ nhà giáo không chỉ có sứ mệnh trao truyền kiến thức mà còn dìu dắt các thế hệ học trò, ươm mầm tư tưởng, tình cảm, niềm tin cho học sinh.

Thứ năm, nâng cao chất lượng hoạt động đoàn, đội trong nhà trường, lớp học, tạo sự cuốn hút học sinh tham gia, ghép mình vào tổ chức, rèn luyện tính tổ chức và kỷ luật cho mỗi học sinh. Đoàn, đội cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động, như: Đăng ký thực hiện các phong trào thi đua trong nhà trường, tích cực hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, thi tìm hiểu tham quan, bảo vệ môi trường,… trong trường và ở địa phương. Qua đó làm cầu nối giữa lý luận với thực tiễn, nhà trường với gia đình và xã hội.

3. Kết luận

Thời kỳ miền Bắc quá độ lên CNXH (1954 - 1975), giáo dục XHCN nói chung, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh trong các trường phổ thông nói riêng, có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Thời kỳ này, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm lãnh đạo, không ngừng phát triển chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo sắc bén, kịp thời thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức XHCN, hướng vào phục vụ nhiệm vụ cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho thanh, thiếu niên trong các trường phổ thông ở miền Bắc đạt thành tựu to lớn, xây dựng được một thế hệ vàng son, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng to lớn của Đảng và dân tộc ta.

Ý nghĩa lịch sử và hiện thực của giai đoạn này là một mốc son trong truyền thống 80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam (1945 - 2025), để lại những bài học kinh nghiệm quý báu có thể vận dụng trong nhiệm vụ tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.

----------------------

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW 04/11/2013 của BCHTW lần thứ 8, khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Văn kiện Đảng (2004), Toàn tập, tập 37, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.